HưỚng dẫn học và LÀm bài làm văn ngữ VĂN 6 TẬP 1



tải về 1.12 Mb.
trang4/15
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.12 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   15

Bài 4. SỰ TÍCH HỒ GƯƠM


I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

- Bằng những chi tiết tưởng tượng kì ảo, giàu ý nghĩa (như Rùa vàng, gươm thần) truyện Sự tích Hồ Gươm ca ngợi tính chất chính nghĩa, tính chất nhân dân và chiến thắng vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược do Lê Lợi lãnh đạo ở đầu thế kỉ XV.

- Truyện cũng nhằm giải thích tên gọi hồ Hoàn Kiếm, đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc.

II. HƯỚNG DẪN ĐỌC - HlỂU VĂN BẢN

Câu 1. Vì sao đức Long Quân lại cho nghĩa quân Lam Sơn mượn gươm thần.

+ Lý do đức Long Quân cho nghĩa quân Lam Sơn mượn gươm thần:

- Vì giặc Minh quá tàn ác, sát hại dân lành làm bao điều bạo ngược.

- Vì lòng dân căm giận bọn giặc đến tận xương tủy.

- Vì lực lượng nghĩa quân trong những ngày đầu chưa mạnh.

+ Ý nghĩa

- Thể hiện sự đồng tình và phù hộ của thần linh của tổ tiên đối với cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc.

- Làm tăng thêm sự kì ảo và hấp dẫn của câu chuyện.



Câu 2. Lê Lợi đã nhận được gươm thần như thế nào? Cách Long Quân cho nghĩa quân Lam Sơn và Lê Lợi mượn gươm có ý nghĩa gì?

+ Việc nhận gươm của Lê Lợi

Lê Lợi không được Long Quân trực tiếp trao gươm, mỗi bộ phận của thanh gươm ở một nơi. Người đánh cá nhặt được lưỡi gươm khi chài lưới - Lê Lợi nhận được chuôi gươm ở trên rừng, đem khớp lại với nhau.

+ Ý nghĩa

- Sức mạnh của gươm thần thực chất là sức mạnh của tinh thần đoàn kết của nhân dân ở khắp mọi miền Tổ quốc trên dưới một lòng.

- Thể hiện nguyện vọng, ý chí chống giặc của dân tộc.

- Hai chữ “Thuận Thiên” khắc trên gươm thể hiện tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến hợp trời, hợp lòng người.

Câu 3. Hãy chỉ ra sức mạnh của gươm thần đối với nghĩa quân Lam Sơn.

+ Từ khi có gươm thần nhuệ khí của quân ta ngày càng tăng lên cho quân Minh bạt vía.

+ Từ chỗ bị động chuyến sang chủ động tấn công quân giặc làm cho quân Minh phải rút quân về nước.

Câu 4: Khi nào Long Quân cho đòi gươm? Cảnh đòi gươm và trả gươm đã diễn ra như thế nào?

+ Long Quân cho đòi gươm khi: Quân ta đã đánh đuổi quân Minh về nước được một năm, đất nước đã thanh bình. Lê Lợi đã lên làm vua.

+ Cảnh đòi gươm được diễn ra: Khi nhà vua đang đi chơi trên hồ Tả Vọng, có con rùa lớn nhô lên mặt nước, lưỡi gươm thần đeo bên người nhà vua động đậy, Rùa vàng tiến về phía thuyền vua: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân”.

Vua nâng gươm hướng về phía Rùa vàng, Rùa vàng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước.

+ Ý nghĩa:

- Cảnh trao gươm là một sự sang trang mới của lịch sử dân tộc.

- Khi hòa bình chúng ta không cần đến gươm giáo, dân tộc ta chỉ cần gươm khi chống lại kẻ xâm lăng. Nhắc nhở Lê Lợi thời bình phải chăn dân trị nước.

- Cảnh đòi gươm diễn ra trên hồ làm cho câu chuyện càng trở nên kì ảo lung linh.



Câu 5. Ý nghĩa của truyện Sự tích Hồ Gươm

Ý nghĩa của truyện được thể hiện qua những ý sau:

+ Ngợi ca cuộc kháng chiến chống giặc quân Minh của dân tộc, đó là cuộc kháng chiến chính nghĩa được lòng trời, hợp lòng người.

+ Đề cao suy tôn vai trò của Lê Lợi.

+ Giải thích nguồn gốc tên gọi Hồ Gươm (Hồ Hoàn Kiếm).

Câu 6. Em biết còn truyền thuyết nào của nước ta cũng có hình ảnh Rùa vàng? Theo em, hình tượng Rùa vàng trong truyền thuyết Việt Nam tượng trưng cho ai? Và cho cái gì?

+ Truyền thuyết của nước ta có hình ảnh Rùa vàng là: “An Dương Vương” (Mị Châu - Trọng Thủy).

+ Hình ảnh Rùa vàng trong các truyền thuyết của Việt Nam tượng trưng cho các vị thần linh thiêng - Trong truyện này là sứ giả của Long Quân, đồng thời tượng trưng cho khí thiêng của sông núi, cho tình cảm trí tuệ và khát vọng của nhân dân.

III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Câu 1. Đọc thêm phần “Ấn kiếm Tây Sơn”

+ Đọc “Ấn kiếm Tây Sơn” có chi tiết hai ông xà trao thanh bảo kiếm và Ấn ngọc cho Nguyễn Huệ - ở núi Tây Sơn Hạ.

+ Như vậy đây là mô tip quen thuộc: mô tip trao gươm thần giúp người anh hùng cứu dân cứu nước.

Câu 2. Vì sao tác giả dân gian không để Lê Lợi trực tiếp nhận cả chuôi gươm và lưỡi gươm cùng một lúc?

+ Sự giúp đỡ không hề dễ dàng, giản đơn, mà phải trải qua nhiều thử thách mới có được.

+ Đòi hỏi con người phải có đủ thông minh, tài trí, có quyết tâm và nghị lực cao.

Câu 3. Lê Lợi nhận gươm ở Thanh Hóa nhưng lại trả gươm ở Hồ Gươm - Thăng Long. Nếu Lê Lợi trả gươm ở Thanh Hóa thì ý nghĩa của truyền thuyết sẽ khác đi như thế nào?

+ Việc Lê Lợi ở kinh đô Thăng Long là biểu tượng thành công của cuộc khởi nghĩa, đã đuổi xong giặc cướp nước. Thanh gươm công lí đã làm xong nhiệm vụ trừ bạo.

+ Thanh Hóa là nơi dấy binh khởi nghĩa, nhưng Thăng Long là kinh đô của đất nước. Trả gươm ở Thăng Long càng làm tăng thêm sự thiêng liêng quý giá của gươm thần, và tăng thêm ý nghĩa lịch sử của Hồ Gươm - của Thăng Long.

+ Nếu Lê Lợi trả gươm ở Thanh Hóa thì những ý nghĩa sâu sắc của truyền thuyết sẽ bị mất đi.



Câu 4. Hãy nhắc lại định nghĩa truyền thuyết và kể tên những truyền thuyết đã học.

+ Định nghĩa truyền thuyết

Truyền thuyết: Là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, có yếu tố tưởng tượng kì ảo. Truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể.

+ Những truyền thuyết đã học: Con Rồng, cháu Tiên; Bánh chưng, bánh giầy; Thánh Gióng; Sơn Tinh, Thủy Tinh; Sự tích Hồ Gươm.



IV. TƯ LIỆU THAM KHẢO

Đây là loại truyền thuyết vừa giải thích nguồn gốc một địa danh, vừa tôn vinh những danh nhân, những anh hùng nổi bật trong lịch sử có công với dân với nước... Tuy tác phẩm mang cốt lõi lịch sử nổi bật, nhưng vẫn có những chi tiết kì ảo, tưởng tượng đặc sắc toát ra nhiều ý nghĩa... Truyện giải thích tên hồ Hoàn Kiếm đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc ta.



(Theo Vũ Dương Quỹ - Lê Bảo - SĐD).

CHỦ ĐỀ VÀ DÀN BÀI CỦA BÀI VĂN TỰ SỰ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

- Chủ đề là vấn đề chủ yếu mà mọi người muốn đặt ra trong văn bản.

- Dàn bài bài văn tự sự thường gồm có ba phần:

- Phần Mở bài giới thiệu chung về nhân vật và sự việc;

- Phần Thân bài kể diễn biến của sự việc;

- Phần Kết bài kết cục của sự việc.



II. HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU CÂU HỎI PHẦN BÀI HỌC

Tìm hiểu chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự.

Đọc bài văn về danh y Tuệ Tĩnh

1) Phẩm chất của Tuệ Tĩnh?

Việc Tuệ Tĩnh ưu tiên chữa trị trước cho chú bé con nhà nông bị gẫy đùi đã thể hiện nhân đức của người thầy thuốc khi chữa bệnh:

- Coi trọng người bệnh, không phân biệt, sang - hèn - giàu nghèo.

- Bệnh nặng chữa trước, bệnh nhẹ chữa sau => lấy sự an nguy của bệnh nhân làm tiêu chuẩn hàng đầu.

- Không tham tiền bạc, không sợ quyền uy.

2) Chủ đề bài văn

+ Chủ đề của bài văn là ca ngợi lòng thương người của Tuệ Tĩnh.

+ Chủ đề đó được thể hiện trực tiếp qua những câu văn sau:

- Anh về nói với cụ rằng ta sẵn sàng đi, nhưng bây giờ thì phải chữa cho chú bé này trước, vì chú nguy hơn.

- Không! Ta phải chữa gấp cho chú bé này, để chậm tất có hại.

- Bắt tay ngay vào chữa trị... qua gần trọn buổi chú bé nhà nông đã được bó nẹp.

- Con người ta cứu giúp nhau lúc hoạn nạn, sao ông bà lại nói chuyện ơn huệ.

- Trời sập tối chợt nhớ tới nhà quý tộc, ông vội vã ra đi không kịp nghỉ ngơi.



3) Nhan đề tác phẩm

+ Cho ba tựa đề:

- Tuệ Tĩnh và hai người bệnh.

- Tấm lòng thương người của thầy Tuệ Tĩnh.

- Y đức của Tuệ Tĩnh.

+ Cả ba nhan đề, nhan đề nào cũng thể hiện chủ đề của tác phẩm. Nhưng xét về mặt khái quát, thì có lẽ nhan đề thứ ba là hợp lí nhất: Y đức của Tuệ Tĩnh.

+ Chúng ta cũng có thể đặt những nhan đề khác cho bài văn như:

- Lương tâm của người thầy thuốc.

- Thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng.

4) Yêu cầu của các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài:

+ Mở bài: Giới thiệu về danh y Tuệ Tĩnh và sự việc cứu giúp người bệnh của ông.

+ Thân bài: Kể về việc Tuệ Tĩnh cứu giúp chú bé con nhà nông vì bệnh tình nguy kịch mà từ chối chưa đến thăm bệnh cho nhà quý tộc.

+ Kết bài: Kết cục sự việc - Tuệ Tĩnh đi thăm bệnh cho nhà quý tộc khi trời đã tối mà không kịp nghỉ ngơi.



III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Câu 1. Đọc truyện “Phần Thưởng” và trả lời câu hỏi

a) Chủ đề của truyện này nhằm biểu dương và chế giễu điều gì? Sự việc nào tập trung cho chủ đề?

+ Chủ đề câu chuyện nhằm biểu dương sự thông minh, trung thực, thẳng thắn của người nông dân.

+ Chế giễu thói tham lam chuyên ăn hối lộ của bọn quan lại.

Sự việc tập trung biểu hiện cho chủ đề:

Xin bệ hạ hãy thưởng cho hạ thần năm mươi roi, hạ thần không muốn gì hơn cả. Chỉ có điều hạ thần đã đồng ý chia cho viên quan đã đưa hạ thần vào đây một nửa số phần thưởng của bệ hạ. Vậy xin bệ hạ hãy thưởng cho hạ thần mỗi người hai mươi lăm roi.

b) Hãy chỉ ra ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài

+ Phần Mở bài: Câu đầu tiên của truyện “Một người... dâng tiến nhà vua”.

+ Phần Thân bài: Từ “Ông ta tìm... hai mươi lăm roi”.

+ Phần Kết bài: “Nhà vua bật cười... một nghìn rúp”.

c) Truyện này với truyện về Tuệ Tĩnh có gì giống nhau về bố cục và khác nhau về chủ đề.

+ Bố cục: giống nhau về diễn biến của sự việc để đi đến kết cục.

+ Khác nhau:

- Truyện Tuệ Tĩnh: ca ngợi lòng thương người.

- Truyện Phần Thưởng nói về sự thưởng phạt công minh.

d) Sự việc trong bài thú vị ở chỗ nào?

+ Sự việc ở trong bài thú vị ở chỗ người nông dân xin nhận phần thưởng của vua ban là năm mươi roi, chia đều cho hai người.

+ Ý nghĩa:

- Làm cho câu chuyện trở nên kịch tính, hấp dẫn.

- Thể hiện sự thông minh, tài trí của người nông dân: Vạch mặt sự tham lam của viên cận thần kia một cách rất khéo léo.



Câu 2. Đọc các bài “Sơn Tinh, Thủy Tinh” và “Sự tích Hồ Gươm”, xem cách mở bài đã giới thiệu rõ câu chuyện sắp xảy ra chưa và kết thúc câu chuyện như thế nào?

+ Mở bài


- Truyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh”

Hùng Vương thứ mười tám có người con gái tên là Mị Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu. Vua cha yêu thương nàng hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng.

- Truyện Sự tích Hồ Gươm

Vào thời giặc Minh đặt ách đô hộ ở nước Nam, chúng coi dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược, thiên hạ căm giận chúng đến tận xương tủy. Bấy giờ ở vùng Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng. Nhưng trong buổi đầu thế lực còn non yếu nhiều lần nghĩa quân bị thua. Thấy vậy đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để họ giết giặc.

Như vậy cả hai mở bài đều giới thiệu chung về nhân vật và sự việc sắp xảy ra.

+ Kết bài

- Truyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh”

Từ đó oán nặng, thù sâu, hàng năm Thủy Tinh làm mưa gió bão lụt dâng nước đánh Sơn Tinh. Nhưng năm nào cũng vậy, Thần nước đánh mỏi mệt, chán chê vẫn không thắng nổi Thần núi để cướp Mị Nương, đành rút quân về.

- Truyện “Sự tích Hồ Gươm”.

Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là Hồ Gươm hay Hồ Hoàn Kiếm.

=> Kết bài của hai câu chuyện đều kể về kết cục của sự việc: lí giải về một hiện tượng trong đời sống.

TÌM HIỂU ĐỀ VÀ CÁCH LÀM BÀI VĂN TỰ SỰ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

- Khi tìm hiểu đề văn tự sự thì phải tìm hiểu kĩ lời văn của đề, để nắm vững yêu cầu của đề bài.

- Lập ý là xác định nội dung sẽ viết theo yêu cầu của đề, cụ thể là xác định: nhân vật, sự việc, diễn biến, kết quả và ý nghĩa của câu chuyện.

- Lập dàn ý là sắp xếp việc gì kể trước, việc gì kể sau để người đọc theo dõi được câu chuyện và hiểu được ý định của người viết.

- Cuối cùng phải viết thành văn theo bố cục ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.

II. HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU CÂU HỎI PHẦN BÀI HỌC

1. Đề văn tự sự


Thứ tự

Đề văn

Cách dùng từ

Từ trọng tâm

Đặc điểm của đề

1

Kể một câu chuyện em thích nhất bằng lời văn của em

Có từ kể

Chuyện em thích

Nghiêng về tường thuật

2

Kể chuyện về người bạn tốt

Có từ kể

Người bạn tốt

Nghiêng về người

3

Kỷ niệm ngày thơ ấu

Không có từ kể

Ngày thơ ấu

Nghiêng về tường thuật sự việc

4

Ngày sinh nhật của em

Không có từ kể

Sinh nhật

Nghiêng về tường thuật

5

Quê em đổi mới

Không có từ kể

Quê đổi mới

Nghiêng về kể việc

6

Em đã lớn rồi

Không có từ kể

Đã lớn

Nghiêng về kể người (cảm nghĩ)

2. Cách làm bài văn tự sự

+ Muốn làm một bài văn tự sự trước hết phải lập dàn bài.

+ Các bước lập dàn bài phải tiến hành như sau:

a) Tìm hiểu đề.

b) Lập ý.

c) Lập dàn ý.



VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 1

MỘT SỐ BÀI VĂN THAM KHẢO

Đề 1: Đóng vai Sơn Tinh kể lại câu chuyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh”.

Chào các cô cậu học trò lớp 6! Các cô cậu có biết ta là ai không? Ta là Sơn Tinh thần núi Tản Viên đây! Còn bên cạnh ta! Các cô cậu hãy ngắm nhìn nàng thật đẹp phải không? Nàng chính là Mị Nương con gái của vua Hùng thứ 18, nàng không chỉ đẹp người mà còn rất đẹp nết. Để cưới được nàng ta phải trải qua trận giao tranh dữ dội ròng rã mấy tháng trời. Các cô cậu có muốn nghe về cuộc giao tranh ấy không? Hãy lặng im ta kể cho nghe nhé.

Lúc bấy giờ ta đang ở núi Tản Viên, nghe tin vua Hùng kén rể, ta lập tức đến ngay. Thế nhưng cùng đến một lúc với ta còn có Thủy Tinh người ở miền biển tài năng cũng không kém. Nếu ta có tài vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy đồi thì chàng lại có tài gọi gió, gió đến, hô mưa, mưa về. Vua Hùng ưng ý cả ta và Thủy Tinh nhưng con gái yêu của nhà vua thì chỉ có một. Vua không biết gả cho ai bèn mời bộ lạc vào bàn bạc, xong nhà vua phán:

- Sáng mai ai đem sính lễ đến trước sẽ được lấy công chúa.

Ta và Thủy Tinh cùng đồng thanh tâu:

- Bẩm đức vua, sính lễ cần sắm những gì? Vua bảo:

- Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi.

Nghe xong ta mừng quá bởi sính lễ toàn là những sản vật ở núi rừng, ta không đến nỗi khó kiếm. Sáng hôm sau mới tinh mơ ta đã có mặt. Vua Hùng đồng ý cho ta rước nàng Mị Nương xinh đẹp về núi Tản. Kiệu hoa mới được nửa đường, bỗng đâu dông bão, mưa gió ở đâu ầm ầm kéo đến. Quay đầu nhìn lại ta thấy Thủy Tinh đang đùng đùng nổi giận đem quân đuổi theo đòi cướp nàng Mị Nương của ta. Khắp nơi rung chuyển, nước dâng lên cuồn cuộn ngập cả ruộng đồng, nhà cửa, cả thành Phong Châu.

Ta không hề nao núng, hóa phép bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi ngăn chặn dông lũ. Nước càng dâng cao bao nhiêu, đồi núi lại cao lên bấy nhiêu, cứ thế ta với Thủy Tinh đánh nhau ròng rã suốt mấy tháng trời. Cuối cùng Thủy Tinh kiệt sức đành phải rút quân về. Ta và Mị Nương được sống hạnh phúc bên nhau cho đến bây giờ.

Thế nhưng, vẫn chưa hết đâu nhé. Thủy Tinh vẫn không quên nỗi đau, hàng năm lại dâng nước lên để đánh ta, và năm nào Thủy Tinh cũng bại trận. Các cô cậu chú ý mỗi lần mưa gió đùng đùng là ta và Thủy Tinh lại đang giao chiến với nhau đấy.



Đề 2: Đóng vai Lạc Long Quân kể lại câu chuyện “Con Rồng, cháu Tiên”.

Các con yêu quý của ta, bấy lâu nay ta bận quá không lên thăm các con được. Các con còn nhớ ta không? Còn nhớ tổ tiên nguồn gõc của mình không đấy? Thôi để ta kể cho các con nghe một lần nữa, và hãy nhớ cho thật kĩ đừng bao giờ quên nữa nhé.

Tổ tiên của chúng ta vốn ở miền đất Lạc Việt, thuộc nòi rồng. Ta là con trai của thần Long Nữ vì vậy ta có rất nhiều phép lạ và một sức khỏe vô địch. Lúc bấy giờ có rất nhiều bọn yêu quái và bọn Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh làm hại dân lành, ta đã tiêu trừ bọn chúng giúp dân lành, và dạy cho họ cách trồng trọt chăn nuôi. Nhưng ta vẫn thích sống ở thủy cung hơn là ở trên cạn.

Ta gặp Mẹ Âu Cơ của các con trong một trường hợp rất đặc biệt. Lúc mẹ đến thăm vùng đất Lạc vì nghe tiếng vùng này có nhiều hoa thơm cỏ lạ. Mẹ con vốn là người vùng núi cao ở phương Bắc thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Ta đã bị mẹ con chinh phục ngay trong buổi đầu gặp gỡ ấy, rồi thành vợ thành chồng sống ở cung điện Long Trang.

Các con được sinh ra không phải như bình thường mà trong một cái bọc gồm có trăm trứng. Rồi trăm trứng nở thành trăm người con, đứa nào cũng hồng hào, khôi ngô, tuấn tú và khỏe mạnh như ta. Ta vô cùng sung sướng mãn nguyện ngắm nhìn và sống cùng các con và Âu Cơ xinh đẹp của ta.

Thế nhưng các con biết rồi đấy, ta vốn quen ở nước không thể sống mãi ở trên cạn, cho nên ta phải đành tạm biệt Âu Cơ và các con trở về thủy cung để lại mẹ các con sống trong buồn tủi thương nhớ, chờ mong. Mẹ các con đã gọi ta lên mà than thở trách móc:

- Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi các con.

Thật ra không phải như vậy. Ta và mẹ các con vốn khác về nòi giống. Kẻ ở núi người ở biển, tính tình tập quán cũng khác nhau cho nên không thể ăn ở cùng nhau lâu dài. Vì vậy ta quyết dịnh đưa năm mươi con xuống biển làm ăn sinh sống, còn mẹ các con đưa năm mươi con lên núi chia nhau cai quản các phương. Khi có việc thì giúp đỡ lẫn nhau, không bao giờ quên lời hẹn.

Anh cả của các con theo mẹ được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, có đầy đủ bá quan văn võ hùng mạnh và quy định luật lệ cha chết thì truyền ngôi cho con đến mãi về sau.

Các con, nghe rõ lời ta kể chưa. Như vậy tất cả các con đều là anh em một nhà đấy nhé. Đều là dòng dõi Rồng, Tiên cao quý. Các con phải biết sống xứng đáng, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau các con nhé. Ta đi đây. Hẹn năm trăm năm sau ta sẽ trở lại thăm các con.



Đề 3. Đóng vai Lang Liêu kể lại truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy

Đố các bạn biết ta là ai?

Ta là Lang Liêu đây, con trai của Hùng Vương. Hẳn các bạn còn nhớ ta và chiếc bánh chưng, bánh giầy kì diệu phải không nào? Các bạn có biết vì sao ta lại làm ra được hai loại bánh đó không? Đó là cả một câu chuyện dài.

Vua cha ta sau khi đã dẹp yên giặc giã, nhân dân đã được ấm no. Thấy mình tuổi cao sức yếu ông muốn truyền ngôi lại cho con, nhưng ông có tới hai mươi người con trai ông không biết nên truyền ngôi cho ai. Và vua cha đã nghĩ ra một phương cách lựa chọn vô cùng sáng suốt. Nhân lễ Tiên Vương ai làm vừa ý vua cha sẽ truyền ngôi cho, mà không phân biệt con trưởng hay con thứ.

Ta vừa mừng vừa lo trước sự tuyên bố của vua cha bởi vì các Lang ai cũng muốn ngôi báu về mình, họ thi nhau làm cỗ thật hậu, thật ngon để đem lễ Tiên Vương. Còn ta là con thứ mười tám của vua cha, mẹ ta trước đây bị vua cha ghẻ lạnh sinh buồn mất sớm. Từ nhỏ ta đã phải ở riêng không biết gì nhiều sự sang trọng trong cung nội, chỉ chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, trồng khoai, biết lấy gì làm cỗ bây giờ. Ta băn khoăn, thao thức mãi không yên.

Một đêm ta nằm mộng thấy có một vị thần đến bảo:

- Trong trời đất không gì quý bằng hạt gạo, chỉ có gạo mới nuôi sống con người và ăn không bao giờ chán. Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên Vương.

Tỉnh dậy! Ta mừng quá, ngồi ngẫm nghĩ lời vị thần mách bảo. Càng nghĩ càng thấy đúng quá, chí lí quá. Ta chọn gạo nếp trắng tinh thơm lừng - lấy đậu xanh thịt lợn làm nhân - dùng lá dong gói lại thành hình vuông nấu nhừ một ngày một đêm - làm thành loại bánh - nhưng ta phân vân chưa biết đặt tên cho loại bánh đó là gì. Để đổi vị đổi kiểu cũng tên nguyên liệu đó ta giã nhuyễn nặn thành hình tròn - Và loại bánh này ta cũng chưa biết đặt tên là gì?

Đến ngày lễ Tiên Vương ta mang bánh tới hồi hộp chờ đợi, bởi vì các lang, lang nào cũng mang đến bao nhiêu sơn hào hải vị, nem công chả phượng, còn mâm cỗ của ta thì lại rất giản dị. Thế nhưng các bạn biết không, mâm cỗ của ta lại được vua cha ưng ý nhất. Và được vua chọn đem tế Trời, Đất, cùng Tiên Vương.

Tất cả mọi người và các quan cận thần ai cũng tấm tắc khen bánh ngon. Bánh của ta còn được vua cha đặt cho cái tên rất ý nghĩa. Vua cha lý giải:

- Bánh hình tròn là tượng Trời đặt tên là bánh giầy. Bánh hình vuông là tượng Đất đặt tên là bánh chưng.

Ta được vua cha truyền ngôi với ý nguyện có sự kế thừa xứng đáng. Ghi nhớ lời dạy bảo của vị thần và tâm nguyện của vua cha, ta đã chăm lo phát triển nghề trồng trọt và chăn nuôi dưới triều đại của mình, để cho muôn dân được no ấm.

Các bạn nhỏ, và mọi người đừng quên làm bánh chưng, bánh giầy vào mỗi dịp tết đến xuân về đấy nhé. Hãy biết quý trọng và nâng niu hạt gạo làm ra, bởi đây là hạt ngọc của đất trời.



1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   15


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương