Hôm nay xin góp vui với các bạn về hai chuyện



tải về 187.41 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích187.41 Kb.

Hôm nay xin góp vui với các bạn về hai chuyện:
1. Câu chuyện ông ăn gạo lứt muối mè chết năm 60 tuổi, bà không chịu ăn thọ đến 95 tuổi. Đây là email nhận được từ một bằng hữu bên Tây
2. Ăn uống có khi đưa tới bịnh lú lẫn (các bạn có quan tâm tới con cháu còn nhỏ thì nên đọc. Riêng chúng ta, bạn già, lú lẫn là bạn đường, đâu cần biết làm chi)
HCD (28-Jul-2012)

1. Câu chuyện gạo lứt muối mè: Đề cao và coi rẻ không đúng.


Gạo lứt muối mè, niềm tin tai hại (hay là đưa ra lý thuyết sai có khi làm thì hư cả thế hệ, công hay tội, làm thiện hay gây quả xấu).
Bây giờ mời quí bạn sang chuyện nói bướng thứ ba, nói bướng về tính nên thuốc và đề cao gạo lứt. Không phải tôi chê gạo lứt đâu, như mà tôi không thích người ta phụ ơn gạo trắng. Từ nhỏ tới lớn những vị nói bướng nầy được cha mẹ cho ăn gạo gì, ông bà tổ tiên chúng ta ăn gạo gì. Giờ đây học làm sang coi gạo trắng như là rác rến. Ngày nào đó các bạn thiếu ăn thì chắc không còn coi nó là đồ bỏ nữa. Những vị đề cao gạo lứt lên mây xanh bèn cương ẩu số lượng vitamine, mineral trong gạo lứt, làm cho các bạn tay ngang thấy nó nên thuốc vô cùng.

Đây là email từ một vị bằng hữu:

(-trích-)


From: lmh
Date: July 27, 2012 8:08:19 AM PDT
To: HCD
Subject: Gao lut muoi me
Cac ban nao muon len thien dan som thi an gao lut muoi me nhe.
Luc con o VN, toi co nguoi bac ho, khong biet nghe loi ai, an gao lut muoi me moi ngay, gia dinh khuyen bao the nao cung khong duoc. Khong biet khoe manh, tri ba benh the nao ma Bac chua 60 da ngum theo ong theo ba. Con Bac gai khong chiu an, van an binh thuong va khoe manh tho den 95 tuoi. Day la chuyen co that trong gia dinh toi.
Cac ban tu hieu cho cuoc song cua minh.
Kinh chao,
LMH
(-hết trích-)

Cám ơn chị LMH cho biết chuyện nầy. Nhân tiện tôi lấy tài liệu về nutrition facts của gạo lứt và muối mè để các bạn xem chơi như là một tham khảo.
Đây là nutrition facts chánh của mè hột.

Trong đây có hình, nếu các bạn không thấy hình thì nên dọc attachment.

Mỗi bửa cơm nếu ăn 28 grams hạt mè thì sẽ được 26% lượng dầu mỡ cần cho một ngày. Ăn khoảng 120 grams mè (chưa có muối và đường) thì mới đủ. Về Calories thì 28 grams chỉ cung cấp được có 177 Calories thôi. Nhu cầu của một người già không hoạt động ít ra cũng phải là 1100 Calories. Vitamin A và C là hai cái căn bản, không có. Calcium cũng chỉ có 2%, sắt 10%. Như vậy ăn hạt mè không thôi thì quá thiếu chất dinh dưỡng, sẽ cộng với gạo lứt sau.


Dưới đây là bản phân tách chi tiết chất căn bản cơ thể cần tới (các bạn đọc hàng %, nếu là 100% thì đủ như c6áu chất đó cho một ngày theo tiêu chuẩn US FDA).


Trong đây có hình, nếu các bạn không thấy hình thì nên dọc attachment.

Ăn 28 grams mè chỉ cung cấp chừng đó % những chất cần yếu cho cơ thể mỗi ngày theo FDA, nghĩa là quá thiếu ăn (dù cho cộng với cơm để thấy no bụng) dù no bụng nhưng cũng là suy dinh dưỡng. Mỗi ngày ăn 4 lần như vậy cũng thiếu. Chút nữa chúng ta xem thử coi chén cơm gạo lứt bù thêm được bao nhiêu.

Bây giờ chúng ta sang cơm gạo lứt coi thành phần dinh dưỡng chánh yếu của nó ra sao.




Trong đây có hình, nếu các bạn không thấy hình thì nên dọc attachment.

Bên cạnh là nutrition facts của 100 grams cơm gạo lứt, hột vừa, không dài không tròn. Đó là khoảng một chén cơm trung bình. quí bạn thấy % chất cần thiết cho cơ thể trong một ngày quá ít. Cho là mỗi bửa cơn ăn hai chén, ngày ba lần, thì nhân lên chúng ta thấy % như cầu vẫn thiếu. Về Calories thì sẽ là 112 x 6 = 672 Calories. Như cầu cho người già không hoạt động ít ra phải là 1100 Calories. Theo tiêu chuẩn nhà nước Mỹ thì bửa cơn đem phân phát cho người già phải là 1500 Calories.

Hình kế chúng ta xem thành phần những chất căn bản, nếu thiếu thì không được, chứa trong cơm gạo lứt coi ra sao. Các bạn cũng đọc hàng %. Nếu lên tới 100% thì là ăn vừa đúng lời khuyên của FDA để cơ thể hoạt động khỏe mạnh bình thường (cho 1 ngày).


Trong đây có hình, nếu các bạn không thấy hình thì nên dọc attachment.

Các bạn nhìn cột % coi, một chén cơm gạo lứt cung cấp rất ít những chất cần thiết cho cơ thể mỗi ngày. Vitamin thiếu trầm trọng dù cho có cộng thêm muối mè. Về mineral cũng không cân bằng. Do đó ngoài gạo lứt và muối mè ra cần phải ăn thêm thực phẩm khác mới đủ chất cần cho cơ thể trong một ngày.

Kết luận cho chuyện gạo lứt muối mè.
Theo US FDA thì mỗi chất trong bản trên phải ăn sao cho đủ 100%. Do vậy con người mới ăn thức ăn đa dạng.
Đố quí bạn con trâu con bò chỉ ăn rơm và cỏ, nhưng tại sao nó mạnh như vậy? Câu hỏi dễ trả lời mà chưa chắc có bạn trả lời suông phải không.

Câu hỏi tiếp, thế tại sao có người ăn chỉ có cơm gạo lứt và muối mè vẫn khỏe mạnh? Các bạn trả lời đi.

Câu trả lời là gạo lứt + muối mè + lòng tin = placebo.
Placebo chỉ giúp những vị nầy trong một năm hay mươi tháng thôi, sau đó thì cơ thể sẽ kệt quệ dần dần. Lý những chất cần thiết còn tồn trử trong cơ thể đã xài cạn dần mà không mang thêm vào, vì mỗi ngày không ăn đủ 100%. Cơ thể bị suy dinh dưỡng vì thiếu ăn, tuy rằng mỗi ngày ăn vẫn no bụng và có khi mập ra nữa, cơ thể thiếu những chất thiếu yếu (danh sách ở bản trên) thì chắc là không thọ đâu, trừ khi ăn thêm rau quả hay những thực phẩm khác chung với bửa cơm. Chỉ ăn hai món gạo lứt và muối mè thì tôi tin là sẽ đi dần tới đau yếu sau một hai năm, và sẽ tiếp tục yếu dần. Một chuyện thấy rất rõ là cơ thể sẽ thiếu protein, đây là thứ không thể thiếu được dù cho ăn no bụng mỗi bửa cơm. Các bạn cộng protein trong gạo lứt với protein trong muối mè rồi nhân lên thử coi thiếu bao nhiêu.

Đó là cái nhìn thực tế, từ y khoa, từ US FDA. Nhưng với các bạn có cái nhìn hướng khác thì có khi ăn gạo lứt muối mè được trường thọ chăng, tôi không biết. Các bạn cứ làm con thỏ thừ đi, nếu sau ba bốn năm ăn ròng như vậy mà còn viết nỗi thì cho bà con hay để làm theo.

Còn câu tại sao trâu bó chỉ ăn rơm rạ ăn cỏ mà vẫn sống mạnh khỏe các bạn trả lời chưa. Thưa chúng la loài nhai lại. Với loài nhai lại thì vi khuẩn trong bao tử chúng tạo ra (tổng hợp) ra mọi thứ vitamin và protein chúng cần từ cellulose trong rơm trong cỏ kể cả cỏ khô.

Đi xa thêm một chút nghe. Bà con ai cũng tin ăn rau cỏ trái cây thì mạnh khỏe. Thế thì con bò ăn rau sinh ra thịt, thịt bò là thực phẩm được chế từ rau cỏ, đúng không. Vậy thì thay vì các bạn ăn rau ăn trái thì nên ăn thịt bò cho gọn, vì thịt bò là rau cỏ mà. Tôi đùa thôi nghe, không đúng đâu.

Nhắc lại: Cho trẻ sơ sinh bú sữa gạo lứt, bú sữa đậu nành là mang tội sát nhân.

HCD (28-Jul-2012)



========


Cuối cùng là câu “chuyện dầu chá quảy” và thủy ngân trong cá
Tin nầy nhận được qua email, gởi các bạn trong nước đọc chơi, các bạn ở ngoài nước chắc ít khi gặp mặt món nầy. Cả năm ăn một lần chắc chưa đến nỗi lú lẫn, nhưng đọc email vịt Tàu quá nhiều thì chắc là lú lẫn nhanh lắm.

(-trích-)


---------- Forwarded message ----------
From: Duy Lam DANG
Báo động quẩy gây teo não, mất trí nhớ

Để quẩy ngon, một số chủ hãng sản xuất loại đồ ăn này ở Trung Quốc cho vào bột mỳ một thứ chất phụ gia gọi là “You tiao jing” (Do điều tinh - tức Tinh quẩy).
Hai cái quẩy, một cốc sữa đậu nành, đó là bữa sáng của đại đa số công chức, viên chức ở Vũ Hán (Trung Quốc).
Thế nhưng, từ mấy hôm nay thực đơn đó đã bị bỏ do thông tin từ một người trong giới chế biến thực phẩm tiết lộ cho báo chí biết: Để cho quẩy ngon, một số chủ hãng sản xuất loại đồ ăn này đã cho vào bột mỳ một thứ chất phụ gia gọi là “You tiao jing” (Do điều tinh - tức Tinh quẩy).



Phóng viên báo điện tử Sina.com đã tìm hiểu thị trường bán buôn các loại phụ gia thực phẩm, phát hiện bày bán rất chạy.



Tinh quẩy độc hại tại khu chợ Đông Môn ở Vũ Hán, Trung Quốc
Trong vai người tìm mua, phóng viên được chủ một cửa hàng ở chợ bán buôn phụ gia thực phẩm Đông Môn cho biết, giá tinh quẩy rất rẻ, chỉ 12 tệ/kg (gần 40.000 VND). Tinh quẩy pha vào bột sẽ làm chiếc quẩy nở to hơn, trông ngon mắt hơn, giòn và đậm đà hơn.
Bà chủ cho biết, cửa hàng chỉ bán thùng nguyên 100 gói (50kg), không bán lẻ, các chủ hãng sản xuất quẩy thường mua cả thùng về để trộn vào bột mỳ làm quẩy.
Phóng viên đòi xem mẫu thì thấy tinh quẩy được đóng trong các túi nilon, màu trắng, nom rất giống bột mì. Khi phóng viên hỏi loại phụ gia này có hại cho người ăn quẩy hay không, người bán nói: “Không rõ, phải hỏi nhà máy sản xuất mới biết được. Nhưng, đây là hàng do nhà máy lớn sản xuất nên chắc đạt tiêu chuẩn (vệ sinh an toàn thực phẩm)!?”.
Đọc những dòng chữ trên bao bì tinh quẩy thì thấy ghi thành phần chủ yếu gồm có: Sodium bicarbonate (NaHCO3), Ammonium aluminium sulfate anhydrous (NH4Al(SO4)2.12H2O), Canxi cacbonat, Cacbonat natri và tinh bột.
Trên bao bì ghi tác dụng của tinh quẩy là “làm quẩy nở hơn, tiết kiệm dầu rán và ngon hơn, nếu trộn nó vào thì 1 gói nửa kg tinh quẩy giúp làm được một bao 25 kg bột mỳ”. Nhìn kỹ địa chỉ làm ra tinh quẩy thì phóng viên ngã ngửa: nơi sản xuất tinh quẩy là một nhà máy hóa chất ở Trùng Khánh.
Phóng viên tra cứu trên mạng Baidu thì thấy Ammonium aluminium sulfate anhydrous là loại hóa chất dùng để làm thuốc nhuộm, mạ đồng, trong đó Alum là thành phần chính, nếu dùng Alum làm chất phụ gia thực phẩm thì sau khi vào cơ thể, nó sẽ không thải ra được, vĩnh viễn tích lại trong cơ thể.
Sử dụng Alum trong thời gian dài sẽ gây teo não, lãng quên, ảnh hưởng đến trí lực, dẫn đến chứng Alzheimer của người già. Giáo sư Lưu chuyên ngành hóa học ở Đại học KHKT Hoa Trung cho biết, trong tinh quẩy có chứa ion Nhôm, là nguyên nhân quan trọng gây nên nhiều chứng bệnh về não, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.
Những thông tin về tinh quẩy- hóa chất độc hại được sử dụng để sản xuất quẩy đang gây chấn động dư luận, khiến người dân Trung Quốc càng thêm lo ngại về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước
(-hết trích-)

Nhận xét của hcd: Nhôm là kim loại được biết ảnh hưỡng tới trí óc hệ thần kinh, nó cũng như là thủy ngân (mercury) có nhiều trong cá biển. Cho nên thực phẩm có muối nhôm (Al) hay có chứa thủy ngân (Hg) thì ăn nhiều sẽ gây trục trặc bộ óc. Nhân đây gởi biếu các bạn bài viết từ lâu rồi. Các bạn tin tôi thì nhìn các loại cá trong đây mà khuyên con cháu còn nhỏ hay các bà bầu ăn ít ít loại nầy thôi. ăn nhiều học hành sẽ không khá đâu.


--------------

Hàm Lượng Thủy Ngân Trong Cá


Huỳnh Chiếu Ðẳng

Thưa quí bạn, hôm qua “xếp của tôi” ra lịnh tìm tài liệu mới nhất về hàm lượng thủ ngân chứa trong các loài cá thường bày bán trong các siêu thị. Nếu tìm để cho riêng mình thì uổng công quá, mà trái lịnh thì tôi đâu dám, tôi là hội viên SV kỳ cựu mà. Do vậy xin được gởi kết quả đến giúp cho các vị mày râu khác khỏi mất công như tôi, mà có khi còn được quí phu nhân đề nghị đức lang quân thuởng tôi ly cà phê nữa. Nói đùa thôi, nhưng có lẽ quí bạn nên đọc bài nầy, có khi có lợi cho con cháu chúng ta sau nầy.


Xưa nay chúng ta được khuyên nên ăn nhiều cá vì cá có lợi nhiều mặt nhất là về tim mạch. Ðôi khi chúng ta nghe lời cảnh cá về những nguy cơ do ăn cá sinh ra. Cuối cùng chúng ta không có một kết luận hay lời khuyên một cách chính xác dựa vào khoa học một cách đáng tin cậy. Phần dưới đây là những tài liệu của Food and Drug Administration (FDA) và của Environmental Protection Agency (EPA), nếu không tin tài liệu của hai cơ quan của chánh phủ Mỹ thì biết tin ai đây.

I. Lý Do Ô Nhiễm:
Thưa quí bạn, trong cá cua sò ốc có chứa khá nhiều chất có lợi cũng như có hại cho sức khỏe. Hôm nay tôi chỉ đề cập tới chất có hại được quan tâm nhiều nhất đó là kim loại thủ ngân chứa torng cá bày bán hàng ngày. Thủy ngân là kim loại nặng, mà đa số kim loại nặng hấp vào cơ thể đều gây hại như sắt, kẽm đồng, chì, cadmium, arsenic… Nhớ lúc trước tôi có người quen bị bịnh cho rằng uống thuốc tây “nóng” có hại, nên đi hất thuốc bắc uống vì “dược thảo không hóa chất vô hại”. Sau mấy tháng trời sức khỏe người nầy càng ngày càng yếu đi, nước da sậm đen… chịu hết nổi phải vào nhà thương. Sau cùng nhà thương cho biết người nầy bị nhiễm dộc kim loại chì. Truy ra là do một vị thuốc trong các thang thuốc bắc đã uống hàng ngày. Chuyện có thật, tôi ghi ra để cho thấy tin câu quảng cáo “dược thảo không hóa chất vô hại” có khi phải vào nhà thương. Xin đừng hiểu rằng tôi chống đối thuốc bắc, có khi tôi bị bịnh thì ai bày gì cũng uống tuốt.
Một điều đáng ngại là môi trường ngày nay toàn cầu bị ô nhiễm nhiều, hàm lượng thủy ngân có trong cá biển cá hồ cá sông do chất methylmercury gây ra. Chất nầy do loài người đốt nhiều nhiên liệu hóa thạch (nhất là than đá), khói sinh ra chứa methylmercury, chất nầy theo nước mua rơi xuống làm ô nhiễm nước sông nước biển. Thứ đến là do chất thải từ các nhà máy đổ ra môi trường.
Thủy ngân làm hại bộ thần kinh trẻ con khi còn là bào thai và hài nhi. Ðây là câu nguyên văn “Mercury is most harmful to the developing brains of unborn children and young children, affecting cognitive, motor, and sensory functions”.

II Lời Khuyên Của FDA:
Ngày nay các loại cá có tên: King Mackerel (cá thu), Shark (cá mập), Swordfish (cá lưỡi kiếm), Tilefish, Tuna (Fresh & Frozen, có chỗ dịch là cá ngừ) là những loại nên tránh hoặc ăn thật ít. Quí bà có thai, cho con bú, và trẻ nít được FDA khuyên không nên ăn. Con tilefish tôi không biết tên Việt Nam, xin xem hình bên cạnh. Ngoài ra FDA cũng khuyên những người kể trên không nên ăn quá 12 ounce (khoảng 360 grams) cá tươi mọi loại trong 1 tuần lể. EPA còn giới hạn lại 8 ounce thôi. Chỉ được ăn 360 grams cá chưa nấu trong một tuần lể e quá ít chăng?
Người lớn thì sao? Vì cái lợi do ăn các lớn hơn cái hại do thủy ngân, người ta không khuyên bỏ hẳn ăn cá mà chuyển qua thứ thực phẩm khác. Câu kết luận của tôi bao giờ cũng áp dụng được là nếu tôi kể ra đây chất nguy hại có trong mỗi loại thực phẩm thì cuối cùng chúng ta nên tuyệt thực cả ăn lẩn uống là an lành nhất. Còn FDA khuyên rằng (xin lập lại) là không nên ăn hoài một món, không nên ăn hoài thực phẩm từ một nguồn sản xuất duy nhất, thí dụ không nên ăn hoài hoài gạo Thái Lan, mà nên thay vào đó gạo Phi, gạo Việt Nam, gạo Mỹ…

III. Bản Phân Tách Lượng Thủy Ngân
Ðây là bản ghi hàm lượng thủy ngân trong cá thường gặp của FDA cập nhật năm 2010. Ðây là cá bắt trong thiên nhiên. Cá câu ở sông hồ thì độ ô nhiễm thủy ngân còn lớn hơn nữa, FDA khuyên không nên ăn cá do chính mình câu được. Quí bạn lưu ý thủy ngân có nhiều nhất trong 4 con cá đầu bản:
Mercury Levels in Commercial Fish and Shellfish
(1990-2010)
Các bạn nhìn tên con cá, xong nhìn hàng high light vàng, con số cao là không tốt

Table 1. Fish and Shellfish With Highest Levels of Mercury

SPECIES

MERCURY CONCENTRATION (PPM)

NO. OF
SAMPLES


SOURCE OF DATA

MEAN

MEDIAN

STDEV

MIN

MAX

MACKEREL KING

0.730

N/A

N/A

0.230

1.670

213

GULF OF MEXICO REPORT 2000

SHARK

0.979

0.811

0.626

ND

4.540

356

FDA 1990-2007

SWORDFISH

0.995

0.870

0.539

ND

3.220

636

FDA 1990-2010

TILEFISH (Gulf of Mexico)

1.450

N/A

N/A

0.650

3.730

60

NMFS REPORT 1978

 

Table 2. Fish and Shellfish With Lower Levels of Mercury

SPECIES

MERCURY CONCENTRATION (PPM)

NO. OF
SAMPLES


SOURCE OF DATA

MEAN

MEDIAN

STDEV

MIN

MAX

ANCHOVIES

0.017

0.014

0.015

ND

0.049

14

FDA 2007-2010

BUTTERFISH

0.058

N/A

N/A

ND

0.36

89

NMFS REPORT 1978

CATFISH

0.025

0.005

0.057

ND

0.314

57

FDA 1991-2010

CLAM *

0.009

0.002

0.011

ND

0.028

15

FDA 1991-2010

COD

0.111

0.066

0.152

ND

0.989

115

FDA 1991-2010

CRAB 1

0.065

0.050

0.096

ND

0.610

93

FDA 1991-2009

CRAWFISH

0.033

0.035

0.012

ND

0.051

46

FDA 1991 -2007

CROAKER ATLANTIC (Atlantic)

0.065

0.061

0.050

ND

0.193

57

FDA 2002 - 2009

FLATFISH 2*

0.056

0.050

0.045

ND

0.218

71

FDA 1991-2009

HADDOCK (Atlantic)

0.055

0.049

0.033

ND

0.197

50

FDA 1991-2009

HAKE

0.079

0.067

0.064

ND

0.378

49

FDA 1994-2009

HERRING

0.084

0.048

0.128

ND

0.560

26

FDA 2006-2009

JACKSMELT

0.081

0.050

0.103

0.011

0.500

23

FDA 1997-2007

LOBSTER (Spiny)

0.093

0.062

0.097

ND

0.270

13

FDA 1991-2005

MACKEREL ATLANTIC (N.Atlantic)

0.050

N/A

N/A

0.020

0.160

80

NMFS REPORT 1978

MACKEREL CHUB (Pacific)

0.088

N/A

N/A

0.030

0.190

30

NMFS REPORT 1978

MULLET

0.050

0.014

0.078

ND

0.270

20

FDA 1991-2008

OYSTER

0.012

ND

0.035

ND

0.250

61

FDA 1991-2009

PERCH OCEAN *

0.121

0.102

0.125

ND

0.578

31

FDA 1991-2010

POLLOCK

0.031

0.003

0.089

ND

0.780

95

FDA 1991-2008

SALMON (CANNED) *

0.008

ND

0.017

ND

0.086

34

FDA 1992-2009

SALMON (FRESH/FROZEN) *

0.022

0.015

0.034

ND

0.190

94

FDA 1991-2009

SARDINE

0.013

0.010

0.015

ND

0.083

90

FDA 2002-2010

SCALLOP

0.003

ND

0.007

ND

0.033

39

FDA 1991-2009

SHAD AMERICAN

0.045

0.039

0.045

0.013

0.186

13

FDA 2007-2010

SHRIMP *

0.009

0.001

0.013

ND

0.050

40

FDA 1991-2009

SQUID

0.023

0.016

0.022

ND

0.070

42

FDA 2005-2010

TILAPIA *

0.013

0.004

0.023

ND

0.084

32

FDA 1991-2008

TROUT (FRESHWATER)

0.071

0.025

0.141

ND

0.678

35

FDA 1991 -2008

TUNA (CANNED, LIGHT)

0.128

0.078

0.135

ND

0.889

551

FDA 1991-2010

WHITEFISH

0.089

0.067

0.084

ND

0.317

37

FDA 1991-2008

WHITING

0.051

0.052

0.030

ND

0.096

13

FDA 1991-2008

 

Table 3. Mercury Levels of Other Fish and Shellfish

SPECIES

MERCURY CONCENTRATION (PPM)

NO. OF
SAMPLES


SOURCE OF DATA

MEAN

MEDIAN

STDEV

MIN

MAX

BASS (SALTWATER, BLACK, STRIPED)3

0.152

0.084

0.201

ND

0.960

82

FDA 1991-2010

BASS CHILEAN

0.354

0.303

0.299

ND

2.180

74

FDA 1994-2010

BLUEFISH

0.368

0.305

0.221

0.089

1.452

94

FDA 1991-2009

BUFFALOFISH

0.137

0.120

0.094

0.032

0.430

17

FDA 1992-2008

CARP

0.110

0.134

0.099

ND

0.271

14

FDA 1992 - 2007

CROAKER WHITE (Pacific)

0.287

0.280

0.069

0.180

0.410

15

FDA 1997

GROUPER (ALL SPECIES)

0.448

0.399

0.278

0.006

1.205

53

FDA 1991-2005

HALIBUT

0.241

0.188

0.225

ND

1.520

101

FDA 1992-2009

LOBSTER (NORTHERN / AMERICAN)

0.107

0.086

0.076

ND

0.230

9

FDA 2005-2007

LOBSTER (Species Unknown)

0.166

0.143

0.099

ND

0.451

71

FDA 1991-2008

MACKEREL SPANISH (Gulf of Mexico)

0.454

N/A

N/A

0.07

1.56

66

NMFS REPORT 1978

MACKEREL SPANISH (S. Atlantic)

0.182

N/A

N/A

0.05

0.73

43

NMFS REPORT 1978

MARLIN *

0.485

0.390

0.237

0.100

0.920

16

FDA 1992-1996

MONKFISH

0.181

0.139

0.075

0.106

0.289

9

FDA 2006-2008

ORANGE ROUGHY

0.571

0.562

0.183

0.265

1.120

81

FDA 1991-2009

PERCH (Freshwater)

0.150

0.146

0.112

ND

0.325

19

FDA 1991-2007

SABLEFISH

0.361

0.265

0.241

0.090

1.052

26

FDA 2004 - 2009

SCORPIONFISH

0.233

0.181

0.139

0.098

0.456

6

FDA 2007 - 2008

SHEEPSHEAD

0.093

0.088

0.059

ND

0.170

6

FDA 2007 - 2009

SKATE

0.137

N/A

N/A

0.04

0.36

56

NMFS REPORT 1978

SNAPPER

0.166

0.113

0.244

ND

1.366

67

FDA 1991-2007

TILEFISH (Atlantic)

0.144

0.099

0.122

0.042

0.533

32

FDA 2002-04

TUNA (CANNED, ALBACORE)

0.350

0.338

0.128

ND

0.853

451

FDA 1991-2010

TUNA(FRESH/FROZEN, ALL)

0.391

0.340

0.266

0.000

1.816

420

FDA 1991 - 2010

TUNA (FRESH/FROZEN, ALBACORE)

0.358

0.360

0.138

ND

0.820

43

FDA 1992-2008

TUNA (FRESH/FROZEN, BIGEYE)

0.689

0.560

0.341

0.128

1.816

21

FDA 1991 - 2005

TUNA (FRESH/FROZEN, SKIPJACK)

0.144

0.150

0.119

0.022

0.260

3

FDA 1993 - 2007

TUNA (FRESH/FROZEN, YELLOWFIN)

0.354

0.311

0.231

0.000

1.478

231

FDA 1991-2010

TUNA (FRESH/FROZEN, Species Unknown)

0.415

0.339

0.308

0.000

1.300

120

FDA 1991-2010

WEAKFISH (SEA TROUT)

0.235

0.157

0.216

0.000

0.744

46

FDA 1991-2005

Source of data:FDA 1990-2010 , "National Marine Fisheries Service Survey of Trace Elements in the Fishery Resource" Report 1978,
"The Occurrence of Mercury in the Fishery Resources of the Gulf of Mexico" Report 2000
Mercury was measured as Total Mercury except for species (*) when only Methylmercury was analyzed.
ND-mercury concentration below detection level (Level of Detection (LOD)=0.01ppm)
N/A-data not available
The following species have been removed from the tables:
Bass (freshwater) – not commercial
Pickerel – not commercial
‡Standard deviation data generated from data 1990 to 2010.
1Includes: Blue, King, Snow
2Includes: Flounder, Plaice, Sole
3Includes: Sea bass/ Striped Bass/ Rockfish
NOTE: On February 8, 2006, technical changes were made to the data that was posted on January 19, 2006. The changes corrected data or more properly characterized the species of fish or shellfish sampled.






Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương