Céng hßa x• héi chñ nghÜa viÖt nam



tải về 3.86 Mb.
trang3/6
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích3.86 Mb.
1   2   3   4   5   6

Các căn cứ pháp lý


- Luật tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015;

- Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 ngày 17/6/2009; Nghị định số 37/2010/NĐ-CP ngày 7/4/2010 của Chính phủ về Lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị;

- Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đầu tư phát triển đô thị; Thông tư 12/2014/TT-BXD Hướng dẫn lập, thẩm định và phê duyệt Chương trình phát triển đô thị;

- Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị; Thông tư số 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị;



  • Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 7/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt điều chỉnh Định hướng phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2050;

  • Quyết định số 758/2009 ngày 8/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình nâng cấp đô thị quốc gia giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2020;

  • Quyết định số 1659/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 07/11/2012 “V/v phê duyệt Chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012 - 2020”;

  • Quyết định số 114/2009/QĐ-TTg ngày 28/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020;

  • Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVIII nhiệm kì 2015-2020;

  • Quyết định số 3023/2006/QĐ-UBND ngày 24/10/2006 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt đề án rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị Tỉnh thành hóa đến năm 2020;

  • Quyết định số 3975/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị tỉnh Thanh Hóa ngày 18/11/2014;

  • Quyết định số 194/QĐ-TTg ngày 15/02/2012 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Quy hoạch chi tiết đường Hồ Chí Minh;

- Quyết định số 3643/QĐ-UBND ngày 15/10/20009 của UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt kế hoạch triển khai chương trình nâng cấp đô thị Thanh Hóa đến năm 2020;

- Quyết định 108/QĐ-UBND ngày 10/01/2012 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt Đề án xây dựng phát triển hệ thống đô thị tỉnh Thanh Hóa đến năm 2015 đạt mục tiêu tỷ lệ đô thị hóa đạt 25%;

- Quyết định số 2309/2005/QĐ-UBND ngày 24/8/2005 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Đô thị trung tâm vùng miền Núi phía Tây, tỉnh Thanh Hoá (đô thị Ngọc Lặc);

- Văn bản số 10224/UBND-CN ngày 16/10/2014 về chủ trương lập điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng đô thị trung tâm vùng miền núi phía Tây, tỉnh Thanh Hóa;

- Quyết định số 247/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt Điều chỉnh, bổ xung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ngọc Lặc đến năm 2020 của UBND tỉnh ngày 21/01/2014;

- Quyết định số 2191/QĐ-UBND ngày 16/6/2015 của UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt Nhiệp vụ và dự toán điều chỉnh quy hoạch chung đô thị trung tâm miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

- Quyết định số 2786/QĐ-UBND ngày 30/7/2015 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc Phê duyệt đề cương nhiệm vụ và dự toán kinh phí lập Chương trình phát triển đô thị Ngọc Lặc, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV và trở thành thị xã trước năm 2020;

Các căn cứ pháp lý về tài chính:


  • Luật Ngân sách Nhà nước:

+ Luật Ngân sách 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002, còn hiệu lực. Ngày hết hiệu lực: 01/01/2017.

+ Luật Ngân sách 83/2015/QH13 ngày 25 tháng 6 năm 2015 về Ngân sách Nhà nước, có hiệu lực từ 01/01/2017);



  • Nghị định số 78/2010/NĐ – CP ngày 14/7/2010 về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ. Điều 7, Chương II quy định về lãi suất cho vay lại nguồn vốn vay thương mại, vốn ODA;

  • Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 04 năm 2013  của Chính phủ về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ;

  • Thông tư 218/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 Quy định về quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay ưu đãi nước ngoài của các nhà tài trợ.

  • Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/03/2015 Về quản lý chi phí đầu tư xây dựng có hiệu lực ngày 10/5/2015.

  • Thông tư số 219/2009/TT-BTC ngày 19/11/2009 của Bộ Tài chính quy định một số định mức chi tiêu áp dụng cho các dự án/chương trình sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); hiệu lực ngày 03/01/2010.

  • Thông tư 192/2011/TT- BTC, ngày 26/12/2011 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 219/2009/TT-BTC ngày 19/11/2009 của Bộ Tài chính quy định một số định mức chi tiêu áp dụng cho các dự án/chương trình sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); hiệu lực ngày 01/03/2012

  • Quyết định số 29/2011/QĐ - TTg ngày 01/6/2011 Ban hành Danh mục ngành, lĩnh vực được hưởng mức lãi suất ưu đãi khi vay lại nguồn vốn vay ODA của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 1/7/2011, trong đó quy định rõ “Xây dựng công trình cấp nước sạch phục vụ công nghiệp và sinh hoạt đô thị (đô thị loại 2, đô thị loại 3, đô thị loại 4, trừ đô thị loại 5 thuộc diện ngân sách nhà nước cấp phát)” được hưỡng lãi suất ưu đãi khi vay lại nguồn vốn ODA.

  • Thông tư số 05/2014/TT-BTC ngày 6/1/2014 Quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ, có hiệu lực từ 20/2/2014.

  • Quyết định 60/2010/QĐ – TTg ngày 30/9/2010 Ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2011 – 2015.

  • Thông tư số 151/2010/TT-BTC ngày 27/9/2010 Hướng dẫn áp dụng các loại thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước đối với quỹ phát triển đất quy định tại Điều 34 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

  • Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 10/2/2015 Về đầu tư theo hình thức đối tác công tư.

  • Thông tư số 03/2011/TT – BKHĐT ngày 27/1/2011 Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT, Hợp đồng BTO và Hợp đồng BT.

  • Luật Đất đai 45/2013/QH13, có hiệu lực từ 01/07/2014

  • Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai;

  • Căn cứ Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản;

  • Căn cứ Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất;

  • Căn cứ Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;

  • Căn cứ Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP ngày 04/4/2015 của Liên Bộ Tài nguyên và Môi trường - Tư pháp quy định việc tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất;

  • Căn cứ Thông tư số 23/2010/TT-BTP ngày 06/12/2010 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010;

  • Căn cứ Thông tư số 48/2012/TT-BTC ngày 16/3/2012; Thông tư số 02/2015/TT-BTC ngày 05/01/2015 của Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 48/2012/TT-BTC ngày 16/3/2012 hướng dẫn việc xác định giá khởi điểm và chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất;

  • Căn cứ Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg ngày 31/8/2005 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất;

  • Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

  • Luật đấu thầu 43/2013/QH13.

  • Thông tư số 225/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 quy định chế độ quản lý tài chính nhà nước đối với viện trợ không hoàn lại của nước ngoài thuộc nguồn thu NSNN.

  • Quyết định số 957/QĐ-BXD ngày 29/09/2009 của Bộ Xây dựng v/v công bố Định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng công trình;

  • Thông tư 04/2010/TT-BXD ngày 25/7/2007 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình;

  • Cở sở số liệu, dữ liệu thực trạng và các dự báo do cơ quan thuộc tỉnh và huyện Ngọc Lặc cung cấp.
  1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ NGỌC LẶC

    1. Giới thiệu chung về đô thị Ngọc Lặc, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa

      1. Lịch sử hình thành


Đô thị Ngọc Lặc (gồm thị trấn Ngọc Lặc và 05 xã là khu vực đã đô thị hóa) có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, qua các giai đoạn gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc, miền đất Ngọc Lặc trải qua nhiều thời kỳ chia tách, sát nhập, thay đổi tên gọi khác nhau.

Sau cách mạng tháng tám (1945) hình thành huyện Ngọc Lặc, Ngày 05 tháng 7 năm 1977 theo quyết định 177-CP của Hội đồng chính phủ sát nhập hai huyện Ngọc Lặc và huyện Lang Chánh gọi là huyện Lương Ngọc.

Ngày 30 tháng 8 năm 1982 theo quyết định số 149-HĐBT của Hội đồng bộ trưởng chia huyện Lương Ngọc thành hai huyện Lang Chánh và huyện Ngọc Lặc. Huyện Ngọc Lặc giữ nguyên tên gọi đến ngày nay.

Sau Cách mạng tháng Tám hình thành các đơn vị xã, với quy mô nhỏ hơn. Từ năm 1946-1963 toàn huyện Ngọc Lặc được chia thành 12 xã là: Cao Khê; Đô Lương; Quang Trung; Ngọc Thắng; Minh Sơn; Lộc Thịnh; Kiên Thọ; Phúc Thịnh; Nguyệt Ấn; Phùng Giáo; Vân Am và Lương Ngọc.

Từ năm 1963 đến năm 1982 được chia tách thành 17 đơn vị hành chính: chia xã Cao Khê thành (Ngọc Khê, Mỹ Tân và Cao Ngọc); chia xã Đô Lương thành Thuý Sơn và Thạch Lập; chia xã Lộc Thịnh thành Lộc Thịnh và Đồng Thịnh; chia xã Ngọc Thắng thành Ngọc Liên, Ngọc Trung, Ngọc Sơn và thành lập thị trấn nông trường Thống Nhất, thị trấn nông trường Sông Âm, thị trấn nông trường Lam Sơn. Cũng trong năm 1963 cắt xã Lương Ngọc về huyện Thường Xuân (nay là xã Lương Sơn và Ngọc Phụng); cắt đất mường Kim Ơi xã Quang Trung về huyện Cẩm Thủy (nay là xã Cẩm Châu); cắt đất mường Ne làng Quan Trì thuộc xã Lộc Thịnh về xã Yên Lâm thuộc huyện Yên Định ngày nay.

Ngày 05/7/1977 sáp nhập hai huyện Ngọc Lặc và huyện Lang Chánh thành huyện Lương Ngọc. Các đơn vị xã và thị trấn nông trường là: Thị trấn nông trường Sông Âm, thị trấn nông trường Lam Sơn, Vân Am, Cao Ngọc, Mỹ Tân, Ngọc Khê, Thuý Sơn, Thạch Lập, Quang Trung, Đồng Thịnh, Lộc Thịnh, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Ngọc Trung, Minh Sơn, Kiên Thọ, Nguyệt Ấn, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Quang Hiến, Đồng Lương, Tân Phúc, Tam Văn, Giao An, Trí Nang, Yên Khương, Lâm Phú.

Đến năm 1978 thị trấn nông trường Thống Nhất được chuyển về huyện Yên Định quản lý về dân số nhưng đất đai vẫn thuộc huyện Ngọc Lặc quản lý.

Năm 1982 chia xã Lộc Thịnh thành xã Lộc Thịnh và xã Cao Thịnh; chia xã Minh Sơn thành xã Minh Sơn và xã Minh Tiến; chia xã Phùng Giáo thành xã Phùng Giáo và Phùng Minh.

Năm 1982, huyện Lương Ngọc dược chia thành huyện Lang Chánh và huyện Ngọc Lặc như hiện nay. Thời kỳ này huyện Ngọc Lặc có 20 xã. Ngày 03/6/1988 Chính phủ CHXHCN Việt Nam quyết định thành lập thị trấn huyện lỵ Ngọc Lặc.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới doanh nghiệp nông lâm nghiệp. Thị trấn nông trường Lam Sơn, thị trấn nông trường Sông Âm giải thể và chuyển đất đai, dân số trước kia thị trấn quản lý về các xã quản lý. Trên cơ sở thị trấn nông trường Lam Sơn quản lý và tiếp nhận làng Minh Thuỷ (xã Minh Tiến) để thành lập xã mới.

Ngày 09 tháng 01 năm 2004 Thủ tướng Chính phủ CHXHCN Việt Nam ra nghị quyết số 15/CP về thành lập xã Lam Sơn.



Qua quá trình hình thành và phát triển, khẳng định vai trò và vị trí của đô thị Ngọc Lặc là đô thị động lực của tỉnh Thanh Hóa cũng như chức năng là đô thị trung tâm vùng phía Tây của tỉnh Thanh Hóa, là đầu tàu động lực phát triển kinh tế - xã hội, đô thị của vùng liên huyện, góp phần không nhỏ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa của tỉnh Thanh Hóa.
      1. Vị trí và điều kiện tự nhiên

        1. Vị trí


Đô thị Ngọc Lạc nằm trên đường Hồ Chí Minh và Quốc lộ 15A, cách thành phố Thanh Hóa 70 km về phía Tây, có chiều dài theo hướng Bắc Nam là 11,5 km, có chiều rộng theo hướng Đông Tây là 9,5km. Đô thị có phía Bắc giáp xã Thúy Sơn và Quang Trung, phía Nam giáp xã Minh Sơn, phía Đông giáp xã Ngọc Sơn và Ngọc Liên, phía Tây giáp xã Cao Ngọc và Mỹ Tân. Địa hình Đô thị Ngọc Lạc nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa đã có cơ hội hơn để giao lưu phát triển với các khu vực kinh tế trong vùng; được phát triển kinh tế chủ đạo là lâm nghiệp, kinh tế cửa khẩu; là khu vực bảo tồn văn hóa truyền thống, bảo tồn thiên nhiên gắn với an ninh - quốc phòng.



Ảnh: Sơ đồ phân bổ hệ thống đô thị tỉnh Thanh Hóa

Đô thị Ngọc Lc gồm có thị trấn Ngọc Lc và một phần của 07 (xã Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Ngọc Khê, Quang Trung, Thúy Sơn, Minh Sơn, Mỹ Tân), với tổng diện tích tự nhiên là 5.225,8ha; giáp giới cụ thể như sau:

- Phía Bắc: giáp xã Thúy Sơn - Quang Trung;

- Phía Nam: giáp xã Minh Sơn - Cao Ngọc;

- Phía Tây: giáp xã Ngọc Khê - Mỹ Tân;

- Phía Đông: giáp xã Ngọc Sơn - Ngọc Liên.

Đô thị trung tâm miền núi là điểm trung chuyển của nhiều loại hàng hóa lưu thông trên QL15A và đường Hồ Chí Minh, nhiều nhất là các loại hàng hóa từ cửa khẩu quốc tế Na Mèo và lâm sản được chuyển về miền xuôi. Bên cạnh đó, đây còn là điểm trung chuyển của các luồng hàng hóa tiêu dùng, vật tư nông nghiệp, lâm nghiệp từ miền xuôi lên các huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa và xuất khẩu sang Lào.


        1. Địa hình


Đô thị Ngọc Lặc và khu vực mở rộng có địa hình bán sơn địa kết hợp với vùng chiêm trũng, tính chất đó đựơc phân chia rõ rệt. Địa hình tổng khu vực đô thị nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, chia thành các tiểu vùng:

- Vùng núi cao gồm các xã phía Tây Bắc (Thúy Sơn, Mỹ Tân, phía Tây Nam xã Ngọc Khê) có địa hình dốc, hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều khe, suối. Vùng này có độ dốc đa phần là 35 - 40%.

- Vùng đồi gồm một phần các xã Quang Trung, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Minh Sơn là vùng có nhiều đồi bát úp. Vùng này có độ dốc đa phần là 15-25%

- Vùng tương đối bằng phẳng gồm thị trấn Ngọc Lặc, một phần xã Ngọc Khê, một phần xã Quang Trung. Vùng này chủ yếu có độ dốc từ 5 - 15% là đất để phát triển nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi, khu dân cư..

- Địa mạo có 3 dạng cơ bản: dạng bị rửa trôi, dạng được bồi lấp và dạng nhân sinh. Ngoài ra còn có dạng hỗn hợp. Do địa hình không đồng nhất, địa mạo phức tạp, phần nhiều đất đai ở đây bị xói mòn, bạc màu.

        1. Khí hậu


Khí hậu Ngọc Lặc thuộc khí hậu Trung du tỉnh Thanh Hoá. Nhiệt độ cao vừa phải, tổng tích ôn cả năm 7.600oC - 8.500oC, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 39 - 41oC; nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 0 - 3oC. Tổng lượng mưa hàng năm khoảng 1.800 - 2.000 mm, mùa mưa kéo dài 6 - 7 tháng, từ tháng 4 đến tháng 11, mưa lớn ở các tháng 8, 9, 10. Độ ẩm không khí lớn, trung bình 86%. Lốc xoáy và lũ cuốn đột ngột, nắng hạn kéo dài vào mùa hè, rét đậm vào mùa đông.

Với đặc điểm khí hậu thời tiết, lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp nói chung và sự sinh trưởng và phát triển của các loài động thực vật rừng nói riêng. Tuy nhiên, hiện tượng gió bão hàng năm của khu vực miền Trung có thể sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của vùng đất này.


        1. Điều kiện địa chất thuỷ văn


Khu vực quy hoạch nằm trong vùng thủy văn sông Chu. Mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 kết thúc vào tháng 11 là vùng mưa lớn, lượng mưa trung bình hăng năm 1600 - 2200 mm/năm.

Nằm tại khu vực giáp ranh với vùng đồng bằng với sự mở rộng của lưu vực các sông, suối trên hệ địa hình ít phức tạp hơn nên khu vực quy hoạch ít bị ảnh hưởng bởi thiên tai lũ lụt. Vào mùa mưa lũ các tuyến sông Cầu Chày; suối Ngọc; hồ, đập Cống Khê và các hồ khác trong khu vực nghiên cứu là nơi tiêu nước, điều tiết nước kịp thời, nhờ đó ảnh hưởng của thủy văn tới sản xuất đời sống dân cư không đáng kể và không thường xuyên.


      1. Tài nguyên thiên nhiên và tiềm năng phát triển

        1. Tài nguyên đất, rừng


Tổng diện tích tự nhiên khu vực nghiên cứu phát triển đô thị Ngọc Lặc là 5225,8ha. Trong đó, đất nông - lâm nghiệp, mặt nước khoảng 3.898ha, chiếm 74,6% diện tích tự nhiên; đất phi nông nghiệp khoảng 1.328ha, chiếm 25,4%. Thảm thực vật có các loài cây chính: nghiến, chò chỉ, de, chẹo tía, tre, luồng, bạch đàn, keo…có trữ lượng khoảng 60 -70 m3/ha. Từ những năm 1980 rừng bị cạn kiệt, các loài động vật dần bị hủy diệt. Hiện nay, do chính sách đầu tư của Nhà nước, rừng đang phục hồi, các loài động vật như khỉ, sơn dương, gà rừng, mèo rừng và các loài bò sát... đang xuất hiện trở lại.

Diện tích đất đai phục vụ cho đầu tư phát triển đô thị còn hạn chế, việc nghiên cứu để phát triển không gian đô thị theo hướng Đông Tây và hướng Nam để Xây dựng đô thị theo hướng bền vững, lâu dài cần phải tính toán cân nhắc một cách hợp lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên đất đai.


        1. Tài nguyên khoáng sản:


Theo các tài liệu địa chất khoáng sản của khu vực, và theo thực tế nhận thấy, khu vực nghiên cứu có thể có khoáng sản phi kim loại gồm: đá làm vật liệu xây dựng, đá vôi, sét xi măng, sét gạch ngói, cát...Hiện nay, có 1 số doanh nghiệp đang khai thác đá làm vật liệu xây dựng ở xã Mỹ Tân. Đặc biệt có nguồn nước khoáng nóng tại khu vực núi Sắt ở xã Ngọc Khê, xã Thúy Sơn hiện có doanh nghiệp chuẩn bị đầu tư khai thác là khu nghỉ dưỡng, du lịch.
        1. Tài nguyên nước


Khu vực quy hoạch có nhiều sông suối. Nguồn nước mặt ở đây nhiều vào mùa mưa, nghèo kiệt vào mùa đông. Đặt biệt trong khu vực có Hồ Công Khê là hồ chứa nước sạch cho các xã, thị trấn trung tâm huyện Ngọc lặc. Hồ Cống Khê có diện tích khoảng 100ha, dung tích chứa khoảng 5 triệu m3. Cho đến nay, chưa có một đánh giá nào về tiềm năng nước dưới đất (nước ngầm) đối với khu vực nhưng theo tài liệu khảo sát của toàn tỉnh thì Ngọc Lặc là địa bàn rất khó khăn về nước ngầm mạch sâu. Tuy nhiên, nước ngầm tầng nông (>< 10,00 m) ở các khu vực thấp tương đối phong phú, chất lượng nước trong, sạch đảm bảo cho sinh hoạt.
        1. Tiềm năng về du lịch


Đô thị trung tâm miền núi phía Tây có thể khai thác tài nguyên du lịch của toàn huyện. Ngọc Lặc là huyện có nhiều lợi thế để phát triển du lịch trên cơ sở phát huy giá trị của các di tích, danh thắng và văn hóa truyền thống của các dân tộc. Trong đó, 93,34ha thuộc xã Kiên Thọ, nằm trong quần thể di tích Lam Kinh đang được khai thác. Huyện Ngọc Lặc còn có các khu di tích, danh thắng sau: khu di tích Lê Lai (xã Kiên Thọ), bãi cò rộng 5,00ha (xã Kiên Thọ), đền thờ Bà Chúa Chầm (xã Phùng Giáo), đền thờ Ông Lê Lâm (xã Phùng Giáo), hang Bàn Bù (xã Ngọc Khê), hồ Cống Khê (xã Ngọc Khê, xã Mỹ Tân), hang Ngân hàng (xã Lộc Thịnh), hang Cộng sản (xã Lộc Thịnh), Di tích Cách mạng Bắc Sơn (xã Ngọc Sơn).. Các hoạt động văn hóa của các dân tộc (văn hóa phi vật thể, trò chơi, trò diễn..), ruộng bậc thang, cảnh quan của núi non, sông nước...
        1. Tiềm năng về lao động


Dân số trong khu vực có 29.879 người, mật độ dân cư trung bình khoảng 571 người/km2, chỉ số này của thị trấn Ngọc Lặc là 3.890 người/km2. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hằng năm là 1,08%, tỷ lệ tăng dân số trung bình là 1,1%. Tổng dân số trong độ tuổi lao động khoảng 16.400 người. Trong tổng dân số, có 62% là dân tộc Mường, 37% là dân tộc Kinh và một số dân tộc khác chiếm khoảng 1 %.

Đô thị Ngọc Lặc là một đô thị trẻ, có lực lượng lao động khá dồi dào chiếm khoảng trên 50% nếu được đào tạo, đây sẽ là nguồn tiềm năng lao động tại chỗ lớn để xây dựng phát triển đô thị.

Bên cạnh đó việc tăng cường đầu tư xây dựng mới và cải tạo chỉnh trang hệ thống trường nghề, trường cao đẳng tại Ngọc Lặc cho thấy đô thị có khả năng phát triển dân số và tiến tới tăng tỷ lệ dân số cơ học lớn trong gian đoạn sắp tới.

      1. Kết quả triển khai quy hoạch và quản lý phát triển đô thị Ngọc Lặc

        1. Về quản lý thực hiện theo quy hoạch


Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ủy quyền cho Chủ tịch UBND tỉnh quyết định phê duyệt quy hoạch chung đô thị trung tâm vùng miền núi phía Tây Thanh Hóa với quy mô 5.531 ha; theo đó, năm 2007 và năm 2009, Chủ tịch UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch chi tiết các khu đô thị số 1, số 2, số 3 và số 4. Đô thị trung tâm miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa đã được lập quy hoạch chung đến năm 2020 với quy mô dân số khoảng 10 vạn người với phạm vi gồm Thị trấn Ngọc Lặc và khu vực mở rộng. Trong những năm qua, địa bàn này đã thu hút các hoạt động thương mại, công nghiệp và đô thị hóa làm cho nhu cầu phát triển hệ thống hạ tầng đô thị ngày một tăng cao. Quá trình thực hiện quy hoạch chung đô thị trung tâm miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 đã gặp phải một số bất cập như thiếu đất phát triển công nghiệp, dịch vụ; một số khu vực quy hoạch chưa bám sát địa hình; một số khu vực tiềm năng chưa được định hướng phát triển, nhất là các khu vực xa trung tâm. Trong 10 năm vừa qua, việc thực hiện xây dựng theo quy hoạch có kết quả chủ yếu như sau:

- Tại khu đô thị số 1 (Khu vực xã Ngọc Liên): Cải tạo chỉnh trang khu phố Thái (dọc theo đường Hồ Chí Minh cũ) gồm: lát vỉa hè, trồng cây xanh, chiếu sáng, quản lý xây dựng về kiến trúc cảnh quan đối với nhiều công trình công cộng và nhà của dân. Đây là khu phố khá phát triển của khu vực trong thời gian qua. (2) Đang thi công xây dựng đường trục trung tâm, thi công khu quảng trường, trường nội trú của Tỉnh, cơ quan bảo hiểm huyện, dự kiến quy hoạch di chuyển toàn bộ các cơ quan công quyền của huyện lên khu vực xung quanh quảng trường này. Tuy nhiên, tuyến đường trục chính đô thị đang gặp khó khăn về giải phóng mặt bằng.

- Tại khu đô thị số 2 (Khu vực thị trấn Ngọc Lặc): Đã xây dựng xong Nhà máy thức ăn cho bò, Nhà máy may. Quy hoạch khu dân cư ven Hồ với quy mô khoảng 10ha. Đang thực hiện dự án xây dựng khoảng 850m đường đô thị có mặt cắt 11,5m (quy hoạch là 64m). Nhìn chung tại khu đô thị số 2, các hoạt động xây dựng và chỉnh trang đô thị đã thực hiện khá đáng kể nhưng chỉ được ở hai bên đường giao thông.

- Tại khu đô thị số 3 (Khu vực thị trấn Ngọc Lặc, có trung tâm huyện hiện nay): Cải tạo khu cơ quan hành chính Huyện gồm: Chỉnh trang, cải tạo các công trình xuống cấp và cảnh quan xung quanh. Xây dựng trung tâm bồi dưỡng chính trị, Bệnh viên đa khoa Ngọc Lặc 500 giường, xây dựng một số công trình thương mại dịch vụ với tổng quy mô khoảng 12ha.

- Về khu công nghiệp: Tổng diện tích quy hoạch là 120ha, hiện lấp đầy được 20%, một số dự án thay đổi địa điểm xây dựng do không thuận lợi về xây dựng và xu hướng phát triển khu vực không còn phù hợp với vị trí dự kiến của đồ án quy hoạch. Hiện nay nhà máy xi măng đã dừng xây dựng là do hết vốn đầu tư, Nhà máy chế biến tre luồng xuất khẩu đã đi vào hoạt động.

Nhìn chung việc thực đồ án quy hoạch 2005 như sau: về quy mô dân số, đạt khoảng 30.000 người (tăng 4.050 người/75.000 người theo quy hoạch); về diện tích xây dựng đô thị đang xây dựng đạt thêm tăng 36ha/210ha theo quy hoạch. Như vậy, so sánh với chỉ tiêu quy hoạch là đến năm 2020, dân số 10 vạn người, đất xây dựng đô thị là 1.750 ha thì kết quả thực hiện quy hoạch ở thời điểm 2015 còn hạn chế.


        1. Về quản lý đất đai


Huyện Ngọc Lặc đã tập trung chỉ đạo UBND xã, thị trấn tăng cường công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch; lập báo cáo biến động đất đai; triển khai thực hiện tổng hợp báo cáo kết quả kiểm kê đất đai theo Chỉ thị số 31/2008/CT- CP của Thủ tướng Chính phủ và các báo cáo của ngành về lĩnh vực đất đai, khoáng sản và môi trường; công tác đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất; duyệt hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất; công tác giao đất, cho thuê đất Doanh nghiệp; giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân; giao đất xây dựng nhà văn hoá khu phố; công tác giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại về đất đai và bồi thường GPMB giải quyết theo đúng quy định của pháp luật; chỉ đạo UBND xã, thị trấn xử lý các trường hợp vi phạm về đất đai, quy hoạch xây dựng.

Quan tâm thực hiện công tác quản lý, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường; Tổ chức kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014, lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2015 -2020. Kiểm tra công tác quản lý, sử dụng đất, sử dụng tài nguyên và môi trường của các tổ chức, doanh nghiệp; qua kiểm tra đã nhắc nhở để các đơn vị thực hiện tốt quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng đất, tài nguyên và môi trường.



Bảng 3: Hiện trạng sử dụng đất

TT


Loại đất


Hiện trạng 2015

Diện tích (ha)

Chỉ tiêu (m2/ng)

Tỷ lệ (%)

 

Tổng diện tích tự nhiên

5225,80

 

 

I

Đất xây dựng đô thị

1017,03

 

100,0%

1

Đất dân dụng

900,97

301,54

88,6%

-

Đất các khu ở

786,53

263,24

77,3%

 

Đất các khu dân cư hiện hữu

786,53

 

77,3%

 

Đất các khu đô thị mới

 

 

0,0%

-

Đất công trình công cộng

47,35

15,85

4,7%

-

Đất cây xanh,TDTT

6,29

2,11

0,6%

-

Đất giao thông đối nội

60,80

20,35

6,0%

2

Đất ngoài dân dụng

116,06

 

11,4%

 

Đất công nghiệp, sản xuất kinh doanh

34,38

 

3,4%

 

Đất các trung tâm thương mại

 

 

0,0%

 

Đất khu sinh thái, du lịch

 

 

 

 

Đất cơ quan Huyện

22,06

 

2,2%

 

Đất công cộng vùng

 

 

 

 

Đất tôn giáo

5,60

 

0,6%

 

Đất nghĩa trang

17,64

 

1,7%

 

Đất quân sự

11,11

 

1,1%

 

Đất giao thông đối ngoại

25,27

 

2,5%

II

Đất khác.

4208,77

 

 

1

Mặt nước sông, suối, hồ

167,42

 

 

2

Đất nông nghiệp

883,46

 

 

 

Đất trồng lúa

430,36

 

 

 

Đất trồng hoa màu

401,90

 

 

 

Đất trồng cây lâu năm

51,20

 

 

3

Đất núi rừng + lâm nghiệp

3157,89

 

 

4

Đất dự trữ phát triển đô thị

 

 

 
        1. Về quản lý môi trường


Trong thời gian qua, huyện phối hợp với các xã, thị trấn đã tập trung công tác quản lý bảo vệ môi trường, cụ thể: Xây dựng kế hoạch thực hiện ngày môi trường thế giới, triển khai, phát động tháng cao điểm, tuần lễ đảm bảo VSMT; phối hợp với Sở Tài nguyên và môi trường Thanh Hoá để kiểm tra các đơn vị sản xuất kinh doanh, chỉ đạo UBND xã, thị trấn trên địa bàn kiểm tra các Doanh nghiệp về công tác xử lý vệ sinh môi trường chất xả thải, chất thải khu vực doanh nghiệp sản xuất; xây dựng kế hoạch mở rộng diện thu gom rác trên địa bàn; xây dựng kế hoạch mở rộng diện thu gom rác trên địa bàn; xét duyệt bản cam kết môi trường của các tổ chức đăng ký.

Tăng cường công tác đảm bảo vệ sinh và bảo vệ môi trường, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức phát động và tuyên truyền sâu rộng, triển khai thực hiện tốt các hoạt động bảo vệ Môi trường; phát động tháng cao điểm, tuần lễ đảm bảo VSMT; thực hiện công tác thu gom rác thải và áp dụng các biện pháp làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường; các dự án khai thác khoáng sản đã báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường sau khai thác. Thường xuyên kiểm tra các đơn vị đã được cấp phép khai thác, chế biến khoáng sản tuân thủ theo quy định và đảm bảo môi trường.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do các hoạt động kinh tế - xã hội được quản lý chưa chặt chẽ nên bắt đầu có sự thay đổi về cảnh quan, môi trường: nguồn nước có nơi bị ô nhiễm, đất rừng, đất nông nghiệp bị thu hẹp do các hoạt động xây dựng, gây một số khó khăn cho sản xuất và đời sống như: hạn hán, ngập úng cục bộ, dịch bệnh xảy ra không theo mùa.

        1. Về quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị


Trong những năm qua huyện đã có nhiều cố gắng đầu tư phát triển hạ tầng đô thị: các công trình hạ tầng kỹ thuật như giao thông, điện, cấp thoát nước được đầu tư. Các tuyến đường nội thị được nâng cấp. Được sự ủng hộ đóng góp của nhân dân thực hiện phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, việc chỉnh trang đô thị đã đạt được những kết quả tốt, bộ mặt đô thị từng bước được đổi mới. Nếp sống đô thị đang dần được hình thành. Nhiều khu dâ cư mới được xây dựng đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật; công trình nhà ở dân dụng xây dựng đảm bảo kiến trúc đô thị, các khu dân cư cũ được chỉnh trang. Những kết quả như sau:

+ Giao thông: Việc triển khai xây dựng theo quy hoạch chung tuyến đường vành đai của khu đô thị số 1 nhưng vẫn chưa hoàn thành toàn tuyến do khó khăn về giải phóng mặt bằng. Có 2 dự án là đường QL15A, đường mòn Hồ Chí Minh là các tuyến sẵn có và do Trung ương đầu tư. Còn lại các các khu vực chỉnh trang đô thị chủ yếu là nâng cấp bộ mặt kiến trúc cảnh quan và hạ tầng cho khu vực trung tâm huyện và thị trấn Ngọc Lặc. Hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật được quy hoạch ở các khu vực khác hầu như chưa được thực hiện.

+ Về các công trình cầu, cống: Trừ các công trình trên đường Hồ Chí Minh mới được xây dựng, còn là một số công trình có tải trọng cấp thấp, khổ hẹp, tĩnh không thấp và rất hạn chế trong khai thác vận tải, gây mất an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông.

+ Cấp điện: Khu vực đô thị được cấp điệp từ lưới điện 35,22KV khu vực huyện Ngọc Lặc. Toàn bộ các tuyến trung thế và hạ thế tại đây được đi nổi, các trạm hạ thế có công suất có công suất từ 100KVA đến 320 KVA được xây hoặc treo. Nhìn chung công suất cấp điện đủ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn. Đáng chú ý là trên địa bàn còn có tuyến điện truyền tải 500KV và 110kV Quốc gia đi qua.

+ Cấp nước sạch: Khu vực đô thị hiện đang sử dụng nguồn nước từ Hồ Cống Khê, sông, suối. sau đó được xử lý cục bộ và cho từng khu vực. Hệ thống cấp nước sạch chưa được xây dựng đáng kể.

+ Thoát nước thải, vệ sinh môi trường: Khu vực quy hoạch chưa có hệ thống thoát nước thải, nước thải sinh hoạt và chăn nuôi cơ bản vẫn thoát tự nhiên ra ao hồ, sông, suối và kênh thủy lợi lân cận. CTR sinh hoạt chủ yếu được đổ ra các hố tạm chưa có biện pháp xử lý, hoặc đổ ra ven đường giao thông, ven các lưu vực sông gây mất vệ sinh mỹ quan khu vực. Chất thải nguy hại, rác thải y tế ch­ưa được thu gom và xử lý riêng biệt đúng quy định.

+ Nhà tang lễ và nghĩa trang: Khu vực đô thị chưa có nhà tang lễ và nghĩa trang tập trung, tại mỗi thôn xã, thị trấn đều có nghĩa trang riêng. Tuy nhiên hầu hết các nghĩa trang này chưa đảm bảo vệ sinh môi trường.

Xây dựng mới và cải tạo trụ sở làm việc các cơ quan hành chính huyện và xã, thị trấn. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng văn hóa – xã hội. Cải tạo nâng cấp bệnh viện đa khoa Ngọc Lặc, các trạm y tế xã, phường,… đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân. Lập hồ sơ chuẩn bị đầu tư Trung tâm văn hóa, Trung tâm hội nghị huyện; tập trung giải phóng mặt bằng để trùng tư tôn tạo di tích lịch sử, danh thắng, một số công trình trọng điểm đang được triển khai đúng tiến độ.


        1. Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – thương mại, dịch vụ


Trong giai đoạn 2010-2015, trong quá trình phát triển chung của tỉnh, đô thị Ngọc Lặc đã có nhiều nỗ lực, tranh thủ ngoại lực, thu hút đầu tư vào phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội và xây dựng đô thị, tạo ra diện mạo mới cho thị xã khu vực phía Tây tỉnh góp phần tích cực vào tăng trưởng chung kinh tế xã hội tỉnh, nhất là tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ thương mại.

Các cụm công nghiệp đang hoạt động như Nhà máy chế biến thức ăn cho Bò, Nhà máy may, cụm công nghiệp chế biến tre luồng xuất khẩu đang thu hút khoảng 2500 người lao động cư trú khá ổn định tại Huyện. Ngoài ra hiện còn có 120ha đất dự án cụm công nghiệp Ngoc Lặc có thể thu hút khoảng 35.000 người. Các cụm Ngọc Lặc đang đóng góp quan trọng vào chuyển dịch kinh tế của Huyện. Hiện nay cơ cấu công nghiệp – xây dựng chiếm với tỷ trọng 16,5% GDP, đóng góp đáng kể cho nguồn ngân sách của Huyện và của Tỉnh.

Dự báo trong giai đoạn 2015-2030, Công nghiệp Ngọc Lặc sẽ phát triển các ngành nghề Khai thác, chế biến lâm sản, sản xuất các mặt hàng từ lâm sản với nguồn tài nguyên rừng tại địa phương gồm nhiều loại gỗ quý như Lim, Lát, Táu, Nghiến... Phát triển các công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, Chế biến thực phẩm, dệt may, sản xuất đồ nhựa, vật liệu xây dựng, Sản xuất tiểu thủ công nghiệp có từ nguyên liệu địa phương và các ngành sử dụng nhiều lao động khác. Đến năm 2025, ngàng công nghiệp xây dựng có thể chiếm khoảng 30% GDP.

Thị trường chính: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Thanh Hóa và xuất khẩu. Nhu cầu phát triển các cơ sở công nghiệp: Các khu, điểm công nghiệp sẽ hình thành ở các khu vực có điều kiện thuận lợi về giao thông để tập kết vật liệu và phân phối hàng hóa, có điều kiện nền xây dựng ổn định, không bị ngập úng và các loại thiên tai khác.

Hiện nay, ngành dịch vụ phát triển do sức lưu thông trên Đường Hồ Chí Minh, QL15A và cửa khẩu Na Mèo được gia tăng. Đến năm 2015, ngành thương mại dịch vụ chiếm khoảng 41,1% trong cơ cấu kinh tế, công trình thương mại dịch vụ đã bắt đầu hình thành với các công trình tập trung ở khu trung tâm thị trấn Ngọc Lặc. Tại các khu vực khác nhất là hai bên đường Hồ Chí Minh và đường QL15A, Các cơ sở dịch vụ chủ yếu gắn với nhà ở. Dự báo đến năm 2025, Khu vực Ngọc Lặc sẽ tiếp tục phát triển với vai trò là trung tâm Miền núi phía Tây Thanh Hóa và sẽ chiếm tỷ lệ trên 45% trong GDP của khu vực.

Các ngành nghề kinh doanh chính sẽ là Lâm sản, Nông sản, hàng tiêu dùng, Hỗ trợ sản xuất công nghiệp, Kho tàng bến bãi cho xuất khẩu với mặt hàng chủ lực là gỗ. dịch vụ tài chính, viễn thông.

Tại đô thị có thể hình thành các trung tâm thương mại mối cho các điểm trung tâm vệ tinh trong toàn vùng miền núi phía Tây về các loại hình dịch vụ như trên. Các khu, điểm này sẽ hình thành ở các khu vực có điều kiện thuận lợi về giao thông để tập kết vật liệu và phân phối hàng hóa, có điều kiện nền xây dựng ổn định, không bị ngập úng và các loại thiên tai khác


        1. Về văn hóa- xã hội và giải quyết việc làm


Trong những năm qua, huyện đã tập trung đổi mới phương thức hoạt động của các cơ quan thông tin, tuyên truyền và hoạt động văn hoá văn nghệ theo hướng hiện đại hóa, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục; thực hiện chương trình hành động theo kết luận TW 10 (Khóa IX) về "Xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc". Thu hút vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế để xây dựng một số công trình: Nhà Thiếu nhi, Trung tâm VH-TDTT, công viên cây xanh, sân vận động, bể bơi, nhà thi đấu thể thao. Nâng cao chất lượng phong trào hoạt động văn hóa, thể thao quần chúng; tăng cường quản lý dịch vụ văn hoá, kiểm tra, xử lý nghiêm những vi phạm trong hoạt động dịch vụ văn hoá như: karaoke, Internet v.v.., tạo môi trường văn hoá lành mạnh. Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.

Quan tâm chỉ đạo giải quyết việc làm, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Trên cơ sở phát triển công nghiệp, dịch vụ chuyển dịch mạnh cơ cấu lao động để năm 2015 tỷ lệ lao động khu vực nông nghiệp giảm còn .....%, lao động CN-TTCN, dịch vụ .....%. Hằng năm giải quyết trên ........ lao động có việc làm mới. Chăm lo đời sống của các đối tượng chính sách và đảm bảo các chính sách xã hội khác.


        1. Về nông nghiệp


Việc phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa là tiền đề vững chắc cho quá trình đô thị hóa của đô thị Ngọc Lặc và hình thành thị xã trong tương lai. Trong những năm vừa qua thị xã tiếp tục chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp; chuyển dịch một phần diện tích sang trồng các loại cây có giá trị hàng hoá cao và diện tích cho chăn nuôi. Năng suất lúa hằng năm đạt bình quân ..... tạ/ha; sản lượng lương thực ổn định ........ tấn. Lương thực bình quân đầu người khu vực nông nghiệp đạt ..... kg/ng/năm. Từng bước đưa sản xuất vụ Đông thành vụ sản xuất chính, tăng diện tích lúa lai, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để thâm canh tăng năng suất các loại cây trồng.

Phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, hình thành các trang trại tập trung có quy mô lớn. Chăn nuôi gia súc chủ yếu bò lai sin (cả bò thịt và bò sữa), lợn hướng nạc. Thuỷ sản tập trung nuôi các loại cá, tôm có giá trị kinh tế cao. Phát triển đàn gia cầm theo hướng chăn nuôi công nghiệp.

Với đặc thù là đô thị miền núi, việc bảo vệ, chăm sóc và trồng rừng đảm bảo diện tích rừng che phủ đất trống, đồi núi trọc, ổn định trên .... ha tạo môi trường sinh thái cho đô thị công nghiệp phát triển rất được quan tâm.

Phát triển ngành nghề TTCN tạo thêm việc làm cho nông dân, tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn; phân bố lại ruộng đất và lao động nhằm da dạng hóa sản phẩm nông nghiệp-lâm nghiệp cung cấp nguyên liệu tại chỗ cho công nghiệp chế biến và tham gia xuất khẩu.


        1. Về bộ máy quản lý và trung tâm hành chính các cấp


Công tác cải tạo, nâng cấp hệ thống trung tâm hành chính của đô thị được xem là một trong các chương trình ưu tiên thực hiện giai đoan 2010-2015. Cụ thể gồm, cải tạo mở rộng nâng cấp trụ sở: UBND, HĐND huyện Ngọc Lặc và Trụ sở làm việc Huyện ủy Ngọc Lặc,... Đồng thời tiến hành cải tạo xây dựng mới: Trụ sở làm việc UBND thị trấn Ngọc Lặc.

Về bộ máy quản lý và thủ tục hành chính: đến nay, huyện tiếp tục củng cố sắp xếp các phòng ban chuyên môn UBND theo tinh thần nghị định 14/2008/NĐ-CP đảm bảo yêu cầu quản lý phát triển đô thị; ban hành phương án cơ cấu, số lượng, chất lượng cán bộ công chức thuộc UBND huyện, thị trấn và các xã, phương án về cơ cấu, số lượng, chất lượng các đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND huyện; tập trung thực hiện đề án 30 của Chính phủ về rà soát thủ tục hành chính theo kế hoạch và yêu cầu của tỉnh; kiện toàn Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả bước đầu đi vào hoạt động phát huy hiệu quả. Tích cực đôn đốc thực hiện chỉ thị 32/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính trong giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp;





    1. Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương