Cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam thành phố HỒ chí minh độc lập Tự do Hạnh phúc



tải về 116.39 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu01.11.2017
Kích116.39 Kb.

ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


BAN CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN

PHÁP LỆNH BẢO VỆ BMNN Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 10 năm 2012



Số: 5266 /HD-BCĐ




ỚNG DẪN

Thực hiện một số nội dung trong công tác

bảo vệ bí mật nhà nước

Căn cứ các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước (BMNN) tại các văn bản: Pháp lệnh bảo vệ BMNN năm 2000 (Pháp lệnh), Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm 2002 của Chính phủ (Nghị định 33), Thông tư số 12/2002/TT-BCA(A11) ngày 13 tháng 9 năm 2002 của Bộ Công an (Thông tư 12); căn cứ Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 21 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng hiệu quả công tác bảo vệ BMNN trong tình hình mới (Chỉ thị 05) và Hướng dẫn của Bộ Công an tại văn bản số 02/HD-BCA-A81 ngày 12 tháng 3 năm 2012, Ban chỉ đạo thực hiện pháp lệnh bảo vệ BMNN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Ban chỉ đạo BMNN TP) hướng dẫn thực hiện một số nội dung cụ thể trong công tác bảo vệ BMNN như sau:



1. Việc rà soát Quy chế bảo vệ BMNN:

Ngày 29 tháng 8 năm 2008, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đã ký Quyết định số 68/QĐ-UBND ban hành Quy chế bảo vệ BMNN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Qua quá trình tổ chức thực hiện Quy chế vào thực tiễn công tác bảo vệ BMNN tại cơ quan, đơn vị trong thời gian qua; giao Thủ trưởng các Sở, Ban, Ngành và các đơn vị tương đương cấp Sở (sau đây gọi chung là đơn vị cấp Sở), Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận, huyện (sau đây gọi chung là đơn vị cấp Quận) chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tổ chức rà soát Quy chế để đề xuất các nội dung cần phải sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, qua đó tập hợp văn bản báo cáo về Ủy ban nhân dân thành phố (qua Thường trực Ban chỉ đạo BMNN TP) xem xét, quyết định.

Song song với việc rà soát Quy chế bảo vệ BMNN của thành phố, yêu cầu Thủ trưởng các đơn vị khẩn trương rà soát, kiểm tra việc xây dựng và ban hành nội quy bảo vệ BMNN của cơ quan mình và các đơn vị trực thuộc. Nếu đơn vị nào chưa có nội quy hoặc có nội quy nhưng chưa đúng, chưa đầy đủ thì phải căn cứ vào Quy chế bảo vệ BMNN của thành phố để nhanh chóng xây dựng hoặc chỉnh sửa và ban hành nội quy bảo vệ BMNN của cơ quan mình.

2. Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung, giải mật Danh mục BMNN:

Khoản 3 Điều 3 Nghị định 33 và điểm b Mục 1 Thông tư 12 đã quy định: Vào quý I hàng năm, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xem xét, đề xuất sửa đổi, bổ sung, giải mật Danh mục BMNN.

Sửa đổi, bổ sung Danh mục BMNN là việc nghiên cứu, xem xét các Danh mục BMNN của cơ quan, ngành mình đã được cấp có thẩm quyền ban hành, đối chiếu với tình hình và thực tế công tác, nếu phát hiện thấy nội dung nào trong Danh mục không còn phù hợp cần phải sửa đổi thì đề xuất sửa đổi nội dung, nội dung nào đã được xác định độ mật nhưng chưa phù hợp thì đề xuất thay đổi độ mật, nội dung nào chưa có trong Danh mục nhưng xét thấy cần thiết thì đề xuất bổ sung vào Danh mục.

Giải mật BMNN bao gồm 2 nội dung là giải mật Danh mục BMNN và giải mật tin, tài liệu thuộc phạm vi BMNN. Giải mật Danh mục BMNN là việc nghiên cứu, xem xét các Danh mục BMNN đã được ban hành, nếu xét thấy những nội dung nào không cần thiết phải quy định thuộc phạm vi BMNN nữa thì báo cáo đề xuất đưa ra khỏi Danh mục. Giải mật tin, tài liệu thuộc phạm vi BMNN là việc xem xét các tin, tài liệu thuộc phạm vi BMNN do cơ quan, đơn vị đang quản lý, đối chiếu với khái niệm BMNN để có đề xuất giải mật, cụ thể như sau:

- Tin, tài liệu có nội dung BMNN mà Nhà nước chưa công bố sẽ được giải mật sau khi được công bố.

- Tài liệu có nội dung BMNN chỉ được giải mật khi nội dung của tài liệu nếu bị tiết lộ không còn gây nguy hại cho Nhà nước.

- Đối với tài liệu lưu trữ lịch sử có nội dung BMNN, việc giải mật được thực hiện theo quy định của Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13 đã được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 11 tháng 11 năm 2011 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2012.

Việc tiêu hủy tài liệu mật khi không còn giá trị sử dụng hoặc không cần lưu trữ phải theo quy trình chặt chẽ và được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật.

Do hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể về quy trình giải mật tin, tài liệu thuộc phạm vi BMNN nên đề nghị các đơn vị tiến hành rà soát, tập hợp các đề xuất giải mật cụ thể của cơ quan, đơn vị mình báo cáo về Ban chỉ đạo BMNN TP để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét quyết định.

Việc rà soát đề xuất sửa đổi, bổ sung, giải mật Danh mục BMNN (gọi chung là rà soát Danh mục BMNN) cần thực hiện theo hướng mở rộng công khai trong các hoạt động của cơ quan, tổ chức, địa phương nhưng phải đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới.

Rà soát Danh mục BMNN là nhiệm vụ của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, là một nội dung quan trọng trong công tác bảo vệ BMNN, được tiến hành thường xuyên và báo cáo định kỳ hàng năm.

Nội dung rà soát Danh mục BMNN và chế độ báo cáo kết quả rà soát thực hiện như sau:

- Các đơn vị cấp Sở tiến hành rà soát đối với 02 Danh mục BMNN gồm: Danh mục BMNN của ngành mình và Danh mục BMNN của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố.

- Các đơn vị cấp Quận tiến hành rà soát đối với Danh mục BMNN của địa phương.

- Kết quả rà soát Danh mục BMNN phải được tập hợp báo cáo bằng văn bản (dù không có nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung, giải mật…). Báo cáo kết quả rà soát của các đơn vị cấp Sở gửi về các Bộ, Ban, Ngành chủ quản theo ngành dọc đồng thời gửi về Ủy ban nhân dân thành phố (qua Thường trực Ban chỉ đạo BMNN TP) để theo dõi. Báo cáo kết quả rà soát của các đơn vị cấp Quận gửi về Ủy ban nhân dân thành phố (qua Thường trực Ban chỉ đạo BMNN TP) để tập hợp báo cáo.

3. Việc xác định khu vực cấm, đa điểm cấm:

Việc xác định các khu vực cấm, địa điểm cấm được thực hiện theo các quy định của Quyết định số 160/2004/QĐ-TTg ngày 06 tháng 9 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định 33 của Chính phủ và Thông tư 12 của Bộ Công an.

Khu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi BMNN là những nơi có nhiều họat động liên quan đến BMNN, lưu giữ nhiều thông tin, hiện vật hoặc tài liệu thuộc danh mục BMNN cần được bảo vệ chặt chẽ, kiểm soát người qua lại nhằm duy trì trật tự, an ninh và phòng chống các hành vi xâm nhập, phá hoại, thu thập BMNN; trong đó “khu vực cấm” là nơi có phạm vi rộng lớn như trụ sở cơ quan, công trình, mục tiêu đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị văn hóa xã hội… nơi diễn ra nhiều hoạt động liên quan đến BMNN hoặc chứa đựng nhiều BMNN, “địa điểm cấm” là một bộ phận trong cơ quan mà hoạt động của nó có liên quan đến BMNN như bộ phận cơ yếu, bộ phận văn thư, nơi in sao tài liệu mật, nơi hội họp, phổ biến BMNN, nơi lưu trữ tài liệu mật...

Việc cắm biển “Khu vực cấm”, “Địa điểm cấm” là vấn đề rất nhạy cảm về chính trị, xã hội. Vì vậy các đơn vị cần cân nhắc trước khi quyết định cắm biển cấm. Chỉ cắm biển cấm khi không có biện pháp bảo vệ nào tốt hơn. Đối với các công trình quan trọng về an ninh quốc gia, mục tiêu đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, đã có lực lượng vũ trang hoặc lực lượng bảo vệ chuyên trách bảo vệ 24/24h thì không cần thiết cắm biển cấm.

Việc xác định khu vực cấm, địa điểm cấm được thực hiện như sau:

- Đối với Khu vực cấm: Thẩm quyền xác định thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố. Thủ trưởng các đơn vị cấp Sở và cấp Quận có trách nhiệm tổ chức rà soát, xác định các khu vực cấm thuộc đơn vị mình, có văn bản báo cáo đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố xem xét, quyết định.

- Đối với Địa điểm cấm: Thẩm quyền xác định thuộc về Thủ trưởng của các cơ quan, đơn vị. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và tình hình hoạt động thực tế, thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm tổ chức rà soát, xác định các địa điểm cấm trong phạm vi cơ quan mình và ra Quyết định xác định địa điểm cấm.

Sau khi có quyết định Khu vực cấm, Địa điểm cấm, Thủ trưởng các đơn vị quản lý khu vực cấm, địa điểm cấm phải xây dựng và niêm yết nội quy bảo vệ, xây dựng các phương án bảo vệ, tổ chức kiểm soát người ra, vào.



4. Tiến độ thực hiện và chế độ báo cáo:

Việc rà soát Quy chế bảo vệ BMNN, rà soát Danh mục BMNN, đề xuất khu vực cấm và xác định địa điểm cấm là trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, là nội dung quan trọng trong công tác bảo vệ BMNN, phải được tiến hành thường xuyên và báo cáo định kỳ hàng năm.



4.1. Tiến độ thực hiện: Từ nay đến cuối năm 2012 các cơ quan, đơn vị hoàn thành các nội dung sau đây:

- Rà soát Quy chế bảo vệ BMNN của thành phố.

- Ban hành nội quy bảo vệ BMNN của cơ quan đơn vị mình.

- Báo cáo kết quả rà soát, sửa đổi, bổ sung, giải mật Danh mục BMNN.

- Ban hành quyết định xác định các địa điểm cấm thuộc phạm vi BMNN của cơ quan, đơn vị mình.

- Ban hành nội quy và các phương án bảo vệ đối với các khu vực cấm, địa điểm cấm thuộc cơ quan, đơn vị mình quản lý.

- Báo cáo đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố quyết định đối với khu vực cấm.

4.2. Chế độ báo cáo:

- Định kỳ hàng năm, các đơn vị cấp Sở và cấp Quận tập hợp các kết quả rà soát đối với Quy chế bảo vệ BMNN, Danh mục BMNN và kết quả đề xuất khu vực cấm, xác định địa điểm cấm, tổng hợp các nội dung này đưa vào Báo cáo sơ kết công tác bảo vệ BMNN hàng năm của đơn vị, gửi về Ủy ban nhân dân thành phố (qua Thường trực Ban chỉ đạo BMNN TP).

- Các nội dung sau đây có báo cáo riêng bằng văn bản: Báo cáo đề xuất sửa đổi, bổ sung Quy chế bảo vệ BMNN gửi Ủy ban nhân dân thành phố; Báo cáo rà soát danh mục BMNN của các đơn vị cấp Sở gửi các Bộ, Ban, Ngành chủ quản; báo cáo đề xuất xác định khu vực cấm gửi Ủy ban nhân dân thành phố. Thời điểm gửi báo cáo ngay sau khi hoàn thành công tác rà soát.

Riêng kết quả rà soát, sửa đổi, bổ sung, giải mật Danh mục BMNN trong năm 2012, theo yêu cầu của Bộ Công an, đề nghị các đơn vị có báo cáo riêng gửi về Ủy ban nhân dân thành phố (qua Thường trực Ban chỉ đạo BMNN) trước ngày 15 tháng 10 năm 2012.

Địa chỉ Thường trực Ban chỉ đạo BMNN TP: Công an thành phố Hồ Chí Minh, số 230 đường Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Trong quá trình thực hiện nếu có thắc mắc đề nghị các đơn vị liên hệ qua Tổ Chuyên viên giúp việc cho Ban chỉ đạo BMNN TP - Phòng PA83 Công an thành phố, số 316 Khuông Việt, phường Phú Trung, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh, điện thoại: 08.38387545; 0903878046./.





Nơi nhận:




TRƯỞNG BAN

- TTUB: CT, PCT/NC;

- Ủy ban MTTQ Việt Nam TP;

- Các đoàn thể thành phố;

- Các thành viên BCĐ TP;

- Các Sở, Ban, ngành TP;

- UBND các quận, huyện;

- Tòa án nhân dân thành phố;

- Viện Kiểm sát nhân dân thành phố;

- Cục Hải quan thành phố;

- VPUB: CVP, PVP/NC;

- Phòng PCNC;

- Lưu:VT, (NC-K) H.






PHÓ CHỦ TỊCH

Lê Minh Trí




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương