HưỚng dẫn học và LÀm bài làm văn ngữ VĂN 6 TẬP 1



tải về 1.12 Mb.
trang8/15
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.12 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   15

Bài 8. CÂY BÚT THẦN


I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

Cây bút thần là truyện cổ tích về nhân vật có tài năng kì lạ. Cây bút thần với những khả năng, sức mạnh kì diệu của nó là chi tiết tưởng tượng, thần kì đặc sắc. Truyện thể hiện quan niệm của nhân dân về công lí xã hội, về mục đích của tài năng nghệ thuật, đồng thời thể hiện ước mơ về những khả năng kì diệu của con người.



II. HƯỚNG DẪN ĐỌC - HlỂU VĂN BẢN

Câu 1. Mã Lương thuộc một nhóm kiểu nhân vật rất phổ biến trong truyện cổ tích nào? Hãy kể tên một số nhân rật tương tự trong truyện cổ tích mà em biết.

+ Mã Lương thuộc kiểu nhân vật có tài năng kì lạ, phổ biến trong các truyện cổ tích Việt Nam, và thế giới.

+ Một số nhân vật tương tự: Thạch Sanh, Em bé thông minh. Thạch Sanh thể hiện tài năng dũng sĩ hùng mạnh.

. Em bé thông minh thể hiện trí khôn dân gian.

. Mã Lương thể hiện tài năng nghệ thuật.

Câu 2. Những điều gì đã giúp cho Mã Lương vẽ giỏi như vậy? Những điều đó có quan hệ với nhau ra sao?

Những yếu tố giúp cho Mã Lương trở thành một nghệ sĩ tài năng: + Lòng say mê, và sự thông minh bẩm sinh ngay từ nhỏ.

+ Sự khổ công tập luyện không ngừng nghỉ trong mọi thời gian và hoàn cảnh:

Chăm chỉ tập luyện hàng ngày khi kiếm củi, khi cắt cỏ, khi ở nhà...

Chăm chỉ tập luyện mọi nơi: vẽ trên tường, vẽ trên đá, trên mặt đất.

+ Em còn được thần linh giúp đỡ, tặng cho cây bút thần mầu nhiệm, biến tất cả những điều em vẽ trở thành hiện thực.



Câu 3. Mã Lương đã vẽ ra những gì cho những người nghèo khổ và cho những kẻ tham lam? Hãy đánh giá ngòi bút thần của Lê Mã Lương qua những gì mà Lê Mã Lương đã vẽ.

+ Đỏi với những người nghèo khổ:

Mã Lương giúp đỡ cho tất cả mọi người những thứ cần thiết như cây, cuốc, đèn, thùng múc nước...

Những thứ mà Mã Lương vẽ giúp họ là những dụng cụ lao động, phương tiện để làm ăn sinh sống, chứ không phải là những vật chất có sẵn để hưởng thụ => của cải phải do lao động mà có.

Thể hiện tấm lòng nhân hậu, yêu thương những người nghèo khổ của cậu bé.

+ Đối với kẻ tham lam (tên địa chủ và nhà vua):

Mã Lương nhất định không vẽ cho bất cứ thứ gì dù họ bắt giam, bỏ đói, bỏ rét.

Cây bút trong tay Mã Lương đã trở thành vũ khí chiến đấu chống kẻ tham tàn bạo ngược: Vẽ thành cung tên để tiêu diệt tên địa chủ tham lam, vẽ thành biển xanh, nổi sóng để tiêu diệt tên vua độc ác tham tàn bạo ngược.

Thể hiện tinh thần dũng cảm, căm ghét cường quyền và bạo lực của Lê Mã Lương.

+ Đánh giá ngòi bút của Lê Mã Lương:

Người nghệ sĩ chân chính phải luôn đứng về phía nhân dân, không bao giờ dùng ngòi bút của mình để phục vụ cho kẻ ác.

Những thứ mà Mã Lương vẽ là để phục vụ cho sự cần thiết của cuộc sống chứ không phải để thỏa mãn lòng tham của con người

Ngòi bút chì mầu nhiệm khi ở trong tay người lương thiện, khi phục vụ cho những ước mơ chính đáng.

Câu 4. Truyện kể này được xây dựng theo trí tưởng tượng rất phong phú và độc đáo của nhân dân. Theo em chỉ tiết nào trong truyện là lí thú và gợi cảm hơn cả?

+ Câu chuyện vừa chứa đựng yếu tố hiện thực, vừa chứa đựng những yếu tố tưởng tượng thân kì, trong truyện có rất nhiều chi tiết tưởng tượng lí thú, gợi cảm như: Lê Mã Lương vẽ chim, chim tung cánh bay, vẽ cá, cá vẫy đuôi bơi lượn, vẽ lò sưởi để sưởi, vẽ bánh để ăn, Mã Lương vẽ cò, vô ý đánh rơi giọt mực, khiến cò mở mắt xòe cánh bay đi... Nhưng có lẽ hay nhất chi tiết vẽ biển.

+ Chi tiết vẽ biển giết tên vua bạo tàn.

Thể hiện sự đối phó khéo léo của Lê Mã Lương - giả vờ nhận lời vẽ theo yêu cầu của hắn để trừng trị hắn: Ban đầu là vẽ biển khơi trong xanh êm dịu để gợi lên sự thích thú ở hắn —> Sau đó vẽ cá, thuyền —> đến khi tất cả nhà vua, hoàng hậu, hoàng tử các quan đại thần đã lên thuyền —> vẽ sóng —> sóng gió càng lúc càng cuồn cuộn —> như trái núi nhấn chìm chiếc thuyền xuống đáy biển.

Với cây bút thần Mã Lương đã thực hiện niềm ước mơ trừng trị bọn thống trị của nhân dân lao động.

Câu 5. Hãy nêu ý nghĩa của truyện Cây bút thần

Ý nghĩa của truyện Cây bút thần

+ Đề cao sức mạnh và tài năng của nghệ thuật chân chính.

+ Thể hiện ước mơ của nhân dân về những khả năng kì diệu trong cuộc đấu tranh chống lại cái ác.



III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Câu 1. Hãy kể diễn cảm câu chuyện này.

Muốn kể diễn cảm câu chuyện phải chú ý hai vấn đề sau:

+ Phải nắm được thứ tự các tình tiết của câu chuyện.

+ Xác định giọng kể phù hợp cho mỗi đoạn và mỗi nhân vật.

- Tên địa chủ và nhà vua giọng hống hách, kiêu ngạo.

- Giọng của cụ già hiền từ âu yếm.

- Đoạn kể về sự kì diệu của cây bút thể hiện sự hào hứng thích thú.

- Lúc tên địa chủ xuống chuồng ngựa để xem Mã Lương đã bị chết chưa, thấy em đang ngồi bên lò lửa, ăn bánh —> giọng ngạc nhiên, sửng sốt.

- Đoạn Mã Lương trừng trị tên địa chủ và nhà vua giọng hả hê sung sướng.

Câu 2. Nhắc lại định nghĩa truyện cổ tích và kể tên những truyện cổ tích mà em đã học.

+ Định nghĩa truyện cổ tích (xem lại phần kiến thức cơ bản, bài Sọ Dừa).

+ Những truyện cổ tích mà chúng ta đã học: Sọ Dừa, Thạch Sanh, Em bé thông minh, Cây bút thần.

IV. TƯ LIỆU THAM KHẢO

Cây bút thần là truyện cổ tích về nhân vật có tài năng kì lạ. Cây bút thần và bàn tay vẽ của Lê Mã Lương có một khả năng và sức mạnh kì diệu, vừa là chi tiết tưởng tượng thần kì, vừa chứa đựng yếu tố hiện thực. Truyện thể hiện quan điểm của nhân dân về công lí xã hội, về mục đích của tài năng nghệ thuật. Hội họa nói riêng, các bộ môn khác như văn thơ âm nhạc... Phải biết hướng về nhân dân giúp người lương thiện chống kể tham tàn thì nghệ thuật mới có sức mạnh, có khả năng thần kì. Câu chuyện cũng thể hiện ước mơ của nhân dân về những khả năng kì diệu của con người để giúp cho người lương thiện đối phó với bọn bất lương hàng ngày theo dõi hãm hại con người. Truyện về một cây bút lặng lẽ mà cất lên bao lời nhắn gửi thiết tha, không chỉ tới người nghe, người đọc binh thường mà cả tới nhà văn, nhà thơ, các nhạc sĩ... tài danh nữa!



(Theo Vũ Dương Quỹ và Lê Bảo - Bình giảng văn 6)

Truyện cây bút thần thuộc loại truyện cổ tích thần kì, yếu tố thần kì ở đây là cây bút thần, tham, gia như một phần không thể thiếu được trong sự phát triển cốt truyện. Cây bút thần với sức mạnh toàn năng, vừa để giúp đỡ người nghèo, người yếu vừa để chống dỡ, trừng trị những kè tham lam độc ác. Khuynh hướng của truyện cổ tích thần kì không phải nhấn mạnh hiện thực, mà là trình bày ước mơ nguyện vọng và lí tưởng xã hội của nhân dân thông qua sự chiến thắng tất yếu của cái đẹp, cái thiện hoàn hảo.



(Theo Trần Lê Bảo, Giảng văn Cây bút thần)

DANH TỪ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

- Danh từ là những từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm...

- Danh từ có thể kết hợp với từ chỉ số lượng ở phía trước các từ này, ấy, đó... ở phía sau và một số từ ngữ khác để thành cụm danh từ.

- Chức vụ điển hình trong câu của danh từ là chủ ngữ. Khi làm vị ngữ danh từ cần có từ là đứng trước.

- Danh từ tiếng Việt được chia thành hai loại lớn là danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật. Danh từ chỉ đơn nị nêu tên đơn vị dùng để tính đếm, đo lường sự vật. Danh từ chỉ sự vật nêu tên từng Loại hoặc từng cá thể người, vật, hiện tượng, khái niệm...

- Danh từ chỉ đơn vị gồm hai nhóm là:

+ Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên (còn gọi là loại từ).

+ Danh từ chỉ đơn vị quy ước. Cụ thể là:

- Danh từ chỉ đơn vị chính xác.

- Danh từ chỉ đơn vị ước chừng.



II. HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU CÂU HỎI PHẦN BÀI HỌC

1. Đặc điểm danh từ

Vua sai ban cho làng ấy ba thúng gạo nếp với ha con trâu đực ra lệnh phải nuôi làm sao cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con [..J



(Em bé thông minh)

a) Trong cụm danh từ: ba con trâu ấy - thì con trâu là danh từ.

b) Xung quanh cụm danh từ có từ ba chỉ số lượng đứng trước và từ ấy ở phía sau.

c) Các danh từ có trong câu trên: vua, làng, thúng, gạo, nếp,...

d) Đặt câu với các danh từ đã tìm:

+ Vua đã ban thánh chỉ mọi người phải chấp hành.

+ Làng nằm bình yên sau lũy tre xanh.

+ Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết,

e) Danh từ biểu thị người, vật, hiện tượng, khái niệm.

2. Danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật

a) Sự khác nhau về nghĩa của các danh từ in đậm và danh từ đứng sau:

- ba con trâu

- một viên quan

- ba thúng gạo

- sáu tạ thóc

Các danh từ: con, viên, thúng, tạ là những danh từ chỉ đơn vị nói chung. Các danh từ: trâu, quan, gạo, thóc là danh từ chỉ sự vật cụ thể.

b) Ta có thể nói Nhà có ba thúng gạo rất đầy - vì thúng là danh từ chỉ đơn vị ước chừng. Nhưng không thể nói Nhà có sáu tạ thóc rất nặng vì tạ là danh từ chỉ đơn vị chính xác.



III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Câu 1. Liệt kê một số danh từ chỉ sự vật mà em biết. Đặt câu với một trong các danh từ ấy.

+ Liệt kê một số danh từ chỉ sự vật:

sách, vở, áo quần, bút, mực, bàn, ghế, nhà cửa, cầu cống, phố xá, trường học, giường, lược...

+ Đặt câu:

- Chiếc bút này em mới mua hôm qua.

- Bàn ghế thẳng tắp từng hàng ngay ngắn.



Câu 2. Liệt kể các từ chuyên đứng trước danh từ chỉ người, chỉ vật.

+ Từ chuyên đứng trước danh từ chỉ người: ông, bà, vị, cô, thầy, chú, bác, anh, chị, thằng...

+ Từ chuyên đứng trước danh từ chỉ đồ vật: cái, bức, tấm, cục, chiếc, cánh, que.

Câu 3. Liệt kê các danh từ chỉ đơn vị quy ước chính xác và tù chỉ đơn vị quy ước ước chừng.

+ Từ chỉ đơn vị quy ước chính: mét, lít, kilôgam, tấn, tạ, yến, mét vuông, mét khối, hécta...

+ Từ chỉ đơn vị quy ước ước chừng: thúng, đấu, nia, loong (đong gạo), bát, nắm, đàn, bầy, bó...

Câu 4+5. Viết bài chính tả theo sách giảo khoa (nghe - viết). Lập danh sách các từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật trong bài chính tả trên.

+ Các từ chỉ đơn vị trong bài chính tả: que, con, đỉnh, ven, bức

+ Các danh từ chỉ sự vật: củi, cỏ, bút, làng, ngày, đất, núi, chim, đầu, nước, tôm, cá, đá, nhà, đồ đạc, tường, hình.

NGÔI KỂ TRONG VĂN TỰ SỰ

I. KIÊN THỨC CƠ BẢN

- Ngôi kể là vị trí giao tiếp mà người kể sử dụng để kể chuyện.

- Khi gọi các nhân vật bằng tên gọi của chúng, ngươi kể tự giấu mình đi, tức là kể theo ngôi thứ ba, người kể có thể linh hoạt, tự do những gì diễn ra với nhân vật.

- Khi kể tự xưng là “tôi” kể theo ngôi thứ nhất, người kể có thể trực tiếp kể ra những gì mình nghe, mình thấy, mình trải qua, có thể trực tiếp nói ra cảm tưởng, ý nghĩ của mình.

- Để kể chuyện cho linh hoạt, thú vị người kể có thể lựa chọn ngôi thích hợp.

- Người kể xưng tôi trong tác phẩm không nhất thiết là chính tác giả.



II. HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU CÂU HỎI PHẦN BÀI HỌC

1. Ngôi kể và vai trò của ngôi kể trong văn tự sự?

Đọc các đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

a) Đoạn một kể theo ngôi thứ ba vì các nhân vật được gọi bằng tên và người kể không xuất hiện (giấu mình đi).

b) Đoạn hai kể bằng ngôi thứ nhất - Vì người kể xưng là “tôi” típ tiếp kể về mình.

c) Người xưng tôi trong đoạn văn hai là chú Dế Mèn, chứ không phải tác giả Tô Hoài.

d) Trong hai đoạn văn trên ngôi kể thứ ba ở đoạn một là ngôi kể tự do không hạn chế, ngôi kể thứ nhất ở đoạn một bị hạn chế, chỉ được kể những gì mình đã trải qua.

đ) Đổi ngôi kể trong đoạn hai thành ngôi kể thứ ba Bởi Dế Mèn ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên chú chóng lớn lắm. Chẳng bao lâu, Dế Mèn đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Đôi càng của chú mẫm bóng. Những cái vuốt ở chân, ở khoé cứ cứng dần và nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt, chú ta co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. Những ngọn cỏ gẫy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua. Đôi cánh của Dế Mèn, trước kia ngắn hủn hoẳn, bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi. Mỗi khi chú ta vũ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã.

(Lưu ý ta không nhất thiết phải gọi tên nhân vật từ đầu đến cuối mà có thể dùng đại từ thay thế).

e) Ở đoạn thứ nhất chúng ta vẫn có thể đổi thành ngôi kể thứ nhất xưng tôi, nhưng ở đoạn này có ba nhân vật: nhà vua, người cha, và em bé, chỉ được phép đổi một nhân vật, nên chọn nhân vật em bé, nhà vua là hợp lý hơn.

Trẫm và đình thần chịu thằng bé là thông minh lỗi lạc. Nhưng Trẫm vẫn còn muốn thử một lần nữa. Qua hôm sau, khi hai cha con đang ăn cơm ở công quán Trẫm sai sứ mang tới một con chim sẻ, với lệnh bắt họ phải dọn thành ba cỗ thức ăn. Em bé nhờ cha lấy cho mình một cái kim may rồi dưa cho sứ giả của Trẫm và bảo:

- Ông cầm lấy cái này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim.

Từ đó Trẫm mới phục hẳn.



III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Câu 1. Thay đổi ngôi kể trong đoạn văn sau thành ngôi thứ ba và nhận xét ngôi kể đem lại điều gì mới cho đoạn văn

Nhân vật tôi trong đoạn là Dế Mèn, một con vật, ta có thể thay bằng: nó, chú ta, cậu ta + Thay đổi ngôi

Ngày nào củng vậy, suốt buổi tối chú ta chui vào trong hang, hì hục đào đất, để khoét một cái ổ lớn làm thành một cái giường ngủ sang trọng. Rồi cũng lo xa như các cụ già trong họ hàng dế, chú đào hang sâu sang hai ngả làm những con đường tắt, những cửa sau, những ngách thượng, phòng khi gặp việc nguy hiểm có thể thoát thân ra lối khác được.

(Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí)

+ Nhận xét:

Việc thay đổi ngôi từ “tôi”, sang “chú ta” làm cho đoạn văn có màu sắc khách quan hơn, vì người kể tự giấu mình đi.

Câu 2. Thay đổi ngôi kể trong đoạn văn sau thành ngôi thứ nhất và nhận xét ngôi kể đem lại điều gì khác cho đoạn văn.

+ Ta thay đổi tên nhân vật Thanh —> chuyển sang nhân vật “tôi”. Một cái bóng lẹ làng từ trong vụt ra, rơi xuống mặt bàn. Tôi định thần nhìn rõ: con mèo già của bà tôi, con mèo già vẫn chơi đùa với tôi ngày trước. Con vật nép chân vào mình khe khẽ vẫy cái đuôi, rồi hai mắt ngọc thạch xanh giương lên nhìn người. Tôi mỉm cười lại gần vuốt ve con mèo.



(Thạch Lam, Dưới bóng hoàng lan)

+ Nhận xét:

- Thay đổi ngôi kể từ Thanh sang tôi có tác dụng tô đậm thêm sắc thái tĩnh lặng của cảnh vật trong đoạn văn.

- Làm cho đoạn văn mang tính chất tự thuật.



Câu 3. Truyện “Cây bút thần” kể theo ngôi nào? Vì sao vậy?

+ Truyện “Cây bút thần” được kể theo ngôi thứ ba.

+ Vì kể theo ngôi thứ ba, người kể có thể kể chuyện một cách linh hoạt tự do, những gì diễn ra với nhân vật, và làm cho câu chuyện có tính khách quan.

Câu 4. Vì sao trong các truyện cổ tích, truyền thuyết người ta hay kể chuyện theo ngôi thứ ba, mà không thể theo ngôi thứ nhất

+ Kể theo ngôi tnứ ba người ke có thể linh hoạt, tự do kể ra những gì diễn ra với nhân vật.

+ Những chuyện này đã xảy ra từ rất lâu rồi, người kể không được chứng kiến các sự việc chỉ nghe người khác truyền lại.

Câu 5. Khi viết thư em sử dụng ngôi kể nào?

Viết thư là để giãi bày tình cảm, để trao đổi những câu chuyện riêng tư của chính bản thân mình. Do vậy ngôi kể đương nhiên phải là ngôi thứ nhất.



Câu 6. Dùng ngôi thứ nhất kể về cảm xúc của em khi nhận được quà tặng của người thân.

Tôi còn nhớ như in đó là một buổi chiều lần sinh nhật thứ 10 của tôi. Tôi vừa đi học về, mẹ ra cửa đón cười thật tươi và tặng tôi một cái hôn rõ to vào má: “Chúc mừng sinh nhật con trai của mẹ” kèm theo là một gói quà. Tôi hồi hộp mở ra, đó là quyển truyện Hanry Porter đã từ lâu tôi ao ước. Tôi cảm ơn mẹ và từ từ mở quyển sách ra, trang đầu tiên là một dòng chữ viết tay rất đẹp và vô cùng thân quen: “Tặng con trai yêu quý của mẹ, mong con ngoan, học giỏi”. Tối hôm đó và cả tuần tiếp theo, tôi nghiền miết quyển sách; Tôi ước mơ sau này mình cũng sẽ trở thành nhà văn viết được những tác phẩm hay như thế.





1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   15


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương