Dự thảo BÁo cáo chính trị CỦa ban chấp hành đẢng bộ thành phố khóa XIV trình đẠi hộI ĐẠi biểu lần thứ XV đẢng bộ thành phố HÀ NỘI



tải về 1.33 Mb.
trang1/5
Chuyển đổi dữ liệu30.10.2017
Kích1.33 Mb.
  1   2   3   4   5

Dự thảo

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ KHÓA XIV TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ XV ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ Thành phố là đại hội mang tính lịch sử, diễn ra trong bối cảnh vừa tổ chức thành công Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và là đại hội nhiệm kỳ đầu tiên sau khi Đảng bộ Hà Nội hợp nhất, mở ra nhiều triển vọng cho thời kỳ phát triển mới. Đại hội được tiến hành vào thời điểm kết thúc thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, Hà Nội cùng với cả nước tiếp tục kế thừa, phát huy kinh nghiệm của 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, 10 năm thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 15-NQ/TƯ của Bộ Chính trị “Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô trong thời kỳ 2001-2010”. Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2006 - 2010; quyết định phương hướng, nhiệm vụ xây dựng, phát triển Thủ đô giai đoạn 2010 - 2015 và những năm tiếp theo, tạo nền tảng vững chắc để trước năm 2020, Hà Nội cơ bản hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa theo hướng hiện đại.

Đại hội XV có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, định hướng cho Đảng bộ và nhân dân Thủ đô tiếp tục phát huy truyền thống 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại.



I. KIỂM ĐIM 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI NHIỆM KỲ 2006 - 2010

1. Thời kỳ nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội của các Đảng bộ trước khi hợp nhất

Nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội 2006 - 2010, Đảng bộ thành phố Hà Nội, Đảng bộ tỉnh Hà Tây, Đảng bộ huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc và Đảng bộ 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã nỗ lực, phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội, đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chủ yếu:



- Đối với Đảng bộ Hà Nội: Tiếp tục phát huy thành tựu sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 15 - NQ/TƯ của Bộ Chính trị “Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô trong thời kỳ 2001 - 2010”, đã tập trung lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế bảo đảm duy trì nhịp độ tăng trưởng cao, một số chỉ tiêu chủ yếu vượt kế hoạch. Tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân 2 năm (2006 - 2007) tăng 11,81%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng (dịch vụ 57,4%, công nghiệp 41,2%, nông nghiệp 1,4%). Công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý đô thị được tập trung chỉ đạo, một số lĩnh vực có chuyển biến tích cực; các công trình giao thông trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ thực hiện, trật tự kỷ cương giao thông, văn minh đô thị được chấn chỉnh, hệ thống dịch vụ công cộng đô thị được duy trì, phát triển. Lĩnh vực giáo dục - đào tạo; y tế; thể dục - thể thao; khoa học - công nghệ và thực hiện chính sách xã hội có chuyển biến tích cực. Nhiệm vụ phát triển văn hoá, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh và chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội được triển khai tích cực, có hiệu quả. Tình hình chính trị ổn định, an ninh, quốc phòng được củng cố, tăng cường. Hoạt động đối ngoại, hợp tác phát triển, hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế tiếp tục được mở rộng và phát huy hiệu quả. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị tiếp tục được đẩy mạnh và có chuyển biến mới.

- Đối với Đảng bộ tỉnh Hà Tây: Lãnh đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị nửa nhiệm kỳ, kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao; thu hút đầu tư trong và ngoài nước tăng mạnh; các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế và hạ tầng xã hội được tăng cường. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 2 năm (2006 - 2007) đạt 13,04%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, với tỷ trọng: công nghiệp 42%, dịch vụ 31,3%, nông nghiệp 26,7%. Văn hoá - xã hội có chuyển biến, tiến bộ; đời sống của nhân dân nói chung, của đồng bào các dân tộc và miền núi trong tỉnh nói riêng được cải thiện. Các thiết chế văn hóa cơ sở được quan tâm đầu tư, nhất là các nhà văn hoá thôn, bản, khu dân cư. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển. Công tác tôn giáo và dân tộc được quan tâm. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; lĩnh vực quốc phòng và quân sự địa phương được tăng cường. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được coi trọng. Hoạt động của chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân có nhiều đổi mới, đạt hiệu quả thiết thực.

- Đảng bộ huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và Đảng bộ các xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung (tỉnh Hòa Bình): Đã quán triệt các quan điểm chỉ đạo của cấp ủy cấp trên và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ cấp mình, triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị và kế hoạch đề ra.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đt được, vẫn còn một số hạn chế, khuyết điểm: Kết quả phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, vị thế của từng địa phương, một số chỉ tiêu đạt thấp; công tác quản lý đô thị, đặc biệt là quản lý quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai, trật tự xây dựng, phê duyệt các dự án, bảo vệ môi trường còn bộc lộ nhiều mặt yếu kém, bất cập; lĩnh vực văn hóa - xã hội chuyển biến chưa toàn diện; trật tự an toàn xã hội, tệ nạn ma túy, mại dâm, cờ bạc ở một số địa bàn còn diễn biến phức tạp; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và củng cố hệ thống chính trị của một số cấp ủy chuyển biến chưa đồng bộ. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng, vai trò tiền phong gương mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mờ nhạt; hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền ở một số địa phương, nhất là cấp cơ sở còn hạn chế; có nơi để xảy ra sai phạm, gây bức xúc trong nhân dân.

Những kết quả đạt được trong nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội của các Đảng bộ trước khi hợp nhất về Hà Nội là tiền đề và động lực quan trọng để Đảng bộ Thành phố tiếp tục phát huy trong giai đoạn Thủ đô Hà Nội được điều chỉnh, mở rộng địa giới hành chính theo tinh thần Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) và Nghị quyết số 15 của Quốc hội (khóa XII), với quy mô, vị thế và điều kiện phát triển mới.



2. Thời kỳ sau khi Thủ đô được mở rộng địa giới hành chính đến hết nhiệm kỳ

Thực hiện Nghị quyết số 15 của Quốc hội (khóa XII), từ ngày 01/8/2008, Thủ đô Hà Nội được điều chỉnh, mở rộng địa giới hành chính, diện tích tăng gấp trên 3,6 lần, dân số tăng gần gấp đôi, mở ra triển vọng to lớn để Hà Nội phát triển nhanh, toàn diện và bền vững. Thành phố tiếp tục nhận được sự quan tâm đặc biệt của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ; sự giúp đỡ hiệu quả của các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương; sự ủng hộ, hợp tác tích cực của các tỉnh, thành trong nước. Những thành tựu, kinh nghiệm sau hơn 20 năm đổi mới kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cùng với việc thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, đã tạo ra cho Hà Nội những thuận lợi cơ bản, thu hút, tập trung các nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Thủ đô xã hội chủ nghĩa ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại.

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, hơn hai năm cuối nhiệm kỳ, thời điểm sau hợp nhất, Thành phố phải đối mặt với khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; thời tiết diễn biến bất lợi, đặc biệt là hậu quả nặng nề của đợt mưa lớn gây úng ngập nặng trên diện rộng cuối năm 2008; dịch bệnh bùng phát; những vấn đề bức xúc của quá trình đô thị hoá nhanh và phải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn sau khi hợp nhất. Đồng thời, những khó khăn, hạn chế, bất cập của Thành phố trong một số lĩnh vực, như: Quản lý quy hoạch, trật tự xây dựng, giải phóng mặt bằng, quản lý đất đai, môi trường, quản lý dân cư, giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc trong quá trình đô thị hóa, cải cách hành chính, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, v.v.. là những thách thức và khó khăn không nhỏ đối với việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ.

Vượt lên những khó khăn, thử thách, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Thủ đô đã phát huy truyền thống đoàn kết thống nhất, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ra sức phấn đấu, tiếp tục triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV Đảng bộ Thành phố trong tình hình mới.



2.1. Thành tựu đt được

Chủ động khắc phục có hiệu quả ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và khu vực, kinh tế Thủ đô tiếp tục tăng trưởng khá

Các chương trình, đề án công tác của Thành ủy trong lĩnh vực phát triển kinh tế(1 và chủ trương kích cầu của Chính phủ được thực hiện có hiệu quả, biến khó khăn, thách thức thành cơ hội phát triển, đưa kinh tế Thủ đô tiếp tục đt được tốc đ tăng trưởng khá. Bình quân 5 năm (2006 - 2010), tổng sản phẩm nội địa Thành phố (GDP) dự kiến tăng 10,4%/năm, cao gấp 1,5 lần mức tăng bình quân chung của cả nước.)(2) Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng: dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực trình độ cao, chất lượng cao và sản phẩm mũi nhọn().



Dịch vụ đưc ưu tiên đu tư phát triển, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu GDP. Bình quân giai đoạn 2006 - 2010, giá trị gia tăng ngành dịch vụ tăng 10,24%/năm. Các ngành dịch vụ trình độ, chất lượng cao như thương mại, tín dụng - ngân hàng, vận tải, bưu chính - viễn thông, y tế, giáo dục, v.v.. được chú trọng phát triển, có mức tăng trưởng cao(). Hệ thống lưu thông, phân phối hàng hóa và các dịch vụ sau bán hàng được củng cố, phát triển. Du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, có đóng góp tích cực vào thành tựu chung của kinh tế Thủ đô.

Kim ngạch xuất khẩu nhìn chung trong 5 năm tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao, tăng bình quân 18,3%/năm, trong đó xuất khẩu địa phương dự kiến tăng 20%/năm.() Cơ cấu hàng xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng hàng công nghiệp và chế biến, giảm dần xuất khẩu nguyên liệu thô, các mặt hàng gia công có giá trị tăng thêm nội địa thấp. Thị trường nhập khẩu hàng hóa được mở rộng, bao gồm 165 nước và vùng lãnh thổ. Giá trị nhập siêu trên địa bàn đã chậm lại, tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu thấp hơn tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu().

Ngành công nghiệp - xây dựng giai đoạn 2006 - 2010 đạt mức tăng bình quân 12,41%/năm. Công nghiệp được phát triển có chọn lọc, tập trung vào các ngành có trình độ công nghệ cao, như: điện tử - tin học, viễn thông, công nghệ sinh học, cơ khí chính xác và vật liệu mới, các nhóm sản phẩm công nghiệp có lợi thế và thương hiệu. Một số ngành công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chế biến nông sản và hoạt động của làng nghề được khuyến khích phát triển. Rà soát, xây dựng, điều chỉnh quy hoạch các khu, cụm công nghiệp theo hướng bền vững(); quan tâm xử lý, di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư theo quy hoạch. Ngành xây dựng đạt mức tăng bình quân 10,3%/năm, góp phần tăng cường thu hút đầu tư phát triển, thúc đẩy tăng trưởng của các ngành sản xuất và dịch vụ.

Sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộ. Cơ cấu nội ngành chuyển dịch theo hướng tích cực: tăng tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản và dịch vụ nông nghiệp.() Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 bình quân 1,75%/năm; tổng sản lượng lương thực đạt trên 1 triệu tấn/năm. Cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng hiệu quả: diện tích trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả đặc sản tiếp tục được mở rộng. Đã coi trọng việc ứng dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất(). Bước đầu hình thành một số vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá với năng suất và chất lượng cao ở các huyện Đông Anh, Từ Liêm, Hoài Đức, Thanh Trì, Mê Linh. Chăn nuôi, thủy sản phát triển mạnh: các chỉ tiêu về đàn lợn, gia cầm và tổng sản lượng thịt hơi dẫn đầu cả nước.

Công tác huy động nguồn lực cho đu tư phát trin đt được kết quả đáng khích lệ. Hà Nội luôn là một trong các địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (cả về số lượng dự án và tổng số vốn đăng ký). Công tác xã hội hóa đầu tư tiếp tục được tập trung chỉ đạo, đạt kết quả quan trọng trên một số lĩnh vực: dịch vụ công ích đô thị, giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, v.v… Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn liên tục tăng qua các năm (bình quân 33,14%/năm), cả giai đoạn ước đạt 602.900 tỷ đồng, bằng 60% GDP.

Thu ngân sách trên đa bàn đạt kết quả tốt, tăng bình quân 22,3%/năm, liên tục vượt dự toán được giao hàng năm, về cơ bản đã bảo đảm được nhu cầu chi thường xuyên và tập trung cho đầu tư phát triển. Chi ngân sách được quản lý chặt chẽ và hiệu quả hơn; chú trọng rà soát, bảo đảm đầu tư tập trung, có trọng điểm đối với các dự án xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước.

Việc hợp tác, liên kết với các đa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phát triển kinh tế ngày càng được mở rộng. Tích cực tham gia thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, cơ chế quản lý có tiến bộ. Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường; tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Doanh nghiệp Nhà nước được đổi mới, sắp xếp lại; hầu hết các doanh nghiệp sau sắp xếp, hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn (đóng góp 36,2% GDP Thành phố). Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển mạnh cả về số lượng và quy mô, ngày càng góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của Thành phố. Kinh tế tập thể, nhất là loại hình hợp tác xã dịch vụ tiếp tục được củng cố. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh, có mức tăng trưởng cao. Nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển được ban hành, thực hiện đồng bộ trong các lĩnh vực: đầu tư, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường nội địa và xuất khẩu. Sức cạnh tranh chung của kinh tế Thủ đô có tiến bộ, từng bước đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

Thể chế kinh tế thị trưng đnh hưng XHCN trên địa bàn Thủ đô tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Phân cấp quản lý kinh tế, xã hội ngày càng được mở rộng và tăng cường, tạo điều kiện cho các cấp chính quyền cơ sở chủ động trong chỉ đạo, điều hành, góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô.

Xây dựng và quản lý đô th được tập trung chỉ đạo quyết liệt, một số lĩnh vực có chuyển biến tích cực

Chương trình của Thành ủy về xây dựng, phát triển và quản lý đô thị Hà Nội giai đoạn 2006-2010 gắn với việc triển khai một trong 5 nhiệm vụ trọng tâm là chấn chỉnh trật tự, kỷ cương xây dựng được các cấp, các ngành Thành phố triển khai thực hiện nghiêm túc, một số lĩnh vực có chuyển biến tích cực:



Thành phố đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương, huy động sự tham gia tích cực của các tổ chức, cơ quan tư vấn, doanh nghiệp, cộng đồng hoàn thành việc xây dựng các quy hoạch phát triển, như: “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”; “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030”; cùng Bộ Xây dựng hoàn thiện, trình Chính phủ phê duyệt "Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050", làm cơ sở triển khai nghiên cứu, lập, điều chỉnh quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết, quy hoạch các quận, huyện, các khu đô thị, trục giao thông chính v.v... Khẩn trương rà soát các đồ án quy hoạch sau hợp nhất; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép tiếp tục triển khai các đồ án, dự án đầu tư phù hợp với quy hoạch, đề xuất cho dừng hoặc chuyển đổi mục đích đầu tư các dự án không phù hợp quy hoạch.

Hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, nhất là các công trình giao thông trọng đim được chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Đã hoàn thành nhiều công trình giao thông trọng điểm() và đang tập trung triển khai một số công trình hạ tầng giao thông cấp thiết khác(), góp phần cải thiện, nâng cấp hệ thống hạ tầng giao thông đô thị, giảm ùn tắc giao thông. Đầu tư xây dựng một số tuyến đường liên xã, bảo đảm kết nối giao thông thuận tiện đến các xã ngoại thành, nhất là một số xã khó khăn thuộc các huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Mỹ Đức, Ba Vì, v.v... Hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội các khu đô thị được đầu tư, khớp nối, chỉnh trang gắn kết với các khu dân cư lân cận theo hướng hoàn chỉnh hơn.

Các dịch vụ đô th được cải thiện, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Hệ thống cung cấp nước sạch tiếp tục được quan tâm đầu tư mở rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ. Các công trình, dự án thoát nước đô thị được tích cực triển khai, giảm bớt tình trạng ngập úng cục bộ khi có mưa lớn xảy ra(). Đã tiến hành đầu tư xây dựng một số nhà máy xử lý nước thải, góp phần cải thiện môi trường(). Vận tải công cộng tiếp tục phát triển cả về số lượng phương tiện và số tuyến vận tải, từng bước nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân(). Tích cực triển khai Đề án “Một số giải pháp giảm ùn tắc giao thông Thành phố Hà Nội đến năm 2010 và giai đoạn 2020”, phân luồng và tổ chức lại giao thông, khắc phục bước đầu tình trạng ùn tắc giao thông, nhất là giao thông nội đô.

Các dự án đu tư xây dng khu đô thị mới được triển khai mạnh, xây dựng thêm nhiều trung tâm thương mại, siêu thị lớn, văn phòng cao cấp, khách sạn hiện đại, v.v.. đa dạng hóa các loại hình nhà ở, góp phần đáp ứng nhu cầu của nhân dân, các doanh nghiệp, khách du lịch trong và ngoài nước. Việc xây dựng nhà ở xã hội, cải tạo chung cư cũ, xuống cấp đạt kết quả bước đầu(). Diện tích nhà ở đô thị bình quân đầu người năm 2010 ước đạt trên 25,7 m.

Công tác chấn chỉnh kỷ cương, quản lý trật tự xây dựng đô th đưc đẩy mạnh và có chuyển biến tích cực. Cùng với việc kiên quyết xử lý các công trình xây dựng vi phạm nghiêm trọng, Thành phố tích cực rà soát, thống nhất, công khai các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian, quy trình giải quyết công việc. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm sau cấp phép xây dựng tiếp tục được chú trọng, trật tự, kỷ cương xây dựng từng bước đi vào nền nếp. Tỷ lệ công trình xây dựng có giấy phép tăng dần qua từng năm, đến nay đạt trên 90%. Số công trình xây dựng sai phép giảm đáng kể.

Công tác chỉnh trang, nâng cấp đô th được triển khai đồng bộ. Nhiều vườn hoa, công viên được cải tạo, nâng cấp và xây mới(); đã có 6 tuyến phố được chỉnh trang hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, sắp xếp, hạ ngầm các đường dây, cáp nổi trên nhiều tuyến đường nội đô; hệ thống chiếu sáng, cây xanh trang trí được tăng cường, nhất là trong các dịp lễ, hội, các sự kiện chính trị, văn hoá quan trọng trên địa bàn. Công tác giữ gìn trật tự, mỹ quan đường phố, quản lý hè phố, lòng đường ở các quận nội đô có chuyển biến tốt hơn.

Công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường có chuyển biến tiến bộ. Thành phố đã tăng cường chỉ đạo đẩy mạnh công tác thu gom, vận chuyển rác thải, vệ sinh môi trường theo hướng mở rộng xã hội hoá, áp dụng hình thức giao khoán, đấu thầu; bảo đảm thu gom và xử lý hợp vệ sinh 95% lượng rác thải trong ngày tại đô thị; triển khai Đề án “Đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường trên địa bàn Thành phố Hà Nội và các giải pháp kiểm soát khắc phục”, bước đầu đem lại hiệu quả tích cực.

Công tác xây dựng, cải tạo các hồ, công viên, vườn hoa trong những năm qua thu được những kết quả rất tích cực; tiến hành trồng mới hàng trăm ngàn cây xanh bóng mát trong khu vực nội thành và các khu đô thị mới, nâng diện tích đất xanh đô thị bình quân đầu người từ 5m (năm 2005), lên 5,7m22 (năm 2010).



Khu vực nông thôn được chú trọng đu tư phát triển, đời sống nông dân Thủ đô tng bưc được cải thiện

Các chương trình của Thành uỷ về phát triển kinh tế - xã hội ngoại thành được triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả. Thành phố đã đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội ngoại thành và từng bước hiện đại hóa nông thôn. Nhiều dự án đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập cho nông dân được triển khai thực hiện có hiệu quả. Quan tâm cải tạo, nâng cấp các công trình thủy lợi, trạm bơm, cứng hóa mặt đê, nạo vét kênh mương, hồ chứa nước, xây kè chống sạt lở của các sông trên địa bàn(3. Triển khai kịp thời chủ trương về miễn giảm thủy lợi phí cho nông dân.

Quy hoạch, xây dựng hạ tầng nông thôn, gắn với bảo vệ môi trưng được chú trọng. Hạ tầng nông thôn, nhất là giao thông nông thôn, điện, nước sạch được quan tâm đầu tư. Các đường liên xã được nâng cấp, đường liên thôn và đường làng phần lớn đã được bê tông hóa; 100% số xã có trạm y tế, trong đó có 77,6% trạm y tế xã có bác sỹ; 100% số xã có điện sử dụng, có điện thoại. Hệ thống trường học và trang bị cơ sở vật chất trong các trường được đầu tư, nâng cấp, góp phần từng bước nâng cao chất lượng giáo dục ở khu vực nông thôn. Triển khai thực hiện thí điểm mô hình nông thôn mới xã hội chủ nghĩa thời kỳ CNH, HĐH tại xã Thụy Hương (huyện Chương Mỹ) bước đầu đạt kết quả tốt; Thành phố đang sơ kết, rút kinh nghiệm chỉ đạo để tiếp tục triển khai nhân rộng tại hàng chục xã ngoại thành )(4.

Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao đng nông thôn được quan tâm, nhất là ở những nơi bị thu hồi đất canh tác. Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo nghề cho lao động nông thôn; tỷ lệ lao động được đào tạo nghề đạt 25,4%. Công tác khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công được triển khai có hiệu quả.

Đời sống nông dân ở nhiều đa bàn được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm. Nhiều ngành nghề truyền thống ở nông thôn với các sản phẩm có thương hiệu trên thị trường)(5được duy trì, củng cố và phát triển. An ninh nông thôn được bảo đảm. Đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngoại thành, đặc biệt ở các thôn bản, vùng xa trung tâm được chăm lo, có bước cải thiện rõ rệt.

Văn hóa - xã hội tiếp tục phát triển

Sự nghiệp văn hoá - xã hội của Thành phố có nhiều tiến bộ. Chương trình của Thành ủy về phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, thiết thực kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội được đẩy mạnh thực hiện. Trong đó chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm về xây dựng, giữ gìn, phát triển những nét đẹp văn hóa người Hà Nội, từng bước tạo chuyển biến trong suy nghĩ, hành động của các tầng lớp nhân dân Thủ đô. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được triển khai có hiệu quả. Việc xây dựng, thực hiện các quy định, quy ước, quy chế, các mô hình văn hóa được tích cực thực hiện. Nhiều giá trị, nét đẹp văn hóa truyền thống trong gia đình, họ tộc, hương ước làng, bản và cộng đồng được kế thừa, phát triển; nếp sống văn hoá đô thị được quan tâm xây dựng.

Hệ thống các thiết chế văn hóa từ Thành phố tới cơ sở tiếp tục được đầu tư, hoàn thiện, quy mô, chất lượng và hiệu quả hoạt động được nâng lên, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Một số công trình, thiết chế văn hóa của Thành phố, như bảo tàng, thư viện, các nhà hát, v.v.. được quan tâm nâng cấp, xây mới. Công tác giữ gìn, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội, đặc biệt là các di sản văn hoá được triển khai tích cực. Hoạt động văn học, nghệ thuật có tiến bộ đáng khích lệ, nhiều tác phẩm có giá trị được công chúng ghi nhận. Nhiều hoạt động giao lưu văn hóa lớn được tổ chức thành công, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Thủ đô ở trong nước và trên thế giới.



Lĩnh vực khoa học - công nghệ và giáo dục - đào to được tập trung chỉ đo, đạt kết quả tích cực. Hoạt động khoa học - công nghệ tiếp tục được đổi mới; công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất và đời sống đạt được kết quả bước đầu, góp phần thúc đẩy phát triển nhiều lĩnh vực công nghệ, tạo ra những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao. Đã hoàn thành một số công trình, đề tài khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế - xã hội, về kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Tích cực mở rộng hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ trong một số chương trình thuộc lĩnh vực quy hoạch giao thông đô thị, bảo vệ tài nguyên, môi trường, v.v…

Giáo dục - đào tạo Thủ đô tiếp tục phát triển toàn diện cả về quy mô và chất lượng, công tác xã hội hóa được đẩy mạnh. Công tác đổi mới giáo dục phổ thông có nhiều tiến bộ. Chính sách thu hút, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ và nguồn nhân lực chất lượng cao được chú trọng. Chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được nâng cao. Tỷ lệ giáo viên dạy giỏi và đạt chuẩn, trên chuẩn ở các cấp học ngày càng tăng. Cùng với đẩy mạnh kiên cố hóa trường, lớp, Thành phố đã tập trung đầu tư xây mới để thay thế cơ bản phòng học tạm, phòng học cấp 4 trên địa bàn. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia năm 2010 đạt khoảng 25%.



Hoạt động thông tin, truyền thông từng bước được hiện đại hóa, đem lại hiệu quả về nhiều mặt, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô. Công tác quản lý Nhà nước về bưu chính, viễn thông và kinh doanh dịch vụ Internet có tiến bộ. Quản lý hoạt động báo chí, xuất bản được đẩy mạnh, đúng chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và theo sát thực tiễn cuộc sống. Báo chí của Thủ đô ngày càng khẳng định rõ vai trò trong công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng, hướng dẫn dư luận và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Thành phố.

Các vấn đề xã hội được tập trung giải quyết có hiệu quả. Hàng năm đã tạo việc làm cho hơn 10 vạn lao động. Công tác đào tạo nghề có bước phát triển cả về quy mô và chất lượng, tỷ lệ lao động qua đào tạo nói chung ngày càng tăng) (6. Việc hỗ trợ các đối tượng chính sách và người nghèo được thực hiện có hiệu quả;) phong trào đền ơn đáp nghĩa phát triển sâu rộng ở mọi cấp, mọi ngành; chính sách xã hội, nhất là đối với người có công và những vấn đề an sinh xã hội được quan tâm thực hiện tích cực, kịp thời. Công tác đấu tranh phòng, chống các tệ nạn xã hội được thực hiện quyết liệt, giảm số lượng các tụ điểm phức tạp về ma tuý, mại dâm; chất lượng quản lý, chữa trị cho người nghiện ma tuý, gái mại dâm tại các trung tâm giáo dục lao động xã hội của Thành phố tiếp tục được nâng lên.

Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ. Chất lượng khám, chữa bệnh được nâng cao; cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được đầu tư theo hướng hiện đại; công tác xã hội hoá lĩnh vực y tế được đẩy mạnh; mức độ thụ hưởng các dịch vụ y tế, nhất là các dịch vụ trình độ, chất lượng cao của người dân từng bước được nâng lên. Y học cổ truyền được củng cố và phát triển. Mạng lưới y tế dự phòng hoạt động có hiệu quả, đã chủ động phòng ngừa, khống chế thành công các dịch bệnh, đặc biệt là các dịch bệnh nguy hiểm. Hầu hết các xã, phường, thị trấn đã đạt chuẩn quốc gia về y tế (7. Công tác kiểm tra, giám sát bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được tiến hành thường xuyên, không để xảy ra các vụ ngộ độc lớn trên địa bàn Thành phố.

Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình được triển khai sâu rộng từ Thành phố tới cơ s. Việc tuyên truyền thực hiện mục tiêu kế hoạch hoá gia đình, ổn định tỷ lệ tăng dân số tự nhiên được đẩy mạnh. Đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng. Các chương trình vận động xây dựng gia đình văn hoá, các chương trình hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ, bình đẳng giới, các quyền của phụ nữ và trẻ em được tích cực triển khai.

Hoạt động thể dục - thể thao tiếp tục được mở rộng. Thể dục - thể thao quần chúng phát triển mạnh. Tỷ lệ người thường xuyên luyện tập thể dục - thể thao ngày càng tăng. Hà Nội là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về thể thao thành tích cao. Hợp tác quốc tế trong đào tạo vận động viên, huấn luyện viên được chú trọng, kết hợp triển khai thực hiện chính sách khuyến khích, thu hút các huấn luyện viên và vận động viên tài năng. Đã tổ chức thành công nhiều sự kiện thể thao lớn của đất nước và khu vực, được bạn bè trong nước và quốc tế ghi nhận )(8.

Chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội được triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả

Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TƯ, ngày 04/5/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về việc kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố đã xây dựng các chương trình công tác, xác định các cụm công trình trọng điểm, những công việc cần tập trung chỉ đạo để chuẩn bị cho Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Năm năm qua, chương trình và các hoạt động kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội được triển khai đồng bộ, có hiệu quả ở Thủ đô và nhiều địa phương trong cả nước. Các công trình, dự án trọng điểm được chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, trong đó nhiều công trình hoàn thành bảo đảm tiến độ, chất lượng, thiết thực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân. Nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có chất lượng ca ngợi, tôn vinh giá trị truyền thống Thủ đô ngàn năm văn hiến đã được sáng tác.



Các hoạt động văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao, du lịch có nội dung phong phú, đa dạng của Hà Nội và các tỉnh, thành trong cả nước với chủ đề chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội đã được tổ chức và phối hợp tổ chức thành công. Thành phố đã khơi dậy và tạo được phong trào rộng khắp trong quần chúng nhân dân Thủ đô về xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh. Kết quả thực hiện các chương trình hoạt động kỷ niệm đã góp phần tích cực quảng bá, giới thiệu truyền thống, hình ảnh của Thành phố và con người Thủ đô tới bạn bè trong và ngoài nước. Chương trình Đại lễ kỷ niệm được chuẩn bị công phu, tổ chức trọng thể, có chất lượng tư tưởng, nghệ thuật và ý nghĩa giáo dục cao, để lại ấn tượng sâu sắc, nâng cao vị thế, uy tín Thủ đô Hà Nội đối với nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế.

Tình hình chính trị ổn định, an ninh, quốc phòng được củng cố, tăng cường

Tình hình chính trị ổn định; trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Thủ đô có chuyển biến tích cực. Chương trình của Thành ủy về bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Thủ đô giai đoạn 2006-2010 được triển khai thực hiện sâu rộng, có hiệu quả. Phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Bảo vệ an toàn các mục tiêu và sự kiện của Thủ đô và đất nước diễn ra trên địa bàn. Chủ động đấu tranh có hiệu quả với các hoạt động “diễn biến hòa bình”, âm mưu chống phá Đảng, chế độ và các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Kiềm chế tốc độ gia tăng, ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả các hoạt động phá hoại, gây rối, tội phạm có tổ chức, tội phạm sử dụng công nghệ cao, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Giải quyết tốt tình hình an ninh nội bộ, an ninh xã hội, nhất là an ninh trong tôn giáo, xử lý kịp thời nhiều vụ việc nổi cộm, bức xúc, tồn đọng kéo dài liên quan đến tình hình trật tự, trị an khu vực nông thôn.

Công tác quốc phòng và quân sự đa phương đưc tăng cường và chỉ đạo thực hiện đồng bộ, có hiệu quả. Đã quán triệt, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ an ninh, quốc phòng của Thành phố trong tình hình mới. Thường xuyên chăm lo xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp và ý thức sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang Thủ đô; đẩy mạnh việc bồi dưỡng, huấn luyện, nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên.)(9) Triển khai sâu rộng công tác giáo dục quốc phòng toàn dân. Các hoạt động diễn tập, luyện tập phương án tác chiến được tổ chức sát tình huống thực tế, đạt hiệu quả tốt. Tiềm lực, sức mạnh quốc phòng và khu vực phòng thủ được xây dựng ngày càng vững mạnh. Việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, nhất là trong xây dựng, thực hiện các quy hoạch, dự án đầu tư phát triển được tiến hành chủ động, có hiệu quả. Các đơn vị quân đội và lực lượng vũ trang Thủ đô luôn là lực lượng nòng cốt thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, lụt bão, cháy nổ và tìm kiếm cứu nạn.

Hoạt động đối ngoại, hợp tác phát triển được mở rộng và phát huy hiệu quả

Các hoạt động đối ngoại được tăng cường, hiệu quả ngày càng cao. Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, hội hữu nghị và nhân dân Thủ đô đã tích cực, chủ động tham gia các hoạt động chính trị, ngoại giao, hợp tác kinh tế, giao lưu văn hóa quốc tế nhằm khai thác và phát huy sức mạnh tổng hợp để phát triển, nâng cao vai trò và vị thế của Hà Nội trong khu vực và trên thế giới(). Đặc biệt, nhiều hoạt động giao lưu, hợp tác với Thủ đô các nước và các tổ chức quốc tế tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội được tổ chức với nhiều hình thức và nội dung phong phú, đạt hiệu quả thiết thực.



Hệ thống chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân các cấp tiếp tục được củng cố, kiện toàn, chất lượng hoạt đng được nâng lên

Hoạt động của chính quyền các cấp có nhiều đổi mới, tiến bộ; hiệu lực, hiệu quả đưc tăng cưng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Thủ đô trong tình hình mới. Dân chủ trong các kỳ họp và tiếp xúc cử tri được phát huy tích cực. Việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết của HĐND được tiến hành đồng bộ, có chất lượng, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, đem lại hiệu quả thiết thực. Công tác giám sát được coi trọng, tập trung vào việc thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các chủ trương, quyết sách của Thành phố, nhất là những lĩnh vực, vấn đề bức xúc đang được cử tri, xã hội quan tâm. Công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý của UBND các cấp quyết liệt, sâu sát, cụ thể và có hiệu quả hơn. Chương trình của Thành ủy về đẩy mạnh cải cách hành chính được thực hiện đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực. Thành phố đã ban hành bộ thủ tục mẫu, thực hiện thống nhất trên toàn địa bàn. Thực hiện việc giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” bước đầu đạt kết quả tốt. Nhìn chung, ý thức trách nhiệm và năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức các cấp được nâng lên. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân được quan tâm thực hiện có nền nếp ngay từ cấp cơ sở, góp phần hạn chế tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp, phức tạp, kéo dài.

Công tác cải cách tư pháp được tập trung chỉ đạo; cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư, năng lực, vai trò, chất lượng của các cơ quan tư pháp có chuyển biến tiến bộ; công tác hoà giải ở cơ sở được chú trọng, hoạt động hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.



Hoạt động của MTTQ và các đoàn th nhân dân đã có nhiều đổi mới theo hưng “đa dạng, thiết thực, gần dân”. Đã có nhiều phong trào và hình thức hoạt động phong phú để tuyên truyền, vận động, tập hợp đoàn kết các tầng lớp nhân dân Thủ đô. Nhiều cuộc vận động, chương trình hành động và phong trào thi đua yêu nước được tổ chức sâu rộng, có hiệu quả thiết thực. Chú trọng nắm bắt tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; kịp thời phản ánh, tham mưu và kiến nghị với cấp uỷ Đảng, chính quyền xây dựng những chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói, giảm nghèo, thực hiện các chính sách an sinh xã hội; góp phần thực hiện tốt các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, giải quyết các vấn đề về tôn giáo; từng bước tham gia các hoạt động phản biện xã hội, giám sát thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

Chất lượng đoàn viên, hội viên có chuyển biến tốt hơn. Nhiều tổ chức yếu kém được củng cố, kiện toàn. Sự phối hợp hoạt động giữa MTTQ và các đoàn thể nhân dân với chính quyền các cấp chặt chẽ và có hiệu quả hơn. Các tổ chức hội quần chúng ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, có những đóng góp thiết thực vào thành tựu chung của sự nghiệp xây dựng, phát triển Thủ đô.



Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được tập trung chỉ đo, đạt kết quảc đầu

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), Thành uỷ đã chú trọng xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo và tổ chức bộ phận chuyên trách về phòng, chống tham nhũng cấp Thành phố; gắn việc thực hiện nhiệm vụ chính trị với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chú trọng các giải pháp phòng ngừa; chuẩn hoá các quy trình công việc theo hướng đơn giản, công khai, dân chủ v.v.. cùng với việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các lĩnh vực công việc trọng yếu, đã tạo được chuyển biến tích cực, nhất là trong các lĩnh vực: Đầu tư, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý thu, chi ngân sách và tài sản công.



Công tác xây dựng, chỉnh đn Đảng, gắn với triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đo đức Hồ Chí Minh” được tổ chức thực hiện đồng bộ và đạt kết quả quan trọng

Quán triệt và tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các Nghị quyết Trung ương (khóa X) và các chỉ thị, nghị quyết của Thành ủy, đặc biệt là Chương trình số 02 của Thành ủy “Tạo bước chuyển biến mạnh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, giai đoạn 2006 - 2010”, công tác xây dựng Đảng và tình hình Đảng bộ đã có chuyển biến tích cực:



Công tác chính trị, tư tưng được chú trọng, đã bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Thành phố. Việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng tiếp tục được đổi mới, gắn với xây dựng, triển khai các chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện; nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm, tạo sự thống nhất ý chí và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên và sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân Thủ đô. Chủ động định hướng tư tưởng, hướng dẫn dư luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; tuyên truyền đấu tranh với các luận điệu phản động, sai trái, thù địch, âm mưu “Diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá bước đầu có hiệu quả.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai thực hiện nghiêm túc, sâu rộng, có hiệu quả, gắn với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Sau gần 4 năm thực hiện, nhận thức và ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên và đông đảo các tầng lớp nhân dân Thủ đô đã có chuyển biến tích cực, với nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực hằng ngày.



Công tác tổ chức, cán bộ tiếp tục đổi mới và được chọn làm khâu đột phá c đầu có chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực: Đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển và thực hiện chính sách cán bộ (. Một trong những thành công của công tác cán bộ được thể hiện rõ là đã chủ động sắp xếp, bố trí, kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chủ chốt của Thành phố bảo đảm phục vụ tốt cho các hoạt động của Thủ đô sau khi mở rộng địa giới hành chính. Công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên được đẩy mạnh)(10. Tổ chức cơ sở đảng ở các phường, xã, thị trấn, trong các loại hình doanh nghiệp từng bước được đổi mới, kiện toàn, chất lượng hoạt động có chuyển biến tốt hơn. Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ và số lượng đảng viên mới được kết nạp tăng so với chỉ tiêu Đại hội đề ra.) Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm thực hiện tốt.

Công tác kiểm tra, giám sát được triển khai thực hiện có hiệu quả. Các cấp ủy đảng và Ủy ban kiểm tra các cấp đã chủ động kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng, tăng cường kỷ cương, kỷ luật; giữ gìn nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ; bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, góp phần tích cực vào đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác trên địa bàn Thành phố.

Công tác dân vận có chuyển biến tiến bộ. Hệ thống dân vận từ Thành phố tới cơ sở được củng cố, kiện toàn, phát huy tốt vai trò chỉ đạo, định hướng các phong trào hành động cách mạng của quần chúng. Công tác tôn giáo, dân tộc được quan tâm chỉ đạo. Đã giải quyết có hiệu quả nhiều vụ việc nổi cộm, phức tạp về đất đai có nguồn gốc tôn giáo trên địa bàn, được dư luận nhân dân đồng tình, ủng hộ. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở từng bước đi vào nền nếp và phát huy hiệu quả tích cực.

Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng tiếp tục đưc đổi mới, theo hướng mở rộng dân chủ, sát cơ sở, chỉ đạo tập trung, kiên quyết, dứt điểm, hiệu quả, thực hiện "nói đi đôi với làm". Năng lực lãnh đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của cấp ủy, sức chiến đấu của tổ chức đảng, chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng cao. Chú trọng khâu kiểm tra, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong giải quyết công việc; phát hiện, tháo gỡ và xử lý kịp thời những vấn đề nổi cộm, bức xúc trong dân.

Việc thực hiện dân chủ trong Đảng bộ và trong đời sống xã hội Thủ đô có nhiều tiến bộ. Quyền làm chủ, sức mạnh tổng hợp và sự đồng thuận của nhân dân được phát huy, các hoạt động thảo luận, phản biện, đối thoại trong quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Thành phố được mở rộng. Nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách đúng đắn đã phát huy hiệu quả trong thực tiễn cuộc sống. Việc xử lý kiên quyết, kịp thời một số vụ việc nổi cộm, phức tạp, nhạy cảm trên địa bàn được dư luận nhân dân đồng tình, đánh giá cao. Quá trình thực hiện dân chủ hóa, gắn với đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thủ đô vào sự nghiệp đổi mới và sự lãnh đạo của Đảng bộ. Nhìn chung, đại đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiền phong, gương mẫu trong công tác, học tập, lao động, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống, phát huy vai trò nòng cốt trong công cuộc đổi mới, góp phần xứng đáng vào thành tựu chung của sự nghiệp xây dựng, phát triển Thủ đô và đất nước.

Đt được những thành tựu và kết quả nêu trên là do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, tập trung vào một số nguyên nhân chủ yếu sau:

Thành phố luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ; sự giúp đỡ hiệu quả của các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương; sự ủng hộ, hợp tác tích cực của các tỉnh, thành và bạn bè quốc tế.

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nội luôn phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, đã huy động được các nguồn lực trong xã hội phục vụ yêu cầu xây dựng, phát triển. Công tác lãnh đạo, điều hành của cấp uỷ, chính quyền các cấp được đổi mới, tập trung chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quyết liệt, có hiệu quả. Đội ngũ cán bộ, đảng viên nhìn chung đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Chủ động xây dựng và triển khai các chương trình hành động, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tầng lớp nhân dân, chung sức, đồng lòng xây dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh.



2.2. Hạn chế, khuyết điểm:

Kinh tế phát triển chưa tương xứng với vị thế, tiềm năng, thế mạnh của Thủ đô, cht lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp; nhiều nguồn lực của Thành phố chưa được khai thác hiệu quả. Vai trò các ngành công nghiệp chủ lực chưa rõ nét; chất lượng nguồn nhân lực và công nghệ chưa phát huy được lợi thế đặc thù của Thủ đô. Một số dịch vụ trình độ cao phát triển chậm. Khu vực kinh tế tập thể, nhất là loại hình HTX nông nghiệp còn nhiều hạn chế, hoạt động kém hiệu quả. Công tác cổ phần hóa, sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước còn lúng túng, bất cập. Liên kết, liên doanh giữa các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế chưa đồng bộ, kết quả chưa cao. Hệ thống thị trường chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội. Tăng trưởng xuất khẩu thiếu vững chắc. Vai trò động lực kinh tế của Hà Nội trong vùng trọng điểm Bắc Bộ và cả nước chưa được thể hiện rõ nét. Hiệu quả các hoạt động liên kết, hợp tác giữa Thủ đô với các địa phương trong nước còn thấp.

Công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị còn bộc lộ nhiều yếu kém. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đô thị và nông thôn phát triển chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Tình hình ùn tắc giao thông, úng ngập cục bộ, ô nhiễm môi trường chuyển biến chậm và đang là vấn đề nóng bỏng. Công tác GPMB, giải quyết quỹ nhà tái định cư còn bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc, ảnh hưởng lớn đến tiến độ thi công các dự án trọng điểm, gây bức xúc trong dư luận nhân dân.

Sản xuất nông nghiệp còn manh mún, phân tán. Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi chậm. Việc xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường tiêu thụ nông, lâm sản hàng hóa chưa được quan tâm đúng mức. Sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa chưa cao. Kết quả đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, nhất là những nơi bị thu hồi đất nông nghiệp còn hạn chế.

Phát triển văn hóa - xã hội chưa tương xứng với yêu cầu và vị thế của Thủ đô ngàn năm văn hiến; chưa phát huy được thế mạnh với vai trò là một trung tâm lớn về văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và y tế của cả nước, chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của đội ngũ trí thức và các nhà khoa học trên địa bàn Thành phố. Hiệu quả một số hoạt động, phong trào văn hóa còn thấp. Ý thức trong giữ gìn vệ sinh môi trường, chấp hành pháp luật, nhất là chấp hành luật giao thông của người dân chưa tốt, trong khi các giải pháp hạn chế tăng phương tiện giao thông cá nhân, hạn chế tăng dân số cơ học ở địa bàn Thủ đô v.v.. ý kiến, giải pháp còn khác nhau. Khoảng cách giàu - nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn, nhất là ở những vùng khó khăn còn lớn. Tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma túy tiếp tục diễn biến phức tạp. Vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức, nhân cách cho học sinh, sinh viên chưa được quan tâm đúng mức.

Công tác lãnh đạo, chỉ đo điều hành còn bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm; có bộ phận còn trì trệ, kém hiệu quả. Một bộ phận cán bộ, công chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, trình độ, năng lực hạn chế, né tránh trách nhiệm, nhất là những việc khó, nổi cộm, bức xúc. MTTQ và các đoàn thể nhân dân ở một số cơ sở xã, phường, thị trấn hoạt động chưa hiệu quả, còn mang tính hình thức, chưa làm tốt công tác giám sát, phản biện xã hội, vận động, tập hợp, thu hút đoàn viên, hội viên. Cải cách hành chính, giải quyết đơn thư, thực hiện Quy chế dân chủ chưa đạt yêu cầu. Hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa cao. Tình trạng lãng phí, thất thoát trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong quản lý đất đai, thực hiện các dự án, quản lý, sử dụng tài sản và ngân sách nhà nước của một số ngành, địa phương, đơn vị chậm được khắc phục.

Công tác xây dựng, chỉnh đn Đảng, củng cố hệ thống chính trị chuyển biến chưa đồng bộ. Vai trò hạt nhân chính trị, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số cấp uỷ và một bộ phận đảng viên còn yếu, nhất là tổ chức đảng ở khối doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài; chất lượng sinh hoạt, tự phê bình và phê bình ở không ít cơ sở đảng còn hạn chế, kỷ cương kỷ luật chưa nghiêm. Công tác kiểm tra, quản lý, phân công nhiệm vụ cho đảng viên ở cơ sở, nhất là khối xã, phường, doanh nghiệp tư nhân thiếu chặt chẽ, hiệu quả thấp. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa gương mẫu tu dưỡng, học tập, rèn luyện và công tác; giảm sút ý chí chiến đấu, vi phạm phẩm chất, đạo đức, lối sống; một số ít có biểu hiện chạy chức, chạy quyền, nhũng nhiễu, tiêu cực, vi phạm pháp luật. Hệ thống chính trị cơ sở ở một số xã, phường, đơn vị chưa thực sự phát huy được hiệu lực, hiệu quả. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở một số nơi còn hình thức.

Những hạn chế, khuyết điểm trên có những nguyên nhân chính sau:

Về nguyên nhân khách quan: Khối lượng công việc phải giải quyết trên địa bàn Thủ đô trong nhiệm kỳ là rất lớn, đa dạng, phức tạp, trong khi hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ở một số lĩnh vực ban hành chậm, thiếu đồng bộ, không ít nội dung còn chồng chéo, bất hợp lý. Sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành Trung ương với Thành phố một số việc chưa đồng bộ, hoặc chưa thống nhất, nhất là trong việc xây dựng một số cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ những khó khăn từ thực tiễn, tạo điều kiện để thủ đô Hà Nội phát triển nhanh, bền vững.

Về nguyên nhân chủ quan: Công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện của Thành phố trên một số lĩnh vực còn hạn chế. Cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể ở không ít địa phương, cơ sở, sở, ngành còn thiếu năng động, quyết liệt, thậm chí trì trệ, chưa theo kịp yêu cầu chỉ đạo của Thành phố. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành có lúc, có việc chưa tốt, còn có hiện tượng đùn đẩy, né tránh việc khó; xem xét, xử lý trách nhiệm còn thiếu kiên quyết. Công tác tự kiểm tra, giám sát của nhiều đơn vị, cơ sở chưa được thực hiện thường xuyên. Phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, làm giảm sút lòng tin của nhân dân.


  1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương