Giáo hội cơ-ĐỐc phục lâm an thất nhậT (l'église adventiste du septième jour)



tải về 0.82 Mb.
trang1/5
Chuyển đổi dữ liệu06.02.2018
Kích0.82 Mb.
  1   2   3   4   5

GIÁO HỘI CƠ-ĐỐC PHỤC LÂM AN THẤT NHẬT

(l'église adventiste du septième jour)

Được khai sinh tại Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ vào năm 1863, Giáo Hội Cơ-Đốc Phục Lâm An Thất Nhật là một phong trào, về cơ bản, khá gần gũi với Tin Lành giáo. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý ngay rằng có một số điểm giáo lý của họ đi lệch xa khỏi niềm tin Thánh kinh, đặc biệt là về những lời giáo huấn của Bà Ellen White. Trong tạp chí “Ministry” (Đời sống Chức vụ), số ra tháng Mười năm 1981, Giáo Hội Cơ-Đốc Phục Lâm An Thất Nhật có đưa ra một lời công bố mà cho đến nay lời công bố này chẳng hề bao giờ được rút lại: "Chúng tôi tin tưởng rằng sự khải thị và nguồn thần cảm của Kinh Thánh cũng như ở những bài viết của Ellen White, cả hai đều có giá trị như nhau. Trong cả hai trường hợp đều có sự giám sát cẩn thận và trọn vẹn của Đức Thánh Linh.” Bà White đã đưa ra vô số những lời tiên tri hư ngụy, chẳng hạn như nói rằng “cổ thành Giê-ru-sa-lem sẽ không bao giờ được tái thiết” (theo tác phẩm Early Writings –Những Bản Viết Ban Đầu, trg.75), rằng bà sẽ vẫn sống lúc Hội thánh được Cất Lên (trg. 15-16), rằng Đấng Christ sẽ trở lại trước khi chế độ nô lệ bị xoá bỏ (trg. 35, 276), rằng những tín đồ Cơ-đốc Phục Lâm sống vào năm 1856 sẽ vẫn sống để chờ ngày Hội thánh được Cất Lên (theo tác phẩm Testimonies for the church - Những Lời Chứng cho Hội Thánh, quyển 3, trg.131-132), và còn nhiều lời tiên tri hư ngụy khác nữa. Mặc dù có những mâu thuẫn như vậy, song vẫn có một số người Cơ-đốc Phục Lâm (không phải tất cả!) vẫn tôn sùng những bản viết của Ellen White ngang hàng với Kinh Thánh. Bản hiến chương của Giáo hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật được hình thành nhân một đại hội tôn giáo diễn ra tại Battle Creek (Michigan) vào năm 1863, với sự phụ hoạ tác động của các nhân vật như Joseph Bates, cặp vợ chồng James và Ellen White, hoặc của John Andrews. Trái với một quan niệm cố hữu, Giáo hội này không phải được thiết lập do sáng kiến của một nhà sáng lập duy nhất nào.



Ellen Gould White

Vài Dòng Lịch sử

William Miller ra đời ngày 15 tháng Hai, 1782 tại vùng Pittsfield, thuộc tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Là con nhà nông, và là một tín đồ sùng đạo theo hệ phái Báp-tít, ông rất sốt sắng nghiên cứu tìm hiểu Kinh Thánh, đặc biệt là về những lời tiên tri liên hệ đến sự tái lâm của Đấng Christ. Đến năm 1818, ông bỗng có niềm tin cho rằng Đấng Christ sẽ tái lâm vào năm 1844. Do dó, ông trở thành nhà truyền đạo và đi rao giảng Phúc âm tại nhiều giáo xứ giáo phận, sau đó giữ chức vụ mục sư trong Hội thánh Báp-tít, là nơi ông chẳng bao giờ tìm cách rời xa, mà chỉ muốn mọi người nhận thức được về ngày trở lại gần kề của Chúa Cứu Thế Giê-su. Thế nhưng năm 1844 đã đi qua mà không thấy Đấng Christ trở lại. Và đó chính là sự thất bại của Miller cũng như của các môn đệ ông.

Tuy nhiên, một trong đám môn đệ ấy, là Hiram Edson, thì lại tin tưởng rằng biến cố dự kiến xảy ra năm 1844 kia chưa phải là ngày tận thế, mà chỉ là thời điểm để Đấng Christ bước vào giai đoạn cuối cùng trong chức vụ tăng lữ đầy thần quyền của Ngài, chức vụ mà Kinh Thánh gọi là iraHi\gọi là tẩy thanh đền thánh (Đan.8:14; Hêb.8:1.2; 9:23). Khám phá này chính là điểm khởi hành của Hội Thánh Cơ-đốc Phục lâm được hình thành vào năm 1863. Giữa khoảng thời gian ấy, William Miller đã qua đời (1849). Kế tục công việc của ông là một người phụ nữ : Bà Ellen Gould White, phu nhân của giảng sư James White. Bà nhận được những khải tượng và đã viết nhiều tác phẩm, tài liệu mà khối tín đồ Cơ-đốc Phục lâm nói chung coi như chúng cũng được sự hà hơi của thiên thượng. Nhờ bà, phong trào này được phát triển vươn ra tầm cỡ thế giới, và do đó có những nhóm được hình thành và liên kết lại tại Au Châu cũng như ở Uc Châu.

Tên gọi ‘Giáo hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật’ ra đời năm 1888, do sự kết hợp của từ phục lâm (tiếng La tinh là adventus) của Đấng Christ và ý nghĩa quan trọng mà họ dành cho ngày Sa-bát (ngày thứ Bảy).

Cơ-đốc Phục Lâm đến Việt Nam năm 1929, và hiện nay có 7 mục sư, với số tín đồ là13.000 (5. 500 người Kinh, và trên 7.400 người thuộc các sắc tộc thiểu số).

Giáo hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật Việt-Nam (Vietnam Seventh-Day Adventist Church) được các cấp chánh quyền Việt-Nam chính thức công nhận kể từ ngày 23 tháng 12 năm 2006.



William Miller

Về Giáo lý

Người Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật đặt niềm tin của mình dựa trên nền tảng Kinh Thánh, và xem Kinh Thánh (cả Cựu Ước và Tân Ước ) là cuốn sách được sự hà hơi của Đức Thánh Linh.

Họ đặc biệt coi trọng mười điều răn như sự thể hiện về bản tính và ý muốn thiên thượng, và nhất là coi trọng ngày Sa-bát (giáo đồ Cơ-đốc Phục Lâm ý thức rằng họ phải trân trọng giữ ngày Sa-bát cho đến kỳ chung kết đời), mà Đức Chúa Trời đã ban cho toàn thể nhân loại để mãi mãi ghi nhớ công ơn sáng tạo của Ngài. Họ tin rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người do tình yêu thương và ban cho con người được quyền tự do lựa chọn hay quyết định.

Họ tin rằng ân điển của Đức Chúa Trời thông qua sự chết của Chúa Giê-su trên thập tự giá đã mang lại sự cứu rỗi cho loài người, nhờ đó họ có thể được tha tội và tìm lại sự sống vĩnh hằng. An sủng này được dành cho những kẻ nào tiếp nhận Chúa Giê-su làm Cứu Chúa đời mình.

Người tín đồ Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật nhận thức rằng chỉ có Đức Chúa Trời là đấng bất tử, rằng linh hồn con người thì hữu sinh hữu hoại, rằng tình trạng của những kẻ chết là một giấc ngủ, rằng mọi người sẽ thức dậy trong ngày tái lâm của Đấng Christ, để rồi có kẻ thì hưởng được sự sống đời đời phước hạnh, có kẻ thì đi vào cõi chết đời đời cùng với sự hủy diệt của kẻ ác, và đó chính là thuyết Tịch Diệt, hay là ngày Tận Diệt vậy.

Lễ Báp-têm (hay Rửa Tội), cử hành theo phương thức trầm mình trong nước, chỉ dành cho những ai tự nguyện và bằng lòng (phép Rửa Tội lại). Đây là kết quả của một bước đi quyết định của bản thân. Hành động này chứng minh công khai về mối kết liên giữa mình với Đức Chúa Trời.

Tín đồ Cơ-đốc Phục Lâm chú trọng nghiên cứu về những lời tiên tri Thánh kinh có liên hệ tới sự tái lâm của Đấng Christ chương trình kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại. Họ giữ mình sẵn sàng chờ đợi ngày quang lâm đó và mong muốn mọi người biết rõ về tin tức tốt lành này (Phúc âm).

Về Các Hoạt động khác

Giáo hội Cơ-đốc Phục Lâm điều hành một nền giáo dục toàn cầu, từ cấp mẫu giáo lên tới đại học, đồng thời còn tham gia các công trình nghiên cứu, đặc biệt là về y khoa.

Thông qua một sự giải thích dựa trên cơ sở Thánh kinh (thân thể con người là đền thờ của Đức ChúaTrời), Giáo hội Cơ-đốc Phục Lâm khởi xướng một cuộc cải cách về vệ sinh, về bảo vệ sức khỏe, trong đó gồm có chế độ ăn uống lành mạnh, cách giữ gìn sức khỏe qua luyện tập thể chất, kiêng cử rượu chè hút xách và mọi thứ độc hại khác. Trong nỗ lực này, họ đã đề ra một “kế hoạch năm ngày” nhằm giúp những người nghiện thuốc được giải thoát khỏi tệ nạn hút xách.

Qua việc tổ chức nhiều hiệp hội hay hội đoàn, đặc biệt là Hội đoàn Thanh niên Cơ-đốc Phục Lâm (Jeunesse Adventiste), Giáo hội đã phát triển được những hoạt động xã hội khá quan trọng, như hoạt động nhân đạo, hoạt động bảo vệ quyền tự do tôn giáo ...

Tuy vậy, họ có những sai lầm vô cùng nghiêm trọng, trong đó xin kể ra một số sai lầm như sau :

Về Ngày Sa-bát :

Điều 7 trong Bản Xác Tín Niềm Tin của Giáo hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật có qui định như sau :



"Điu răn th tư của bản luật pháp bất di bất dịch này đòi hỏi phải giữ ngày thứ bảy trong tuần làm ngày yên nghỉ. Qui đnh thánh này đồng thời cũng nhằm đởng nhớ đến công trình sáng tạo và là một biểu hiệu của sự thánh hoá “.

Đối với ngưi tín đ Cơ-dốc Phục Lâm, ngày Sa-bát là và sẽ mãi mãi vẫn là biểu hiệu của giao ưc mà Đức Chúa Trời đã thiết lập (Xuất. 31:12.13) và là dấu ấn được mang trên trán những đầy tớ trung thực của Đức Chúa Trời (Khải. 7:2.3). Họ đưa ra một giá trị trường cửu xây dựng trên ba điểm lập luận sau đây :

1) Ngày Sa-bát nằm trong quy luật đo đc có liên quan đến mọi người ở mọi thời đại.

2) Ngày Sa-bát được thiết đặt từ buổi sáng thế.

3) Ngày Sa-bát không hề bị hủy bỏ trong Tân Ước.

Những luận điệu này thật sai lầm. Thực vậy, ngày Sa-bát đâu phi đã được thiết đặt từ buổi sáng thế và dân Do Thái đâu có biết gì về ngày Sa-bát trước khi Bảng Luật Pháp được ban hành tại ngọn núi Si-na-i. Mặt khác, ngày Sa-bát đã bị xoá bỏ hoàn toàn như lời sứ đ Phao-lô đã dạy :“Vì vậy, chớ có ai xét đoán anh em về của ăn uống , hoặc ngày lễ, hoặc ngày mặt trăng mới, hoặc ngày Sa-bát, ấy đều chỉ là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Christ ” (Cô-lô-se 2:16.17). Ngoài ra, Hê-bơ-rơ 4:4-11 dạy rằng ngày Sa-bát là hình bóng chỉ về sự cứu rỗi mà Đấng Christ mang lại cho loài người, tức sự yên nghỉ thiên thượng sẽ dành ban cho những kẻ tin. Thế thì, ngày Sa-bát không còn lý do gì nữa để tồn tại. Việc áp đt cho Cơ-đốc nhân phải giữ ngày Sa-bát là trở lại tái phạm sự sai lầm mà sứ đồ Phao-lô từng quở trách các giáo sư người Do Thái khi họ muốn đem lễ cắt bì vào trong Hội thánh Cơ-đốc. Những Cơ-đc nhân đầu tiên cử hành các buổi lễ thờ phượng vào ngày Chúa nhật đởng nhớ sự sống lại của Đấng Christ (Công vụ.20:7; I Cô-rinh-tô 16:2). Họ đã không lấy ngày Chúa nhật để thay thế cho ngày Sa-bát, mà chỉ coi mọi ngày đu như nhau và đã tùy nghi tự chọn ngày Chúa nhật làm ngày thờ phượng Chúa, vì đây chính là ngày Đng Christ đắc thắng tử thần.

Đồng thời, tín đ Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật xem việc thực thi một số các nghi thức nghi lễ như là một phần của sự thể hiện đc sùng đạo của ngưi Cơ-đc và tính đc trưng của những tín đồ chân chính.. Điều này cũng quan hệ tới việc dâng phần mười mà họ triệt để tuân thủ bên cạnh một số quy đnh khác. Điều 17 trong Bản Xác Tín Niềm Tin của họ có đề cập tới việc “trang phục bình dị” và sự kiêng cữ “mọi thức uống say, thuốc lá cùng tất cả những loại ma túy làm ô-uế cho thân thể và linh hồn”. Họ đề khởi chế đ ăn chay (ăn lt, ăn toàn rau quả), và trong hoàn cảnh không thực hành được thì họ áp dụng một cách có hệ thống việc kiêng cữ dùng thịt heo. Các quy định về thức ăn nước uống này không phải chỉ mang tính chất những lời khuyên đơn sơ, mà là những giáo huấn có giá trị như những giới răn, mệnh lệnh thiêng liêng. Tính sùng đạo của ngưi Cơ-đốc Phục Lâm cũng đưc đc trưng bởi một hình thức tuân thủ luật pháp tuyệt đối hoàn toàn trái nghịch đối với tinh thần Phúc âm và đặc biệt là đối với sự dạy dỗ của Kinh Thánh về vấn đề thức ăn nước uống (Mác 7:18-20; Công vụ.10:16; Rô-ma 14:14; Cô-lô-se 2:16.17).

Về Những Lời Tiên tri :

Căn cứ trên kết quả các phép tính phức tạp dựa theo sách Đa-ni-ên 8:14 và các khúc Kinh thánh khác của sách Khải Huyền, thì năm 1844, đối với ngưi Cơ-đốc Phục Lâm, chính là năm đánh dấu cho thời kỳ mở đầu của công cuộc thanh tẩy đền thánh do Chúa Cứu Thế Giê-su thực hiện.:

"Việc thanh tẩy đền thờ…tiêu biểu cho một cuộc điều tra hoặc thẩm xét trước hết dành cho những kẻ chết và kế đó là cho nhng người còn sống. Cuộc điều tra này nhằm mục đích xác định , trong vô số người nằm trong lòng đất, ai sẽ là kẻ xứng đáng được dự phần vào cuộc sống lại lần thứ nhất, và trong vô số người còn sống, ai sẽ là kẻ xứng đáng được dự phần vào cuộc cất lên không trung của Hội thánh trung tín” (Điều 16, Bảng Xác Tín Niềm Tin)..

Sự trở lại của Đng Christ để lập ngôi nước vinh hiển của Ngài đang tiến đến gần kề, song chẳng một ai biết được thời đim chính xác, do đó những kẻ tin bao giờ cũng phải ở tư thế sẵn sàng. Thời kỳ Ngàn Năm Bình An đưc định nghĩa như sau :

"Sự cai trị của Chúa Cứu Thế Gê-su bao trùm trọn khoảng thời gian khép kín tính từ giữa lần sống lại lần thứ nhất và lần sống lại lần thứ hai, tức trong thời gian mà hết thảy các thánh đồ thuộc mọi thời đại sẽ đưc tháp tùng cùng Đấng Cứu Chuộc yêu dấu của họ để lên ở trên trời. Khi thời gian này kết thúc, thành thánh và tất cả những kẻ được chọn sẽ quay xuống trái đất. Những kẻ ác, trở lại cuộc sống qua lần sống lại thứ hai , sẽ tập hợp lại dưới sự lãnh đạo của Sa-tăng để vây hãm thành trại của các thánh đồ. Lúc ấy, Đức Chúa Trời sẽ sai một cơn mưa lửa từ trời đổ xuống để nghiền nát chúng nó. Trong cơn mưa la để hủy diệt ma vương cùng đạo binh của nó, trái đất hay trần gian sẽ được tầy sạch hết mọi vết bẩn nhơ của sự gian ác. Toàn cõi thiên nhiên vũ trụ sẽ hoàn toàn được giũ sạch hết mọi vết nhơ bẩn của tội lỗi " (Điều 21, Bản Xác Tín Niềm Tin ).

Khác với giáo phái Chứng Nhân Giê-hô-va cho rằng Ngàn Năm Bình An (hayThiên Hi Niên) sẽ diễn ra trên đất, còn sự cứu rỗi chung cuộc diễn ra trên trời, giáo phái Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật lại có sự dạy dỗ trái ngược, nghĩa là theo họ, Ngàn Năm Bình An sẽ diễn ra trong chốn trời cao rồi sau đó sự cứu rỗi vĩnh hằng sẽ diễn ra trên đất.:

"Đức ChúaTrời sẽ kiến tạo mọi điều mới mẻ. Được tái tạo trong cái đẹp của vườn địa đàng Ê-đen xưa, trái đất chúng ta sẽ mãi mãi trở thành nơi ở của những kẻ được chọn. Đó là lúc lời hứa dành cho Ap-ra-ham sẽ được hoàn thành : tổ phụ hay giáo trưởng Ap-ra-ham và hậu duệ con cháu của người sẽ cùng với Chúa Cứu Thế Giê-su vĩnh viễn chiếm hữu ngự trị cõi trần gian” (Điều 22, Bản Xác Tín Niềm Tin).



Ngưi Cơ-đốc Phục Lâm cũng bảo lưu cái niên lch 1844 mà Miller đã ấn định, dĩ nhiên là để không bị phản bác, nhưng thay vào sự kiện về ngày Christ tái lâm, họ cho đó là thi đim đ Đấng Christ “thanh tẩy đền thánh” .Trong thời kỳ điều tra và thẩm xét dựa trên các điu răn, giới luật, đặc biệt là điu răn liên h đến ngày Sa-bát, thì ngưi tín đ Cơ-đốc Phục Lâm nghĩ rằng đây là thời gian họ cần phải dốc sức rao truyền Phúc âm cho toàn thế giới. Dựa theo hình ảnh của một thầy tế lễ thượng phẩm hàng ngày phải vào phục vụ trong nơi thánh và mi năm một lần , nhân ngày Đại lễ Chuộc Tội (Lê-vi-Ký 16), phải vào phục vụ trong nơi Chí thánh, họ cho rằng Đng Christ đã vào trong nơi thánh vào ngày Chúa chịu chết và đã ở tại đó suốt 18 thế kỷ, cho đến ngày 22 tháng Mưi năm 1844 thì Ngài vào nơi Chí thánh ca đn thánh để tiến hành thẩm xét thế gian..Khi thời kỳ thẩm tra này kết thúc, Đấng Christ sẽ trút đổ lên Sa-tan những tội lỗi của loài người, cũng như thể nào thầy tế lễ thượng phẩm ngày xưa đã chất tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên lên mình con dê đc mà ngưi ta đuổi bắt trong đồng vắng. Ngoài ra, trong thời kỳ Ngàn Năm Bình An ở chốn trời cao, thì trái đất sẽ bị bỏ hoang và được ma quỷ chiếm lĩnh để gây ra bao nhiêu tội lỗi cho con người trong suốt thời gian một ngàn năm đó. Và khi những kẻ gian ác bất nghĩa sống lại, chúng sẽ liên kết với Ma vương để tấn công Chúa Cứu Thế Giê-su và thành thánh của Ngài. Nhưng bọn chúng sẽ thất bại và bị tiêu diệt.

Về Công nghiệp của Đấng Christ :

Có một điều mà công chúng ít ai biết tới, ấy là ngưi Cơ-đốc Phục Lâm có một quan niệm về sự chết của Đấng Christ hoàn toàn trái nghịch với sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Thực vậy, họ coi sự chết của Đấng Christ là một sự thể hiện của tình yêu thương Đức Chúa Trời, hơn là một sự chuộc tội cho thế gian. Yvan Bourquin, một trong số những nhà thần học của Giáo hội Cơ-đốc Phục Lâm, có viết như sau :

"Nếu Chúa Giê-su không phải chết với ý nghĩa của một cuộc trao đổi dàn xếp như vậy, thì điều này chứng minh rõ ràng rằng Đức Chúa Trời không yêu cầu phải có sự đau đn, máu đổ và cái chết để cho công bình được thực hiện và để cho chính Ngài có thể ban ra sự tha thứ. Nói cách khác, sự cứu rỗi không nằm trong một công việc ‘đền bù thỏa đáng’ mang tính pháp lý, ging như rng là Đức Chúa Trời, sau khi bị tội nhân xúc phạm, đã đòi hỏi phải có cái chết của kẻ có tội, hoặc cái chết của một người vô tội chịu chết thay… Đức Chúa Trời không đòi hỏi máu đổ, huyết rơi. Ngài muốn Con Ngài gánh lấy tình trạng của chúng ta để bày tỏ cho loài người thấy rõ diện mạo, hình ảnh đích thực của Ngài. Sự cứu rỗi trước hết là một công việc của sự mặc khải, sự thể hiện, chứ không phải của sự thay thế đền bù. Chúng ta cần phải phục hồi hình ảnh của một Đức Chúa Trời yêu thương, là Đấng vốn muốn ban sự sống chứ không phải sự chết cho những tạo vật của Ngài. Còn điu Chúa Giê-su đã làm, trước hết bằng chính sinh mạng của mình, là để mở một con đường mới cho nhân loại, con đường hoà hợp hoàn toàn với Đức Chúa Cha. Chúa Giê-su cũng bày tỏ gương mt đích thực của Đức Chúa Trời đ giúp loài người phục hoà với Đấng Tạo Hoá của mình. Không thể có một mức độ ý nghĩa chung nào giữa từ ‘chuộc tội’ hay ‘đền tội’, mà chúng ta tờng hiểu cách méo mó do sự hiểu biết nông cạn của mình., với từ ‘phục hoà’ là từ nói lên một thực tế chân lý tuyệt vời” (trích ở chương ‘Được cứu bởi sự sống của Ngài’, trong tác phẩm Dấu hiệu các Thời kỳ, các trang 15,16, phát hành tháng Sáu, 1987)..
Vì thiếu am tường về thực chất công nghiệp của Đấng Christ, vì neo sâu vào luật pháp chủ nghĩa của Cựu Ước, lại vì quá mơ mộng về các sự kiện của ngày tận thế, ngưi tín đ Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật mang một tinh thần sùng đạo dựa trên một điều vĩ đại nào đó, và luôn canh cánh quan tâm đến một đời sống thánh khiết đ vinh danh Đức Chúa Trời. Nhưng tiếc thay, họ đã đi lệch với Phúc âm chân chính. Dù sao, dưng như từ một thời đim nào đó, h đã tập trung hướng tới một niềm tin mang nặng tính rao truyền Phúc âm.

 

Cơ-đốc nhân có cần giữ ngày Sa-bát không ?



1. Tín lý Cơ-đốc về ngày Sa-bát.

Chỉ cần đọc qua những tín thư của Tân Ước cũng đủ thấy rằng ngày Sa-bát không giữ một vị trí hàng đầu nào trong nền tín lý Cơ-đốc, và do đó thật không thích hợp để tín đồ quá chú trọng đến nó. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy rằng khi được dạy dỗ sai lệch về vấn đề này, người tín đồ sẽ gặp nhiều khó khăn để thoát ra khỏi sự ràng buộc của ngày Sa-bát. Ngay cả khi không còn giữ ngày Sa-bát nữa, thì người tín đồ vẫn thường có mặc cảm là không vâng phục theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Đối với ai đang ở trong tình trạng đó, cầu xin Chúa ban phước cho anh em khi đọc qua tài liệu biên soạn này, một tài liệu biên soạn với tinh thần huynh đệ hỗ tương.

Đầu tiên cần nhắc nhở đến thẩm quyền và mục đích của luật pháp, truớc khi giải thích về lập trường của Cơ-đốc nhân đối với ngày Sa-bát. Các bạn sẽ có thể nhận thấy là chúng tôi không bỏ qua bất cứ một phần nào của Lời Đức Chúa Trời.

1.1. Thầm quyền và tầm quan trọng của luật pháp và ngày Sa-bát

Bảng Luật pháp đã được ban cho dân Y-sơ-ra-ên một cách hết sức long trọng tại ngọn núi Si-na-i: « ... có sấm vang chớp nhoáng, một áng mây mịt mịt ở trên núi, và tiếng kèn thổi rất vang động; cả dân sự ở trong trại quân đều run hãi…khắp núi Si-na-i đều ra khói, vì Đức Giê-hô-va ở trong lửa giáng lâm nơi đó » (Xuất 19. 16,18 ). Toàn Kinh Cựu Ước đều chứng thực về thẩm quyền của luật pháp, bởi vì nó được chính Đức Chúa Trời ban cho từ trong sự vinh quang của Ngài. Các đấng tiên tri nhấn mạnh về khía cạnh tinh thần đạo đức của luật pháp, nhiều hơn là về ngày Sa-bát, tức điều răn thứ tư. Tân Ước cũng nói rõ về thẩm quyền của luật pháp : « … đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn.» (Mat.5. 18 ; cũng xin xem cả phân đoạn.) Đến cuối cùng, thẩm quyền này sẽ hoàn toàn được nhận biết khi Đức Chúa Trời thẩm xét những điều thầm kín trong lòng người : « ..còn những kẻ có luật pháp mà phạm tội, thì sẽ bị luật pháp đoán xét. » (Rô-ma 2:12; cũng xin xem Giăng 5: 45)

Ai cũng biết là một Cơ-đốc nhân ngoan đạo thường thắc mắc tìm hiểu về luật pháp và ngày Sa-bát. Chúng ta không thể đơn giản nói với người đó rằng luật pháp đã trở nên già nua hoặc đã bị phế bỏ. Đối với kẻ quý trọng Lời Chúa, thì một sự giải thích như vậy là chưa đủ. Há không phải chính Đức Chúa Trời đã ban bố luật pháp sao? Chúng ta sẽ tìm hiểu luật pháp đã được ban bố với mục đích gì và cho đối tượng nào, nghĩa là ai cần tuân thủ luật pháp.



  1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương