Cõi người cũng bao dung lắm



tải về 1.71 Mb.
trang4/5
Chuyển đổi dữ liệu30.10.2017
Kích1.71 Mb.
1   2   3   4   5

Từ một giải thưởng

không thành



Hoài Nam

1. Dưới cái đầu đề Từ một giải thưởng không thành, người viết bài này xin được đề cập cuốn tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của nhà văn Hồ Anh Thái – cuốn sách gây xôn xao dư luận ngay khi xuất bản lần đầu (NXB Đà Nẵng, 2002), và càng gây xôn xao dư luận hơn khi nó “được” Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khước từ trao giải thưởng văn học năm 2003. Tốt hơn cả, chúng ta đọc lại sự việc này từ một phần bản báo cáo công tác xét giải thưởng văn học năm 2003: ... “Cuốn sách nhận được số phiếu quá bán của giai đoạn sơ khảo và chung khảo, nhưng không đủ số phiếu cần thiết của Ban Chấp hành. Các thành viên trong hội đồng giải thưởng đều nhất trí rằng, trong những năm vừa qua, nhà văn Hồ Anh Thái đã cố gắng tìm tòi một lối đi riêng trong phương pháp tiếp cận và phản ánh hiện thực. Nhà văn luôn không bằng lòng với cái mà mình đã có, đang có, và anh đã cố gắng đi tìm, tìm triết lý nhân sinh trong giáo lý của đạo Phật, nghiên cứu thi pháp tiểu thuyết của các tác giả hiện đại trong và ngoài nước. Đó là một hướng đi đúng, cần thiết đối với một nhà văn. Nhưng, ở Cõi người rung chuông tận thế, tác giả đã không đạt được cái đích cần phải tới. Một cuốn sách mang nội dung hướng thiện, chối bỏ cái ác, nhưng khi biểu đạt, anh lại tỏ ra lúng túng trong việc xử lý các mối quan hệ giữa cái thực và cái ảo. Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của anh bạo liệt, không phù hợp với sự tiếp nhận của phần đông công chúng yêu văn học Việt Nam...” (Văn nghệ, số 6, ngày 7-2-2004, trang 7)

2. Tôi sẽ không bàn tới ở đây sự bất cập trong cách thức xét trao giải của Hội Nhà văn (gần như toàn bộ Ban Chấp hành Hội Nhà văn có mặt trong hội đồng chung khảo, là vòng quyết định, nhưng ở giai đoạn này, Cõi người rung chuông tận thế được quá bán số phiếu, còn khi lên Ban Chấp hành lại không! Có vấn đề gì về mặt quy chế ở đây chăng, khi Ban Chấp hành đã sử dụng một cái quyền giống như quyền veto phủ quyết?) Tôi cũng sẽ không bàn ở đây rằng, Cõi người rung chuông tận thế có xứng đáng hơn hay không so với cuốn tiểu thuyết được giải (Cơn giông của Lê Văn Thảo). Điều tôi đọc thấy từ những dòng nhận xét trên, là dường như có sự lệch pha nào đó giữa đối tượng được định giá và hệ quy chiếu dùng để định giá đối tượng: thay vì dùng con dao, người ta lại dùng chiếc kim để giải phẫu!

3. “Các thành viên trong Hội đồng đều nhất trí với nhau rằng, trong những năm vừa qua, nhà văn Hồ Anh Thái đã cố gắng tìm tòi một lối đi riêng trong phương pháp tiếp cận và phản ánh hiện thực”.



Đó là sự xác nhận cho những nỗ lực nghệ thuật của nhà văn, song chỉ là xác nhận trên những phương diện cục bộ và thuần tính kỹ thuật (phương pháp tiếp cận và phản ánh), vẫn còn nguyên đó cái khái niệm “hiện thực” chật hẹp và cổ lỗ, cái “hiện thực như nó vốn có” mà các tín đồ của chủ nghĩa hiện thực cổ điển vẫn tôn sùng! Và Hồ Anh Thái chẳng qua chỉ ghi điểm bằng việc bóc cái hiện thực ở điểm mà người khác chưa bóc, bóc bằng công cụ mà người khác chưa dùng. Nhưng thực chất – chỉ nói riêng trong trường hợp tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế – nhà văn đã thể hiện một quan niệm mới về hiện thực, đúng hơn, anh đã dựng lên một hiện thực mới, và không thể đo hiện thực ấy bằng hệ đơn vị đo lường của quan niệm hiện thực cũ. “Tôi quan niệm tiểu thuyết như một giấc mơ dài”, Hồ Anh Thái đã nói thế (Báo Thể thao và Văn hóa, ngày 23-8-2003). Ở đây ta bắt gặp một sự tương đồng (hoặc ảnh hưởng) giữa nhà văn Việt Nam và Milan Kundera, nhà tiểu thuyết lớn đương đại, khi ông chỉ ra một trong bốn khả năng đi tiếp của tiểu thuyết: tiếng gọi của những giấc mơ, “... tiểu thuyết là nơi sự tưởng tượng có thể bùng nổ như trong một giấc mơ, và tiểu thuyết có thể vượt qua đòi hỏi trông chừng có vẻ tất yếu phải giống như thật” *. Hiện thực vốn “không bờ bến”. Giấc mơ cũng là một kiểu hiện thực, và nó có quyền là hiện thực, ít nhất cũng không kém kiểu “hiện thực như nó vốn có” của chủ nghĩa hiện thực cổ điển. Trở lại với Cõi người rung chuông tận thế. Đây không phải là cuốn tiểu thuyết – tấm gương, không phản ánh “hiện thực như nó vốn có” và đem lại cho người đọc sự ảo tưởng về cái “giống như thật”. Đây là một hiện thực – giấc mơ, giấc mơ của Hồ Anh Thái về một nhân vật xưng Tôi sống giữa cõi nhân gian bấn loạn. Khởi điểm giấc mơ: Tôi chìm đắm trong đời sống bản năng, chìm đắm trong sự thù hận và cái ác. Kết thúc giấc mơ: Tôi thành tâm sám hối và chứng nghiệm cảm giác an lạc của kẻ đã tìm lại được chân tính thiện của mình. Có khởi điểm và có kết thúc thật đấy, nhưng vì là giấc mơ, nên quá trình từ khởi điểm đến kết thúc tuyệt nhiên không hề ngoan ngoãn vận hành theo những quy luật hợp logic của đời sống hữu thức. Con đường từ Ác đến Thiện của Tôi - con đường trong mơ - được đánh dấu bằng hàng loạt sự kiện và hình ảnh biểu tượng phi thực nhất mà sự ngông cuồng của tưởng tượng trong mơ có thể đẻ ra: vũ điệu đốt vía tập thể ma mị của các cô gái bán dâm sau ghềnh đá, cái chết quái đản của bộ ba hung thần Cốc – Phũ – Bóp, người con gái có sứ mệnh tiêu diệt cái ác, cuộc trò chuyện rùng mình sởn gáy giữa đôi ngả âm dương... Bên cạnh đó, lại có cả những chi tiết lấy từ cái hiện thực sờ sờ đầy tính thời sự của đời sống đương thời mà ai cũng biết: tệ nạn mua bán dâm, tệ đua xe trái phép, hối lộ, quyền lực xã hội đen hoành hành, tình yêu riđô trong ký túc xá sinh viên, giải tỏa mặt bằng... Và tất cả những cái thực và phi thực ấy lại “hôn phối” với nhau theo cái cách bất chấp “lẽ phải”. Nó khiến ta nhớ tới Milan Kundera khi ông để các nhân vật thuộc các thời đại lịch sử khác nhau, cùng nhau trò chuyện, cãi vã “mặt đối mặt”. Nó khiến ta nhớ tới Salman Rushdie khi hai nhân vật của ông vẫn hăng hái tranh luận triết học lúc đang rơi xuống từ vụ nổ máy bay. Nhưng giấc mơ là thế! Nó bóp méo tất cả, nó phóng đại tất cả, nó xáo trộn tất cả, nó cười vào mũi sự tỉnh táo có tư duy logic và những yêu cầu về sự hợp lý! Ai đã mơ (ai mà chẳng đã mơ) thì đều không lạ gì điều này. Nhưng Hồ Anh Thái lại không dựng lên một hiện thực – giấc mơ để chơi, mà anh nhằm vào “nội dung hướng thiện, chối bỏ cái ác”. Có điều, nhẽ ra chỉ nên đọc ở giấc mơ sự xuất hiện trá hình của những ẩn ức bị dồn nén vào cõi vô thức (theo cách của các nhà phân tâm học), hoặc những nội dung điềm triệu (theo cách của các thầy bói), thì người ta lại cứ nhăm nhăm tìm sự hợp lý, để rồi kết luận rằng: tác giả “tỏ ra lúng túng trong việc xử lý mối quan hệ giữa cái thực và cái ảo”!

4. “Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của anh bạo liệt, không phù hợp với sự tiếp nhận của phần đông công chúng yêu văn học Việt Nam”. Tôi có cảm giác như là đang được nghe lời phán quyết của một pháp đình đạo đức dội xuống một tác giả văn chương. Nó khiến tôi nhớ đến Gustave Flaubert khi ông bị tòa án Pháp thế kỷ 19 kết tội “làm hỏng thuần phong mỹ tục” bằng kiệt tác Bà Bôvary. Nó khiến tôi nhớ đến Song An Hoàng Ngọc Phách khi ông bị các vị hủ nho lên án là đã đầu độc thanh niên thói trăng hoa qua cuốn Tố Tâm. Khổ! Các ông có định tán tụng lối sống tiểu thị dân phù phiếm (Bà Bôvary) và quan hệ nam nữ ngoài lễ giáo (Tố Tâm) đâu. Các ông mô tả nó để chỉ ra nguyên nhân của cái kết cục bi thảm mà những kẻ nào sa chân vào nó tất phải gánh chịu. Trường hợp Cõi người rung chuông tận thế cũng vậy. Tác giả đứng trên cỗ xe của cái ác, mô tả - thậm chí là cực tả - cái ác, chỉ là cách để khẳng định cái thiện và sự tất yếu phải vươn tới cái thiện. Anh không tìm hứng thú trong việc miêu tả cái ác, nhưng quả thật, nếu cái ác không được cực tả, không “bạo liệt”, thì đâu có hồi chuông rung lên báo hiệu ngày tận thế cho cõi nhân gian – mà đây là luận đề thấy rất rõ trong tác phẩm!

Cũng có thể chữ “bạo liệt” ở đây phải được lý giải theo cách khác, cái cách mà tác giả không lảng tránh, cũng không “uyển ngữ” khi viết về tình dục, một vấn đề nhạy cảm, dễ khiến các nhà đạo đức và các công dân nghiêm nghị phải đỏ mặt. Nhưng cũng dễ nhận thấy, nhà văn mô tả tình dục không phải để phục vụ thị hiếu tầm thường. Đọc cả cuốn tiểu thuyết, hầu như tất cả các pha ấy đều thuộc diện trường của cái ác, đều là hiện thân của đời sống thuần động vật, sa đọa, quái đản của cái ác (chỉ duy nhất một ngoại lệ: cuộc làm tình bất thành giữa Mai Trừng và anh chàng người yêu tên Duy). Vả chăng, nếu chỉ là sự “bạo liệt” trong mô tả tình dục mà dẫn đến kết luận rằng, ngôn ngữ tiểu thuyết “không phù hợp với sự tiếp nhận của phần đông công chúng yêu văn học Việt Nam”, thì tôi e không thỏa đáng. Hãy thử đọc lại Trăm năm cô đơn của Marquez xem: “bạo liệt” khủng khiếp, “bạo liệt” còn nhân đôi khi nó là quan hệ loạn luân! Ấy vậy mà khó thấy một độc giả Việt Nam nào lên tiếng phản đối. Phải chăng chỉ có người Colombia được phép viết như thế? Hay cái oai của một tác giả đoạt giải Nobel văn chương đã biến điều đó trở thành không còn gì để bàn cãi?

5. Đó là tất cả những gì tôi đọc được từ một giải thưởng văn học bất thành.

Tạp chí Ngày nay, 2004

Hồ Anh Thái,

người mê chơi cấu trúc

Nguyễn Đăng Điệp


1. Cuc sng như nhng mnh v

Khi bắt đầu bước vào nghiệp văn, ngòi bút Hồ Anh Thái khá giàu chất trữ tình. Nhưng nếu tinh ý, người đọc sẽ nhận thấy đã xuất hiện một phẩm chất sau này sẽ trở thành nét trội trong ngòi bút của anh: khả năng chiếm lĩnh hiện thực ở tầng sâu và màu sắc tượng trưng trong tác phẩm. Trong tiểu thuyết Ngưi và xe chy dưi ánh trăng, Hồ Anh Thái đã nêu lên được một cách khá sắc sảo tâm lý hoang mang của con người thời hậu chiến. Cái nhìn của nhà văn đã thoát khỏi cảm hứng ngợi ca thường có của văn học ta để nhìn sâu vào những dòng chảy tâm lý bên trong. Đến nay, dù mới ở độ “tứ thập bất nghi hoặc” nhưng Hồ Anh Thái đã có tới vài chục đầu sách. Trong khi nhiều cây bút, sau một vài tác phẩm gây được sự chú ý, bỗng dưng mất hút thì Hồ Anh Thái đã chứng tỏ một “sức rướn” thật đáng nể. Không trông chờ vào ngẫu hứng, Hồ Anh Thái tìm cảm hứng trên bàn làm việc, tìm thấy gương mặt thế giới chính trong bản thể mình. Đây là một cách viết mang tính chuyên nghiệp rất cao. Nó khác xa với kiểu đi thu hoạch thực tế, đi thì có nhưng thy thì không. Đối diện với nỗi cô đơn, khi nghe những con chữ bắt đầu vang lên trên bàn phím ấy cũng là khi trí tưởng tượng của nhà văn “ẩn sĩ” này bắt đầu cất cánh. Hồ Anh Thái có ý thức tạo dựng một thế giới vừa giống thực bằng những chi tiết ngỡ nhặt được từ đời sống ồn tạp vừa tạo nên một thế giới ngập đầy những biểu tượng. Thông điệp của nhà văn không hiện ra lộ liễu mà toát lên từ tình thế, qua các biểu tượng thấm đầy đầy chất o.



Tiếp xúc với những nhà văn trẻ, Lev Tolstoi có lần đòi hỏi rất cao: “Nào anh có thể cho tôi biết anh sẽ nói một cái mới nào”. Ngẫm ra, đây không phải là câu hỏi dành cho các nhà văn trẻ mà dành cho tất cả mọi người. Trong quan niệm của Lev Tolstoi, mới lạ là một yêu cầu tối quan trọng của văn chương. Đây cũng là trăn trở thường trực của Hồ Anh Thái và trên thực tế, bằng những nỗ lực không mệt mỏi, anh đã tạo nên những cái nhìn độc đáo về đời sống. Chiều sâu trong cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái trước hết thể hiện ở chỗ anh biết vượt qua những lối mòn tư duy coi văn học như là tấm gương phản ánh hiện thực một cách đơn giản (điều mà Hồ Anh Thái gọi là hiện thực thô sơ) để nhìn cuộc đời như nó vốn có. Hiện thực trong thế giới nghệ thuật Hồ Anh Thái vì thế, không phải là thứ hiện thực “dẹt”, “phẳng” mà góc cạnh, nhiều chiều. Đã có lúc, khi nhìn về hiện thực ta chỉ chú ý đến phần nổi mà không hay rằng phần ẩn chìm bên trong mới là điều đáng nói. Một giấc mơ, một ý nghĩ cũng là hiện thực chứ sao. Đó là thứ hiện thực không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nó phải được cảm nhận bằng hồn. Thậm chí, có khi, phía sau thân xác anh hàng thịt lại là hồn vía của Trương Ba. Cho nên, cái hiện thực ngoài đời kia phải thông qua sự t cm thy của nhà văn, được nhào nặn lại bằng những suy tưởng và tưởng tượng của chủ thể sáng tạo thì mới đủ sức hấp dẫn người đọc. Tôi muốn nhấn mạnh thêm một lần nữa rằng, năng lực tự cảm thấy là một năng lực đặc biệt vì nó gắn với quan niệm nghệ thuật của nghệ sĩ. Trong văn học, quan niệm không toát lên từ những lời tuyên bố mà toát lên từ chính tác phẩm. Đây là điều mà những cây bút như Nguyễn Minh Châu đã làm được trong phiên Ch Giát, Ma Văn Kháng ở Mùa lá rng trong vưn, Nguyễn Huy Thiệp ở ng v hưu, Bảo Ninh ở Ni bun chiến tranh… Là cây bút nhạy bén và tỉnh táo, Hồ Anh Thái cũng tạo được cái nhìn riêng về thế giới. Độ sắc trong những trang viết của Hồ Anh Thái lộ ra ở chỗ anh dám nhìn thng vào nhng “mnh vỡ”, nhng bi kch nhân sinh, m x nó bng cái nhìn trung thc, táo bo… Một khi hình dung cuộc sống như những mnh v ta sẽ nhận thấy sự xen cài của cái ác và cái thiện, cái cao cả và thấp hèn, cái sang trọng đi liền với cái nhếch nhác, cái trong suốt xen lẫn cái phàm tục. Đây là cái nhìn “suồng sã” của tư duy nghệ thuật hiện đại. Tác giả không bái vọng đối tượng mà như đang trò chuyện cùng nhân vật. Bởi thế, trong truyện Hồ Anh Thái, nhất là giai đoạn sau, ta bắt gặp khá nhiều chất giọng giễu nhại. Sự xuất hiện của loại giọng điệu này hiếm khi xuất hiện trong tư duy nghệ thuật sử thi. Cái nụ cười chua chát về cõi nhân sinh, khả năng lật tẩy những sự trớ trêu, nghịch cảnh trong đời chỉ có thể có được khi nhà văn không nhìn đời bằng cảm hứng lãng mạn thuần túy màu hồng mà nhìn nó như những mảnh vỡ. Đây có thể coi là yếu tố đầu tiên tạo nên bản giao hưởng đời sống trong văn chương Hồ Anh Thái. Chân dung của hiện thực trong văn Hồ Anh Thái vì thế bề bộn, nhiều góc khuất, nhiều trạng thái, nhiều giá trị xấu tốt đan cài chứ không đơn điệu kiểu mở đầu ta thắng địch thua và khi kết thúc thì phải gióng lên những tiếng hát lạc quan cho đúng quy phạm nghệ thuật trong văn học một thời. Đó là hiện thực “phân mảnh” như các nhà văn hậu hiện đại vẫn thường nói đến. Nhưng vấn đề là phía sau những bi kịch nhân sinh, nhà văn không mất đi niềm hy vọng vào con người. Khát khao hướng thiện sẽ làm cho thế giới này thoát khỏi vòng tận thế. Nói thế để thấy rằng, Hồ Anh Thái có quan niệm riêng về thế giới. Anh không ảo tưởng về cuộc sống nhưng không vì thế mà quay lưng lại với nỗi đau con người. Trái lại, nhà văn dám nhìn thẳng vào nỗi đau, niềm nhức nhối bủa vây cõi người để gióng lên những tiếng chuông khẩn thiết về sự khô kiệt nhân tính đang có mặt khắp nơi. Điều này có thể thấy rất rõ trong Cõi ngưi rung chuông tn thế. Sự thù hận và cái ác làm cho con người sống trong nghi kỵ, cầm tù con người trong đời sống bản năng. Có thể, những ngày sống trên đất Phật đã góp phần tạo nên chất giọng suy tư phía sau cái nhìn tỉnh, sắc về cuộc sống. Tiếng th dài qua rng kim tưc là một tác phẩm xuất sắc của Hồ Anh Thái. Tác phẩm này, đúng như có người nói, đã điểm trúng “huyệt” tính cách của người Ấn Độ bằng những “mũi kim” hết sức chính xác. Đây là câu chuyện về những đứa trẻ chưa kịp sống đã phải chết vì món hồi môn sau này bố mẹ chúng phải trả. Hồ Anh Thái đưa người đọc vào một không gian ghê rợn, đầy âm khí. Mỗi đứa trẻ chết được đánh dấu bằng một cây kim tước. Chẳng mấy chốc, một rừng kim tước đã mọc lên. Nhưng cuối cùng, một trận cuồng phong đã quật đổ rừng cây. Cơn cuồng phong ấy như được góp bằng hơi thở của những người đàn bà đang sống. Màu sắc siêu thực phủ đẫm thiên truyện. Rừng kim tước oan nghiệt kia là một ẩn dụ nghệ thuật có sức biểu đạt lớn. Nó xoáy vào tâm trí người đọc một niềm nhức nhối: tại sao cái xã hội kia lại có thể thờ ơ đến thế trước số phận con người?

Rõ ràng, xuất phát từ quan niệm coi cuộc đời như những mảnh vỡ, bản thân mỗi một con người lại mang những mảnh vỡ, những xung lực khác nhau trong trăm ngàn mảnh vỡ kia đã trở thành nét chính trong quan niệm về cuộc sống của Hồ Anh Thái. Chính quan niệm này sẽ tạo nên tính đa cấu trúc trong các tác phẩm của anh. Thật đơn giản, theo Hồ Anh Thái, mỗi một số phận có kiểu v khác nhau, mỗi một tình huống có hình thức bi hài khác nhau. Vấn đề là ở chỗ, phía sau sự nhốn nháo ấy ta bắt gặp khuôn mặt đích thực của cuộc sống, nhận ra cái hữu lý và cái phi lý của cõi nhân sinh. Thử xem Hồ Anh Thái đã miêu tả như thế nào chân dung của một kẻ thất phu trong hình hài một trí thức: “Đấy, chính là gã. Một thứ trẻ con tồ tồ tẹt tẹt, lớn xác 1,82m nhưng đầu óc vĩnh viễn là một thằng phụ hồ mất dạy tuổi mười bảy. Nó ở quê ra tìm việc làm, ông chú nó là phó phòng tổ chức viện xin cho vào làm bảo vệ. Anh bảo vệ ít năm sau được chiếu cố cho đi học tại chức. Anh đại học tại chức ít năm sau được chiếu cố trở về làm nghiên cứu viên cho viện. Anh nghiên cứu viên ít năm sau tuyên bố tiếng Việt thiếu sức biểu cảm chỉ vì vừa đăng ký lớp tiếng Trung ban đêm. Gã đi đâu cũng kẹp nách một quyển Trung văn, kẹp đến hôi cả sách vẫn mấy câu nỉ hảo hủa ái nhi. Đi hội thảo Nhật về, gã quẳng phắt cuốn Trung văn ẵm mùi xơ xác như một bó dưa, kẹp thế vào đó một cuốn tiếng Nhật cấp tốc, tiếng Nhật thực sự tinh tế hơn tiếng Tàu nhiều” (Sân bay). Nhìn vào cấu trúc đoạn văn có thể thấy hình ảnh cuộc sống ở tầng sâu của nó đã được thể hiện một cách sinh động: a-Cơ chế xin-cho (nhờ thế nhân vật của chúng ta mới thành bảo vệ), b-Cơ chế chiếu c vô lý (thế mới từ bảo vệ thành nghiên cứu viên), c-Sự nghênh ngang của những kẻ dt hay khoe ch mặc dù không có chữ (học tiếng Trung rồi tiếng Nhật mà vẫn đặc cán mai, ngoại ngữ chỉ là một thứ mốt trang sức). Nhìn từ góc nhìn liên văn bn ta sẽ thấy đây là những Xuân Tóc Đỏ thời mới. Nếu trong kiệt tác của Vũ Trọng Phụng, Xuân từ hạ lưu bước vào xã hội thượng lưu rồi thành anh hùng cứu quốc thì nhân vật của Hồ Anh Thái cũng có những nét tương đồng. Chỉ có điều cái nhí nhố trong xã hội của Vũ Trọng Phụng khác với cái rởm trong cuộc sống hôm nay qua ống kính Hồ Anh Thái. Cái rởm ấy được dung túng bởi cái gọi là cơ chế. Cái “ông cơ chế” này vô hình nhưng hóa ra lại ăn vào máu con người một cách thật khủng khiếp. Nó cho phép cái vô lý tồn tại một cách hợp lý. Có thể nói, Hồ Anh Thái đã xây dựng những tác phẩm của mình bằng tư duy nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại. T s 265 ngày mặc dù là tập truyện ngắn nhưng khi đặt trong một tập thì mỗi truyện lại tựa như một chương của một cuốn tiểu thuyết trào phúng hoạt kê. Nhà văn không chú ý nhiều đến chuyn mà chú ý nhiều hơn cấu trúc truyn. Tương ứng với điều đó là sự gia tăng các chi tiết miêu tả không gian so với hệ thống chi tiết miêu tả thời gian. Điều này giúp nhà văn dựng lên các hoạt cảnh để nhân vật diễn vai mình một cách chân thực trong quá trình va quệt với môi trường và với các nhân vật khác. Bởi thế, các nhân vật trong sáng tác của Hồ Anh Thái chinh phục người đọc một cách khá tự nhiên, không gây cảm giác gượng. Dấu vết các “mối hàn” khi xây dựng nhân vật trong các trường đoạn khác nhau được ngụy trang rất khéo khiến cho người đọc không nhận thấy sự sắp xếp lộ liễu của nhà văn. Đây là một thành công đáng ghi nhận của Hồ Anh Thái về nghệ thuật dựng truyện và tạo “lực hấp dẫn” nhằm thu phục người đọc.


  1. Sáng to đng nghĩa vi quá trình

phi monotone hóa

Mỗi nhà văn thực tài bao giờ cũng xây dựng được một nhãn quan riêng về thế giới. Hồ Anh Thái không nhìn cuộc sống theo lối “chưng cất”, ở đó chỉ hiện lên những khuôn mặt đẹp đẽ, những tính cách “vô trùng” mà tạo nên những tác phẩm nghệ thuật mang dáng dấp của một một tổng phổ nhiều bè, đầy nghịch âm. Trước một hiện thực đa dạng như thế, giữ nguyên một chất giọng sẽ có cơ làm mòn cảm hứng và thu hẹp khả năng bay lượn của trí tưởng tượng. Trên vốn văn hóa đã được tích lũy, nhà văn phải luôn thay đổi giọng điệu. Đây là tính “động” của phong cách và giọng điệu nhà văn. L. Tolstoi cũng từng nói rằng, cái khó nhất khi bắt tay vào một tác phẩm mới không phải là chuyện đề tài, tư liệu mà là phải chọn cho được cái giọng điệu thích hợp. Trong văn học, giọng điệu không tự nhiên mà có. Nó phải là một hiện tượng nghệ thuật được tổ chức công phu, chặt chẽ. Bản thân giọng điệu là một tổ hợp trong một tổ hợp hoàn chỉnh lớn hơn là tác phẩm. Việc tạo nên giọng điệu trong tác phẩm vì thế cũng phải tuân theo cách tổ chức cấu trúc nghệ thuật của nhà văn. Sự thay đổi giọng điệu trong các tác phẩm của Hồ Anh Thái cho thấy anh là người không muốn lặp lại mình. Mỗi một tác phẩm, mỗi một chặng sáng tác là một tone khác nhau. Sự khác biệt ấy, dĩ nhiên phải gắn liền với cách tổ chức cấu trúc tác phẩm. Muốn tìm hiểu cái mới trong giọng điệu văn chương Hồ Anh Thái phải đặt các tác phẩm của anh vào thời điểm mà nó xuất hiện. Nếu như văn học giai đoạn 1945-1975 chủ yếu mang giọng điệu sử thi thì vào thời điểm những năm 1980 của thế kỷ XX đã bắt đầu xuất hiện hiện tượng “vỡ giọng”. Cùng với một số cây bút khác như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… Hồ Anh Thái đã có ý thức tạo nên những giọng điệu mới. Bên cạnh màu sắc trữ tình, người đọc khi tiếp xúc với những tác phẩm đầu tay của Hồ Anh Thái có thể bắt gặp những màu giọng khác: trẻ trung, tinh nghịch, nhưng cũng rất hóm hỉnh. Những tác phẩm viết về miền đất Ấn Độ lại được tác giả thể hiện bằng một hình thức giọng điệu hoàn toàn khác. Chất giọng trữ tình đã nhường chỗ cho một giọng văn sắc lạnh. Không né tránh nỗi đau, trái lại, nhà văn có ý thức xoáy sâu vào các vết thương nhức nhối trong đời sống và thể hiện chiều sâu những tiếng thở dài nén ghìm sau những bi kịch nhân sinh. Thực ra, ở giai đoạn này, Hồ Anh Thái cố gắng tạo ra sự hòa trộn của nhiều sắc thái giọng điệu. Có giọng xót xa trong Tiếng th dài qua rng kim tưc, có sự hài hước trong Ngưi đng mt chân. Trong truyện ngắn Hồ Anh Thái thời kỳ này, màu sắc triết luận khá đậm. Dường như sau mỗi tác phẩm là một câu hỏi, một băn khoăn về cõi thế, về bi kịch của những “kiếp người đi qua”. Như vậy, màu sắc trữ tình không mất đi mà chìm xuống mạch ngầm ngôn bản. Đây là lý do nhiều người thích đọc Hồ Anh Thái. Từng trải hơn, chiêm nghiệm hơn, cùng với thời gian, Hồ Anh Thái nhận ra cái bi hài có mặt khắp nơi, thậm chí cả những nơi sang trọng, cái hài vẫn xuất hiện dưới trạng thái che giấu, nhưng càng giấu thì chất hài lại càng rõ (Phòng khách). Chất giọng giễu nhại trong sáng tác Hồ Anh Thái trở nên nổi bật trong tập T s 265 này. Trong truyện Bãi tm, Hồ anh Thái miêu tả chân dung một nữ viên chức: “Khi cô vắng mặt trong phòng, nghiên cứu viên Hai gật gù, đúng là nhìn rất rõ, đùi đĩa tươm ra phết. Nghiên cứu viên Một vẫn cảm thán: Nhưng mà hôi lách cực kỳ. Nghiên cứu viên Ba lúc này mới nhảy vào giữa cuộc hội thảo: Ngày trước tớ cũng hôi lách, may mà tìm đúng thuốc. Cả phòng mười bốn người thì tám người buột miệng đồng thanh: Thuốc gì? Chỉ một câu mà những tám người phải tự thú trước bình minh.

Kết thúc hội thảo người ta đi đến nghị quyết, từ nay mùi hành tây ủng ủ trong đống rác nhiệt đới trước những cổng chợ được mã hóa thành th lon (th lon = hôi lách). Chữ th lon hợp với một cô gái hồn nhiên hơn”. Quan sát văn chương Hồ Anh Thái và một số cây bút khác như Lê Minh Khuê trong Bi kch nh, Phạm Thị Hoài trong Thc đơn ngày ch nht chẳng hạn ta sẽ thấy khá rõ sự thay đổi mô hình giọng điệu tự sự trong các thời kỳ khác nhau. Trước 1975, văn học trôi trong hai kênh giọng chủ đạo: hào hùng ngợi ca và chất trữ tình lãng mạn; sau 1975, nhất là sau thập kỷ 1980, giọng điệu giễu nhại trở thành yếu tố thẩm mỹ nổi bật. T s 265 ngày được viết bằng chất giọng này. Hai trăm sáu mươi lăm ngày ở công sở, một trăm ngày là của mình nhưng dường như ở đâu thì cái máu công chức vẫn hiện hữu. Đây là tác phẩm có cấu trúc lạ. Mỗi truyện như một phiến đoạn trong một tiểu thuyết. Các trạng thái đời sống được Hồ Anh Thái xây dựng theo nguyên tắc hài hước và lật tẩy. Nhà văn đặc biệt chú ý thay đổi các điểm nhìn nghệ thuật, người kể chuyện không đơn giản kể chuyện như kiểu liệt kê những điều đã được chứng kiến một cách đơn giản theo kiểu “Tôi thy …” Cách thay đổi cấu trúc kể như đã nói khiến cho câu chuyện trở nên khách quan hơn, mạch chuyện trở nên biến hóa hơn. Quá khứ đã qua không phải lúc nào cũng trong veo. Con đường đi học không phải lúc nào cũng thơ mộng rp bưm vàng bay. Điều này có thể thấy rất rõ qua Chy quanh công viên mt mt tháng. Với cái nhìn suồng sã, lật tẩy, Hồ Anh Thái phơi bày cái trần tục của đời sống công chức qua Bãi tm. Toàn lòng v cũng như lòng sung nhưng lại cố giấu sau các loại mặt nạ khác nhau. Tôi nhớ, gặp Hồ Anh Thái ngoài đời, đôi mắt của anh toát lên sự cả tin trẻ thơ nhưng miệng thì lúc nào cũng kêu chán. Hai chữ “chán lắm” của anh có lẽ xuất phát từ cái nhìn lật tẩy, nhưng đôi mắt cả tin kia thì vẫn nhiều hy vọng về cõi ngưi lắm. Nói theo Nguyễn Huy Thiệp thì sự nhốn nháo trong văn Hồ Anh Thái cũng là một kiểu Đi thế mà vui. Trở lại chuyện Bãi tm sẽ thấy rõ điều này: "Cô Thỏ Lon nôn ra một đống túi ni lông. Mắt lờ đờ, mí mắt sưng húp, tóc tai rũ rượi, cô lả lướt ngoẹo đầu nhắm mắt cho quên đi nỗi đường còn dài. Mấy đứa trẻ con bây giờ quay sang mời cô nước vuốt tóc cho cô, bị mẹ chúng lườm nguýt. Thằng bé con nhà Nghiên cứu viên Hai nhìn ngực áo xộc xệch của cô Thỏ Lon rồi ngang nhiên tuyên bố: Con đã sờ ti cô Thỏ Lon rồi. Thằng anh hét lên: Mày im đi. Thằng em cáu kỉnh: Hai lần cơ. Cô ấy cho mà. Củ tam thất giật thằng bé ngã ngửa sang ghế mình, phát vào đít nó mấy cái, hấm hứ lườm sang chồng: Con với cái, rõ rau nào sâu ấy”. Có lẽ Hồ Anh Thái có chủ định đặt tên nhân vật: cô Thỏ Lon, Nghiên cứu viên Một, Hai, Ba, Bạch Cốt Tinh… Cách đặt tên như vậy vừa gây sự hài hước, vừa cho thấy sự tha hóa trong đời sống đang là một hiện tượng phổ biến. Thảo nào câu cửa miệng của Thái ngoài đời là Chán lm. Chán vì sự nhố nhăng, chán vì sự đơn điệu, vì cách sống mặt nạ, vì sự cũ mèm, chán với sự văn minh nửa vời… Đến Cõi ngưi rung chuông tn thế, Hồ Anh Thái sử dụng nhp mnh để gây ấn tượng. Những chương đầu tiết tấu rất nhanh, giọng điệu đầy chất trinh thám. Những cái chết bí ẩn nối nhau. Ai là thủ phạm? Sao những kẻ chuyên gây ác lại phải chết một cách kỳ lạ thế? Hồ Anh Thái chọn cách trần thuật từ ngôi thứ nhất. i là một kẻ tay đã từng trót nhúng chàm. Tính chất phóng sự điều tra tạo nên sự gấp gáp trong giọng điệu thực ra là cách tạo lực hút của nhà văn. Ống kính của nhà văn vừa quay lướt vừa biết dừng ở những điểm nhấn cần thiết nhằm tạo ra một thế giới nhiêu khê, bất trắc, hỗn tạp. Phần cuối truyện nhịp điệu chậm hơn, màu sắc trữ tình xuất hiện như một phép cân đối “ngón chơi cấu trúc” của nhà văn.

Khảo sát hành trình văn chương Hồ Anh Thái có thể nhận ra một kiểu đối thoại mang tính văn hóa thấm trong từng văn bản: văn xuôi Việt không có truyền thống lâu đời như thơ ca. Đây là một khó khăn cho các nhà văn trong quá trình thiết lập hệ ngôn từ tự sự. Khi sáng tạo, không ít nhà văn bị rơi vào tình trạng thơ hóa. Bởi thế, để tránh những lực cản truyền thống, nhà văn phải biết vượt ra khỏi sự du dương của ngôn ngữ thơ ca. Từ quan niệm ấy, cấu trúc ngôn ngữ của Hồ Anh Thái không bằng phẳng mà “lổn nhổn” một cách cố ý. Điều này khiến cho hình ảnh đời sống trong tác phẩm của anh gần gũi với hơi thở của đời. Nó không phải là cuộc sống ở trạng thái chưng cất giống như rượu cồn pha tinh dầu lúa nếp. Chai rượu ngon, theo Hồ Anh Thái phải có nguyên liệu là lúa nếp chứ không phải bằng cách thêm vào rượu sắn một chút tinh dầu công nghiệp. Cũng phải, nửa cái bánh mỳ không phải là tất cả cái bánh. Tôi nghĩ, cùng với những cây bút khác như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… Hồ Anh Thái đã đã góp phần tạo nên một động hình ngôn ngữ mới và giọng điệu văn xuôi khác hẳn so với văn xuôi 1945-1975. Tuy nhiên, sự đổi mới này cần cảnh giác với mặt trái của nó: có sự giống nhau giữa ngôn từ của các nhà văn. Rất có thể cảm giác ấy là do người đọc nhầm lẫn và thiếu tinh tế chăng? Nhưng tôi tin không ít người đọc sẽ chia sẻ cùng mình cảm giác ấy. Ngay cả những tài năng lớn cũng từng rơi vào trường hợp này như M. Solokhov chịu ảnh hưởng của L. Tolstoi. Là một cây bút sung sức, có phông văn hóa dày dặn, tôi nghĩ Hồ Anh Thái, một khi hãy còn nuôi giữ được ngọn lửa đam mê, anh còn đi xa trên con đường mà có lần anh tự nhận là quá đỗi chông gai. Không còn cách nào khác, nhà văn phải chịu mình thánh trước vẻ đẹp chữ và chỉ qua chữ, anh ta mới thực sự chứng minh được giá trị đích thực của mình.



3

1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương