Cõi người cũng bao dung lắm



tải về 1.71 Mb.
trang3/5
Chuyển đổi dữ liệu30.10.2017
Kích1.71 Mb.
1   2   3   4   5

Biên Hòa, 25-5-2004

Ác mộng hay là giả tưởng?



Nguyễn Vĩnh Nguyên

Hồ Anh Thái là nhà văn sung sức, được bạn đọc chú ý qua một loạt tiểu thuyết, truyện ngắn với lối viết hiện đại và dám nhìn thẳng vào những vấn đề gai góc của xã hội hiện nay. Những tác phẩm Chàng trai ở bến đợi xe, Người và xe chạy dưới ánh trăng, Người đàn bà trên đảo, Trong sương hồng hiện ra, Mảnh vỡ của đàn ông, Tự sự 265 ngày, Tiếng thở dài qua rừng kim tước… đã tạo được dư luận trong đời sống văn chương nước nhà.



Cõi người rung chuông tận thế là tiểu thuyết mới nhất của anh (2002)…

Tên cuốn tiểu thuyết đã nói lên tính cảnh báo của nó. Một sự cảnh báo không thừa và không bao giờ muộn. Có thể nói, từ khi có con người, cái Thiện và cái Ác đã song hành bất phân thắng bại. (Thế nên mới sinh ra cuộc đời và… chuyện cổ tích). Lên tiếng cảnh báo về cái xấu, cái phản nhân văn đang hoành hành trong xã hội, trong bản thân mỗi con người là vấn đề muôn thuở của văn học. Nhưng tính thời sự xã hội của tác phẩm là ở chỗ cái ác được đề cập ở đây mang diện mạo… thời thượng, cái ác hàng ngày người ta chứng kiến, dung dưỡng, thậm chí đồng lõa, cái ác chúng ta thấy được, chúng ta cảm giác nó thật gần nơi đồng loại và thật xa nơi chính trong con người chúng ta!


Suốt hơn 250 trang sách là một không khí căng thẳng, đôi khi bi hài về những âm mưu dục tính, thủ đoạn trả thù và giành giật để hưởng thụ. “Cái lẫy nỏ” được cài sẵn từ những cuộc ăn chơi trác táng, sa đọa của một nhóm thanh niên (Cốc, Bóp, Phũ và cả nhân vật Tôi). Sống không mục đích, không lý tưởng và ngày càng xa rời con người để buông theo những dục vọng thú tính, bầy đàn, bộ lạc… mà hiện thân là nạn đua xe “tử thần”, chém giết, đĩ điếm, đua đòi ăn chơi sa đọa của lớp trẻ hôm nay. Lời cảnh báo cho một thế hệ cô đơn không tự tìm thấy những giá trị cao đẹp trong cuộc sống để vươn lên, một thế hệ quen hưởng thụ và sẵn sàng chiều theo tiếng gọi bản năng, một thế hệ lớn lên trong một môi trường giáo dục thiếu thống nhất và nhiều bất cập từ ngay trong gia đình cho đến trường học. Sự nuông chiều, thiếu trách nhiệm của người lớn đã dẫn đến một thực trạng cái ác được dung dưỡng và không ngừng lớn lên trong lòng những đứa con gia đình, những công dân xã hội. Những thành viên người chưa thành Nhân đã nghĩ đến chuyện hưởng thụ, thiếu nhân hậu và thừa lãnh cảm, thiếu tình nghĩa và thừa thực dụng, thiếu lòng thương và thừa thù oán với đồng loại. Khi không hãm được cơn lớn dậy của thú tính, sẽ dẫn đến sự khủng hoảng về luân thường đạo đức. Tất cả chỉ đẩy đến sự trả thù và sự hủy diệt!

Ba cái chết liên tiếp của ba gã thanh niên quý tộc lực lưỡng Cốc, Bóp và Phũ dưới tay một cô gái có năng lực diệt ác bí ẩn là Mai Trừng khiến truyện hấp dẫn bởi chất hiện thực huyền ảo của nó. Điều đó không phải là một lý tưởng cổ tích thời hiện đại. Có thể Thấy Mai Trừng mang một môtíp… người đẹp mà ta đã gặp trong hình tượng nàng Remediot người đẹp trong Trăm năm cô đơn của G. G. Marquez. Nhưng rồi cái kết cũng cho thấy rằng, ngay cả cái cô Mai Trừng kia, với khả năng diệt ác siêu phàm (có được qua lời nguyền của mẹ cô trước khi chết) cũng không sung sướng gì khi nhìn thấy những kẻ rắp tâm hại mình đều bị “trừng phạt” bằng những cái chết ghê rợn. Điều đó nằm ngoài sự kiểm soát của cô. Và ngay cả anh chàng người yêu tội nghiệp của cô, trong lúc thăng hoa tình cảm đôi lứa, cũng bị… trừng phạt. Thế nghĩa là, nếu có chính cái năng lực đặc biệt diệt ác bẩm sinh kia, thì đó cũng chỉ là cái năng lực đầy máy móc, một sự lập trình rất lạnh lùng. Bởi nó không phân biệt được đâu là thực, đâu là hư, đâu là thiện và đâu là ác nơi cõi người ta, nơi chính trong bản thân của chủ thể. Vì trong cõi người ta, nói như Đức Giêsu, lúa đang mọc chung với cỏ lùm. Người có năng lực diệt ác, rốt cuộc đã xin làm người bình thường, chung sống với cõi người để chấp nhận cái Thiện và cái Ác song hành - khi cô nhận ra, đây đó vẫn còn sự sám hối, ăn năn.

Trong bức bối không gian và thời gian cuốn tiểu thuyết, luôn văng vẳng một hồi chuông cảnh tỉnh sâu sắc. Hồi chuông ấy đã vọng thẳm tâm hồn người đọc thời hiện đại theo cách của nó.

Một thiên tiểu thuyết viết không bị đơn điệu bởi lối kể tả truyền thống, một chiều nhàm chán bấy lâu trong văn chương Việt Nam mà mới mẻ, hiện đại từ cấu trúc đồng hiện, gián đoạn như những đoạn phim ghi nhanh tốc độ đời sống và chồng chéo lên nhau. Một cách viết pha hiện thực huyền ảo đôi khi đẫm chất hiện sinh với một lối văn tinh tế, hóm hỉnh và không ngại đụng chạm. Người dẫn chuyện có khi là đồng lõa để cảm thông với nhân vật (tạm gọi) phản diện, có khi bay cao hơn trong sự ăn năn sám hối để nhìn xuống cõi người, thức tỉnh cùng chúng ta. Cái chết, sự tận thế không bởi Thượng đế mà ở con người ta, khi thế giới còn ngập tràn thù hận và cái xấu xa hoành hành! - Đó là tiếng kinh vọng xuống cõi người phía sau viễn cảnh ngày tận thế mà người viết tự tạo dựng ra: “Không có những con người mà sứ mệnh duy nhất là tiêu diệt kẻ ác thì cái ác trùm lấp và tràn ngập thế gian này. Cái ác sẽ đè nghiến lên thống trị cả một dân tộc. Cái ác sẽ diệt chủng cả một giống nòi, sẽ tàn phá những gia đình, sẽ hãm hiếp bạo hành những cô gái”. Và: “Chuông giận dữ đổ ập vào không gian. Không còn là đống thủy tinh vỡ lanh canh. Lần này cơn mưa loảng xoảng của mảnh gang mảnh thép. Cả cõi người sụp xuống dưới một cơn mưa kim loại. Cả cõi người bị nhấn chìm trong một trận hồng thủy ngập tràn kim loại”.

Không, chỉ là cơn ác mộng hoặc giả tưởng mang tính ma quái kiểu cổ tích thời hiện đại. Tôi gấp sách lại và nghĩ, làm gì có chuyện đó! Khi mà con người ta chưa nhụt quyết tâm sống và đấu tranh với cái ác, cái phản tiến bộ vì một tương lai sáng sủa hơn, tươi mới hơn. Cuộc chiến đấu ấy từng ngày, từng giờ, từng xã hội và cả trong chính bản thân từng con người!

Báo Công giáo và Dân tộc, 2002




Cõi người rung chuông tận thế

từ góc nhìn Phật giáo


Anh Minh

Hồ Anh Tháiđã cho ra mắt độc giả gần ba mươi tập truyện ngắn và tiểu thuyết. Đến nay, hơn hai mươi năm trong nghề cầm bút, Hồ Anh Thái đã thể nghiệm qua nhiều đề tài, nhiều giọng điệu khác nhau và hầu hết đều thành công. Có giọng trẻ trung tươi sáng, có giọng triết lý sâu xa, có giọng hài hước nhưng cũng đầy chua xót… Nhiều giọng điệu song tất cả vẫn thống nhất trong một phong cách chung. Trong một lần trả lời phỏng vấn, anh cho rằng "Có phong cách tức là phải đa giọng điệu, dù anh có đổi giọng đến thế nào thì vẫn là trên cái nền tảng văn hóa của anh, trên cái tầm nhìn của anh vào thế giới và nhân sinh mà thôi" [3;259].

Với Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái viết về cuộc sống hiện đại, khai thác cái Thiện - Ác trong mỗi cá nhân. Một điều đáng nói là, theo nhà văn, anh đã lấy ý tưởng từ khúc cuối trong Kinh Thánh Tân ước, khi Thánh John báo trước cho đồ đệ về ngày phán xử cuối cùng của cái ác, ngày cái ác bị trừng phạt, thế nhưng theo dõi tác phẩm, ta thấy cách xử lý của tác giả lại đậm màu sắc Phật giáo. Có thể nói rằng Phật giáo đã để lại dấu ấn rõ nét trong tác phẩm này.

Nhiều năm học tập và công tác ở Ấn Độ, thông thạo tiếng Hindi là điều kiện thuận lợi để anh hiểu sâu sắc về con người và văn hóa của đất nước này. Anh đặc biệt hiểu về văn hóa phương Đông, hiểu về Ấn Độ, trong đó có Phật giáo. Sáng tác của anh luôn ẩn hiện tư tưởng của đạo Thích Ca. Hầu hết những sáng tác mang dấu ấn Phật giáo ở Hồ Anh Thái đều ít nhiều có tính chất luận đề, vậy nhưng không hề cứng nhắc, khô khan mà luôn được dẫn dắt bằng những câu chuyện cảm động, có sức hút lớn đối với người đọc từ con chữ đầu tiên cho tới dấu chấm cuối cùng.

Phật giáo là một tôn giáo lịch sử, Phật Thích Ca là một nhân vật lịch sử. Tính cho tới nay, nó đã ra đời, tồn tại và phát triển gần 2600 năm; trong quãng thời gian này, Phật giáo luôn chinh phục, thu hút nhân tâm bằng bản chất hướng thiện. Sinh thời Phật tổ đã nói với các đồ đệ rằng: "Như nước của đại dương chỉ có một vị mặn, đạo của ta cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát""Trước đây và ngày nay, ta chỉ lý giải và nêu ra chân lý của nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi khổ". Đạo Phật luôn chủ trương giải thoát con người khỏi ham muốn, lòng hận thù và khơi dậy tình yêu thương trong mỗi người; nhờ vậy, con người ta sẽ thoát khỏi khổ đau, sẽ được sống trong niềm vui và hạnh phúc lâu dài. Thấm nhuần tư tưởng này, cùng với mơ ước từ lâu muốn viết một cuốn sách về ngày phán xử cái ác, Hồ Anh Thái đã thông qua Cõi người rung chuông tận thế để nói lên những khát vọng của mình về lòng người, về tình yêu thương giữa con người với con người trong xã hội hiện đại đầy những phức tạp. Ở toàn bộ tác phẩm, Hồ Anh Thái đã dựng nên một thế giới nhân vật, một xã hội, một cuộc sống với nhiều xấu xa, tàn ác. Trong đó, người tốt, người có bản tính thiện chỉ là thiểu số, như hạt muối trong đại dương vậy, nhưng vấn đề lại nằm ở chính số ít này; tác giả để cho cái xấu lấn át cái tốt là nhằm nhấn mạnh sự trỗi dậy của tính thiện trong lòng người.

Dung lượng ít (257 trang), lối viết hàm súc, nén chặt, Hồ Anh Thái đã vạch ra mặt trái của cõi người hiện đại: sự xuống cấp về nhân cách, đạo đức của nhiều lớp người; lối sống buông thả của những kẻ có tiền, có quyền; sự thiếu trách nhiệm của con người, sự dung túng của xã hội; những bất công trong cuộc sống; và đặc biệt, dục tính, thói dâm ô của con người được tác giả khai thác như là nguyên nhân, là bàn đạp của cái ác, cái xấu mà con người gây ra cho nhau. Nếu không vững tâm, không có niềm tin vào cuộc sống và lòng người, đọc tác phẩm này, hẳn sẽ bi quan lắm khi thấy cái ác tràn lan và chiếm thế thượng phong trong cuộc sống. Thế nhưng bình tâm nhìn lại, ta thấy từ cốt truyện, tuyến nhân vật cho đến kết cấu đều được tổ chức theo dụng ý nghệ thuật cao nhằm nhấn mạnh chủ đề của tác phẩm: hận thù phải được hóa giải trong một nhãn quan yêu thương và bao dung [3;260].

Tiểu thuyết gồm tám chương và một chương cuối. Ba chương đầu, mỗi chương là một cái chết của một gã trai. Ba cái chết ấy diễn ra liên tiếp, cái chết trước là nguyên nhân dẫn tới cái chết sau. Phật giáo quan niệm mọi hành động mà mỗi cá nhân thực hiện đều để lại kết quả và kết quả đó được quy định bởi bản chất của hành động, cái đó gọi là Nghiệp (Karma); khi làm điều xấu thì anh sẽ phải chịu đau khổ, khi làm điều tốt thì anh sẽ được hưởng niềm vui và hạnh phúc, có nghĩa là chính bản thân anh quyết định số phận của anh. Điều này hoàn toàn đúng khi mà ba cái chết của nhân vật Cốc, Bóp và Phũ đều là hậu quả do chính họ tạo ra.

Đầu tiên là cái chết của Cốc, Cốc chết vì chính hành vi dục tính của mình trong một lần tắm biển khi dở trò sàm sỡ với cô gái mới gặp. Đó là sự trả giá cho dục vọng thái quá, ham muốn vô độ của kẻ chỉ biết ăn chơi, hưởng lạc bất chấp là với ai, khi nào, ở đâu. Sau đó là hai cái chết của Bóp và Phũ. Bóp vì muốn trả thù cho Cốc mà chết, Phũ cũng vì muốn trả thù cho Cốc và Bóp mà chết.

Đưa ba cái chết lên đầu tác phẩm, cách tổ chức câu chuyện như thế này đạt hiệu quả cao khi tác giả muốn nói một điều rằng kẻ làm ác sẽ bị trừng phạt bằng chính điều ác mà chúng định gây ra, ác giả thì ác báo là vậy. Trong ba cái chết, Cốc chết vì ham dục, Bóp và Phũ chết vì nóng giận đến mê muội muốn trả thù; như vậy, hận thù tiếp nối hận thù, lấy oán trả oán thì càng sinh ra hờn oán, con người rơi vào cái vòng luẩn quẩn đó khó mà thoát ra được. Nhưng nội dung chính của tác phẩm không chỉ dừng lại ở đó. Hồ Anh Thái đã thành công trong việc tạo dựng một hoàn cảnh, một trường hợp gần như bất khả kháng rồi thả nhân vật chính của mình vào đấy để phát triển luận đề của tác phẩm.

Nhân vật chính, là người thân thích với ba gã trai trên kia, là kẻ trong cuộc, là người chứng kiến lần lượt ba cái chết diễn ra trước mắt mình, do vậy không thể không bừng lên khát vọng trả thù. Thế nhưng, anh hơn ba đứa cháu của mình ở chỗ biết bình tâm để nhìn nhận sự việc trước khi hành động. Khi thằng Phũ chuẩn bị thực hiện tội ác, Đông thấy: "Tim tôi đột ngột nhói lên. Tôi cũng muốn trả thù. Tôi cũng muốn dẹp yên hận thù cùng một lúc"; nhưng Đông cũng: "cùng lúc linh cảm được kết cục thảm khốc của thằng cháu nếu nó cứ như con thiêu thân lao vào cái ngọn lửa là cô gái kia". Vậy là Đông đang đứng ở cái làn ranh giới giữa thiện và ác.

Phật giáo là học thuyết về tâm. Phân tích mỗi hành động ta thường thấy trải qua ba giai đoạn: 1. Sự chuẩn bị: thể hiện dưới dạng những ý định, ý đồ, suy nghĩ. 2. Hành động: là sự thực hiện về mặt vật chất những ý đồ trên. 3. Kết quả hành động và đi kèm với nó là một tâm trạng nào đó. Và Phật giáo đề cao giai đoạn một, có nghĩa là tất cả thiện, ác đều phụ thuộc vào tâm mà ra, do vậy, muốn ngăn chặn tội ác thì phải ngăn chặn từ khi nó đang ở dưới dạng mầm mống, ngăn chặn từ trong suy nghĩ, từ trong tâm trí con người. Trong nhân sinh quan của mình, Trần Thái Tông, một đồ đệ xuất chúng của Phật giáo, cũng cho rằng mọi thiện - ác đều từ tâm mà ra, ông nói: Phàm tâm là gốc của thiện ác, cửa miệng là gốc của họa phúc Tâm khởi dậy điều thiện tức là niệm thiện. Niệm thiện khởi dậy thì nghiệp thiện báo lại. Tâm khởi dậy điều ác tức là niệm ác. Niệm ác nảy sinh thì ác nghiệp ứng theo [2;346]. Như hai mặt của một vấn đề, trong mỗi con người luôn tồn tại cái tâm thiện và cái tâm ác, cái ác như mầm bệnh ủ sẵn trong người chỉ chờ khi phát tác, nếu như cái thiện không đủ sức chế ngự nó.

Nhìn lại hành động của Cốc, Bóp, Phũ ta mới hiểu rõ điều mà Phật gọi là Vô minh - điểm nút đầu tiên đưa người ta vào đau khổ trong cuộc đời. Từ ham muốn vô độ dẫn đến việc muốn chiếm đoạt thể xác cô gái, Cốc đã chết, chết vì Tham; vì mất bạn, Bóp và Phũ tức giận tới mức hận thù một cách hung bạo (Sân), khi đã tức giận thì tâm trí mê muội, không thể phân biệt được lẽ phải trái (Si) và cả hai đã phải trả giá. Cốc, Bóp, Phũ như là hiện thân của Tam độc: Tham, Sân, Si, theo quan niệm của Phật giáo.

Hồ Anh Thái đã chọn cách thể hiện khá độc đáo, đặt điểm nhìn trần thuật của tiểu thuyết này vào nhân vật xưng tôi, để cho nhân vật này đứng trong cái ác, cùng phe với cái ác để từ đó nhận ra được bản chất, căn nguyên của cái ác, đó là lòng hận thù. Sau cái chết của ba đứa cháu, Đông muốn trả thù nhưng cũng đủ tỉnh táo để nhận ra vấn đề, và từ đây bắt đầu hành trình phục thiện, hành trình diệt trừ Vô minh, Tam độc trong tâm hồn anh.

Quá trình sám hối, hướng thiện của Đông trải dài theo tác phẩm, nó cũng trải qua nhiều day dứt, trăn trở, dằn vặt. Đầu tiên Đông thấy rằng con người quả thực hèn yếu khi khoanh tay ngồi nhìn người thân lần lượt bị tiêu diệt và anh đi đến quyết định: Tôi phải hành động theo cái lý thực tế đang bừng trong huyết quản của tôi… Bây giờ thì tôi bất cần. Tôi không nghĩ đến hậu họa cho chính mình. Giết Mai Trừng bằng thuốc độc là lựa chọn lúc này của Đông. Nhưng anh cũng nhận ra rằng mình có thể sẽ chết vì viên thuốc độc đó: Tôi đã lựa chọn cái chết cho mình mà không hay biết. Anh ta suy nghĩ: Khi đã hiểu cái chết, anh muốn bình thản và tự tin để quan sát tất cả những người không hiểu cái chết. Khi ấy anh thấy mình cần phải sống. Và anh ta thấy mình cần phải sống: Bây giờ thì tôi muốn sống… Tôi bỗng thèm sống hơn bao giờ hết. Mạng sống đã khiến cho Đông ý thức hơn về điều mình nghĩ và định làm, nhưng chỉ ham sống thôi thì chưa đủ, anh khẳng định: Việc cùng lúc tôi phải làm là thanh lọc cái tâm hồn tội lỗi của mình. Từ giờ trở đi tôi không được phép nghĩ ác về Mai Trừng. Như vậy, sau những trăn trở nội tâm, Đông đã dẹp trừ được cái ác trong tâm trí mình, cái tâm thiện đã chế ngự được cái tâm ác, anh đã thoát khỏi Vô minh mà ba đứa cháu của mình mắc phải. Nhưng Đông vẫn lo sợ phải hứng chịu hậu quả do mình tạo nên bởi đã trót có ý ác với Mai Trừng. Đó là cái lo sợ của một tâm lý bình thường song cũng mang nhiều ẩn ý của tác giả. Để cho Đông đi tìm Mai Trừng và gặp cô một cách yên bình không có tai họa, Hồ Anh Thái muốn nói rằng "Kẻ làm ác vẫn còn cơ hội được giác ngộ, được đón nhận trở lại cõi người, chứ không phải bao giờ cũng bị trừng phạt" [3;261]. Tư tưởng này, lối nghĩ này, tác giả ảnh hưởng khá đậm nét từ nhân sinh quan Phật giáo. Có lần Phật tổ dạy đồ đệ rằng: phóng hạ đồ đao lập địa thành Phật. Có nghĩa là: vứt bỏ con dao đồ tể xuống đất, (mọi người đều có thể) trở thành Phật. Chúng ta nên hiểu câu nói này có ý rằng ai cũng có thể giác ngộ, chỉ còn một chút thiên lương vẫn có thể làm lại từ đầu, chỉ cần từ bỏ hành động xấu là được, như người đồ tể vứt bỏ con dao giết hại loài vật đi vậy, đó là hành động đầu tiên của quá trình giác ngộ. Đây là tư tưởng bao dung của đạo Phật đã được Hồ Anh Thái triển khai qua nhân vật Đông và một số truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác của anh.

Hành trình phục thiện của Đông được tác giả bổ khuyết bằng nhân vật Mai Trừng. Với nhân vật này, Hồ Anh Thái đã mở rộng thêm cho chủ đề tác phẩm rất nhiều. Bốn chương đầu, Mai Trừng xuất hiện đầy bí hiểm như trong truyện hoang đường, nhưng về sau, cùng với quá trình thanh lọc tâm hồn của Đông, thân phận cô dần hiện rõ. Ở cô, ta bắt gặp hình ảnh một thiên sứ được giáng trần để tận diệt cái ác, mọi điều ác người ta định làm với cô, dù chỉ trong suy nghĩ cũng sẽ bị trả giá, nhưng ta cũng thấy ở đây bi kịch của một thân phận không được bình thường như bao người con gái khác, không được sống, được yêu do lời nguyền của mẹ cô trước khi chết: Mai ngày cháu lớn, cháu sẽ đi trừng phạt những kẻ ác... Hai mươi sáu năm lãnh sứ mệnh trừng phạt cái ác đối với cô đã quá mỏi mệt, cô muốn thoát khỏi lời nguyền để được làm người bình thường. Linh hồn của cha mẹ cô đã cho cô toại nguyện. Vậy cõi người sẽ không còn ai diệt trừ cái ác hay sao? Không phải. Để cho Mai Trừng giải được lời nguyền, trở về với cuộc sống đời thường của một cô gái, cùng với sự sám hối thành công của Đông, Hồ Anh Thái muốn nhắn gửi rằng không phải cứ làm ác để rồi bị trừng phạt, như vậy cái ác vẫn tràn đầy trong xã hội, thần Chết vẫn lấy đi sinh mạng của nhiều thân phận; để tận diệt cái ác, điều cốt yếu là ở tâm mỗi người cần có sự phục thiện, có sự thanh lọc tâm hồn để trở về với điều thiện, bỏ qua hận thù, như vậy tự thân cái ác sẽ không còn. Trừng phạt chỉ là giải pháp. Ngộ ra lẽ phải, thực tâm niệm thiện thì cái ác sẽ không còn, cõi người sẽ bình an, đó mới là điều quan trọng. Bằng cách ấy, Đông đã thoát ra khỏi hận thù, thiện hóa tâm hồn mình và thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn oán hận - trả thù - oán hận. Đây chính là điều Phật giáo mong mỏi ở mỗi người, con người hãy sống với nhau bằng tình thương và lòng từ bi. Trong Mười bốn điều răn, điều đầu tiên Phật dạy chúng ta rằng: kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình. Đông đã vượt qua được bản thân mình, chiến thắng kẻ thù lớn nhất của đời mình bằng tình thương và sự cảm thông. Như có lần trong một truyện ngắn, Hồ Anh Thái đã viết: chỉ có tình thương mới diệt trừ được hờn oán. Lấy oán trả oán thì oán còn [4;219].

Trong một lần trả lời phỏng vấn, Hồ Anh Thái đã quan niệm tiểu thuyết là một giấc mơ dài. Với Cõi người rung chuông tận thế, anh đã mơ một giấc mơ dài trên cái nền xã hội hiện đại, nhưng đây là một giấc mơ có cơ sở để trở thành sự thực, bởi mỗi người ai cũng có căn tính thiện. Một tiểu thuyết hiện đại song cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề lại đậm sắc màu của tư tưởng Phật giáo, Hồ Anh Thái đã gióng lên một hồi chuông cảnh báo với cõi người, hãy thanh lọc hết hận thù, hãy bao dung và yêu thương đồng loại, đừng để cái ác ngự trị trong tâm hồn, bởi cái gì cũng có giá của nó, mỗi người có một cái Nghiệp của riêng mình. Bất giác tôi nhớ tới lời dạy của Đức Phật: Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thụ giả thị. Dục tri lai thế quả, kim sinh tác giả thị. Có nghĩa là: muốn biết nhân kiếp trước của mình như thế nào, hãy nhìn điều mình đang nhận được ở kiếp này sẽ biết. Muốn biết quả kiếp sau của mình như thế nào, hãy nhìn điều mình đang làm ở kiếp này sẽ biết.

Hãy đọc i người rung chuông tận thế và ngẫm về những lời dạy của Phật Thích Ca.

Vinh, tháng 10-2004

--------------



Tham khảo:

1. Nguyễn Đăng Duy, (1999), Phật giáo với văn hóa Việt Nam, NXB Hà Nội.

2. Nguyễn Hùng Hậu, (2004), Triết lý trong văn hóa phương Đông, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội.

3. Hồ Anh Thái, (2003), Cõi người rung chuông tận thế - Tác phẩm và dư luận, NXB Đà Nẵng.

4. Hồ Anh Thái, (2003), Tiếng thở dài qua rừng kim tước, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

Một chiêm nghiệm

“cõi người”
Trần Thị Hải Vân
Những trang viết của Hồ Anh Thái đã đến với bạn đọc từ những năm tám mươi của thế kỷ trước. Ngày đó, cách viết của Hồ Anh Thái thật trữ tình, sâu lắng, không gây sốc, không ồn ào. Theo thời gian, Hồ Anh Thái lại thật sự gây xôn xao dư luận bạn đọc với Tự sự 265 ngày (tập truyện ngắn), Bốn lối vào nhà cười (tập truyện ngắn), Cõi người rung chuông tận thế (tiểu thuyết), Mười lẻ một đêm (tiểu thuyết) và mới đây nhất là cuốn tiểu thuyết về Ấn Độ, Đức Phật, nàng Savitri và tôi (2007). Qua những tác phẩm này thấy Hồ Anh Thái sắc sảo hơn, châm biếm, giễu nhại cũng sâu cay hơn. Anh đã có những bứt phá trên hành trình nghệ thuật mặc dù có nhiều người vẫn thích một Hồ Anh Thái của thời kỳ trước đây, thời kỳ “tiền Ấn Độ” như có người từng gọi. Hồ Anh Thái đã có những cách tân mạnh mẽ về mặt nghệ thuật và đã tạo ra những hiệu quả nghệ thuật rất đáng ghi nhận trong tác phẩm của mình. Đồng thời trong giới nhà văn Việt Nam hiện nay, anh cũng được xem là một nhà văn “cấp tiến” về mặt tư tưởng.

Có thể nói tiểu thuyết là phần quan trọng nhất trong sáng tác của Hồ Anh Thái. Với một sức bút mạnh mẽ, mỗi năm Hồ Anh Thái đều đặn cho ra đời một cuốn tiểu thuyết và hiện nay anh đã có lưng vốn hơn ba mươi cuốn sách - một con số đáng nể của bất cứ nhà văn nào. Anh đã tạo nên trong tiểu thuyết của mình cả một thế giới nghệ thuật phong phú. Bằng một cái nhìn xâu chuỗi, dễ thấy trong thế giới nghệ thuật ấy hiện diện một “cõi người” sinh động và đầy biến ảo. “Cõi người” không chỉ được gọi tên một cách trực tiếp như trong Cõi người rung chuông tận thế mà nó còn được khắc họa, được tạo dựng trong bất cứ một cuốn tiểu thuyết nào của anh. Nó hàm chứa một quan niệm, một cách nhìn, một chiêm nghiệm về cuộc đời, về nhân tình thế thái của nhà văn. Cũng như “Tấn trò đời” của Balzac, “Cõi người” trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái cũng là một “tấn trò đời”, một nhân loại riêng với đầy đủ tất cả những Hỉ, Nộ, Ái, Ố, Sinh, Lão, Bệnh, Tử...

“Cõi người” là một khái niệm mang màu sắc tôn giáo đậm nét. Tôn giáo quan niệm “cõi người” là cảnh giới mà chúng ta đang sống và đang thụ hưởng cả hạnh phúc lẫn khổ đau. “Thuyết Luân hồi của Phật giáo cho rằng phạm vi luân hồi bao gồm sáu cõi: Trời, cõi người, cõi Tula (Thần đạo), cõi súc sinh, cõi quỷ, cõi địa ngục. Phật giáo tin rằng, phạm vi luân hồi sinh tử tuy có sáu cõi, nhưng cõi người là chủ đạo, vì chỉ ở cõi người, chúng sinh vừa có thể gieo các nhân thiện hay ác nghiệp, vừa chịu quả báo. Còn các cõi sống khác, chúng sinh chỉ có một chiều hưởng phúc báo, không có cơ hội tạo nghiệp mới. Chỉ có ở “cõi người”, chúng sinh vừa thụ quả báo vui, vừa chịu quả báo khổ, lại có thể phân biệt được thiện ác (Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 4-2000).

Cảm hứng về “cõi người” của Hồ Anh Thái phải chăng cũng là bắt nguồn từ tôn giáo. Là một nhà nghiên cứu về văn hóa Ấn Độ, triết lý của Phật giáo về “cõi người” thấm đẫm trong văn chương của anh như một thứ ám ảnh. Mặt khác, sự thể hiện “cõi người” trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái cũng có cội nguồn sâu xa từ những quan niệm về hiện thực của nhà văn. Trong bài trả lời phỏng vấn của báo Thể thao và Văn hóa (tháng 3-2004), Hồ Anh Thái khẳng định rằng: “Tôi không đặt văn chương vào tháp ngà mà để nó chung sống với những vấn đề nhạy cảm của xã hội”. Thiết nghĩ đây cũng là quan niệm của bất cứ nhà văn nào được xem là “cấp tiến” về mặt tư tưởng. Nó mở đường cho những khám phá về hiện thực mang màu sắc nhân văn của tác giả.



Phải chăng những chiêm nghiệm về “cõi người” luôn mang tính nhân loại phổ quát, không chỉ dừng lại ở khía cạnh giai cấp hay dân tộc, là những chiêm nghiệm hướng vào chiều sâu nhân bản trong mỗi con người, trong từng số phận con người. Bởi vậy “cõi người” trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái là cả một nhân loại đầy phức tạp. Những khám phá tinh vi về con người, về từng số phận, từng cảnh huống, từng tính cách đã góp phần tạo nên một thế giới người với đủ màu sắc phong phú. Anh đã tái hiện thành công một xã hội người với nhiều loại người, nhiều lớp người, nhiều quan hệ chằng chịt. Xã hội Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển biến từ bao cấp sang kinh tế thị trường bên cạnh những cái đổi mới, cái hiện đại, cái tân thời thì cũng bộc lộ nhiều vấn đề bất cập, nhiều cái đáng khóc, đáng cười, nhiều thói hư tật xấu của con người cũng có dịp nảy sinh. Trong xã hội ấy có những con người đầy bản lĩnh và đầy khát vọng như Hòa (Người đàn bà trên đảo), trong sáng như cậu bé Tân (Trong sương hồng hiện ra), nhưng cũng có những con người ngập chìm trong dục vọng như Tường (Người đàn bà trên đảo), có những thanh niên tha hóa như Cốc, Bóp, Phũ (Cõi người rung chuông tận thế) và cũng có những số phận bất hạnh bị xã hội lãng quên như những người đàn bà trong Đội Năm (Người đàn bà trên đảo). Ở những tác phẩm sau này, Hồ Anh Thái thường thể hiện một giọng điệu châm biếm giễu nhại sắc sảo. Âu đó cũng là giọng chung của nhiều tiểu thuyết theo dòng hậu hiện đại. Đến Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái, một lần nữa cái tấn trò đời lại được xuất hiện, nhưng qua cái nhìn đầy châm biếm hài hước. Quả thật, Mười lẻ một đêm gần với một thứ tiểu thuyết hoạt kê, gợi nhớ đến không khí của Số đỏ (Vũ Trọng Phụng) bởi những nhân vật có phần nghịch dị trong đó, bởi giọng văn châm biếm, bởi cái nhìn sắc sảo như muốn phanh phui tất cả những cái xấu ở đời. Chuyện mười lẻ một ngày đêm đâu chỉ là chuyện của một đôi tình nhân trớ trêu bị nhốt trong căn phòng của một người bạn mà thực chất là chuyện của “cả một thời thế, một cõi người ở ngoài kia nhốn nháo và đầy nghịch lý được quy chiếu trong một cái nhìn trào lộng và phóng đại. Mà dường như tác giả không buông tha bất cứ một điều gì. Chuyện học thuật phong cấp phong hàm, chuyện trai gái nhà nghỉ nhà trọ, chuyện hát hò vẽ tranh nặn tượng, chữ nghĩa văn chương, chuyện các doanh nhân thời mở cửa, chuyện các mađam quyền cao chức trọng dắt nhau tìm đất trang trại lập hội khai hoang, thậm chí cả chuyện đái đường và du lịch rác – Thúy Nga, báo Tuổi Trẻ”... Vì lẽ đó trong Mười lẻ một đêm, người ta thấy hiện rõ bộ mặt Hà Nội, Sài Gòn, với “sự giàu xổi của giới trí thức, sự kệch cỡm của những phòng khách, sự tẻ nhạt của lớp thị dân, thói trưởng giả của giới thượng lưu...” (Phỏng vấn Hồ Anh Thái, Nhà văn đích thực phải tử tế, báo Thể thao và Văn hóa). Với nhà phê bình Hoài Nam thì trong tiểu thuyết này “hoàn toàn không có sự nổi loạn của nhân vật. Nhân vật ở đây chỉ là những con rối trong bàn tay điều khiển của nhà văn. Chúng xuất hiện và hành động chỉ là để thể hiện cho cái cảm quan của anh về một trần thế ngả nghiêng đầy rẫy sự tức cười. Mà quả thật, ở một xã hội mà sự hôn phối giữa căn tính bao cấp kéo dài với thói xốc nổi học đòi thời mở cửa vẫn chưa qua hết thì đâu có thiếu chuyện nực cười”. (Hồ Anh Thái – Người lúc nào cũng đang viết, báo Văn nghệ Tết Mậu Tý 2008).

Nhìn ở góc độ nhân tính, trong “cõi người” ấy, con người bản năng được Hồ Anh Thái thể hiện thành công nhất. Con người bản năng đã từng xuất hiện khá đậm nét trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, thấp thoáng trong một số truyện ngắn của Nam Cao để rồi gần như vắng bóng hoàn toàn trong văn học cách mạng. Sự xuất hiện của con người bản năng trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng gắn liền với quan niệm của tác giả về “cái dâm của loài người” và ngày đó nó đã từng phải gánh chịu khá nhiều búa rìu của dư luận. Nhưng bước vào thời kỳ đổi mới, con người bản năng xuất khiện khá đường hoàng trong văn học, nếu không nói là trở thành những hình tượng nổi bật của văn học thời kỳ đổi mới. Nhà văn không còn chỉ ngợi ca những vẻ đẹp thánh thiện của con người mà còn phải đi vào khám phá những vỉa tầng sâu thẳm trong mỗi con người, khám phá những phần khuất tối, những ham muốn, những dục vọng, những khát khao bị kiềm chế bởi những chế ước của xã hội. Con người bản năng trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái được anh thể hiện tinh tế nhưng cũng đầy táo bạo. Đó là Tường (tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo), một sinh viên Đại học Mỹ thuật bị đuổi học vì dính líu vào một vụ bê bối. Anh được nhận vào làm việc trong một trại ươm giống đồi mồi trên đảo Cát Bạc. Chính khung cảnh cô quạnh nơi đây đã làm sống lại những dục vọng bản năng trong con người Tường. Đó là những người đàn bà trong Đội Năm, họ hầu hết đều là những cựu chiến binh được đưa vào làm việc trong một lâm trường quốc doanh đóng trên đảo. Họ khao khát được hạnh phúc, khao khát được làm vợ, làm mẹ nhưng phần nhiều trong số họ đã quá tuổi lấy chồng. Họ được khuyến khích yêu đương với những người lính một đơn vị đóng quân trong vùng nhưng bộ đội thuộc thế hệ trẻ hơn và phải gọi họ là cô, là chị. Họ đã tìm thấy Tường như một cứu vớt, như nắng hạn gặp mưa. Ở những người đàn bà của Đội Năm, Hồ Anh Thái đã có một cái nhìn sâu vào từng số phận, cảm thông với những khát khao hạnh phúc chính đáng của họ. Nhưng ở nhân vật Tường, ham muốn bản năng đã đẩy anh ta đến bên bờ vực của sự suy đồi. Vì vậy, bên cạnh Tường và những người đàn bà trong Đội Năm, Hồ Anh Thái xây dựng nhân vật Hòa như một điểm nhấn. “Đó là một điển hình cho con người xã hội chủ nghĩa trong thị trường tự do: dũng cảm, thông minh, có tham vọng cá nhân song có trách nhiệm xã hội và luôn luôn biết kiềm chế. Nhưng nếu chỉ có vậy thì Hòa cũng chỉ là hình mẫu lý tưởng của văn học cách mạng. Cái chân thực của nhân vật này chính là cuộc đấu tranh quyết liệt với phần bản năng trong con người mình, không thể xóa bỏ nó nhưng cũng không để cho nó chế ngự bản thân – nhà văn Mỹ Wayne Karlin, lời tựa cho bản tiếng Anh”.

Ở một tiểu thuyết khác viết về đề tài Ấn Độ, Đức Phật, nàng Savitri và tôi, Hồ Anh Thái đã rất thành công khi xây dựng hình tượng con người bản năng, tiêu biểu là hình tượng nàng Savitri. Nàng ngang tàng phóng túng và đối kháng với các giáo điều. Con người nàng cũng đầy sức sống và đầy bản năng, đầy đam mê nhục cảm, đầy khao khát dục lạc. Sự xuất hiện của một nhân vật như Savitri trong một cuốn sách viết về Đức Phật quả là một sự nổi loạn. Nhưng ở một đất nước như Ấn Độ – xứ sở của Kama Sutra (Dục lạc kinh) thì sự xuất hiện của những nhân vật như Savitri có lẽ không phải là điều khó lý giải, nếu không nói đây là hình tượng đẹp nhất, sinh động nhất trong tác phẩm. Ở con người Savitri, bản năng không phải là tất cả, đam mê dục lạc không phải là tất cả. Hay nói cách khác, song hành với cái phần bản năng nhục cảm trong nàng là một tình yêu thánh thiện và vô vọng với Đức Phật.

Bên cạnh hình tượng con người bản năng, Hồ Anh Thái cũng thành công trong việc xây dựng hình tượng con người tha hóa trong xã hội hiện đại. Trong tiểu thuyết của anh, sự tha hóa cũng đồng nghĩa với cái ác. Với Cõi người rung chuông tận thế ba nhân vật Cóc, Bốp, Phũ là những điển hình cho lối sống thác loạn của một bộ phận thanh niên trong xã hội hiện đại. Người đọc bị “gây hấn” với nhân vật Bóp – một anh chàng chỉ thích tìm khoái cảm trong việc bóp chết một con vật nào đó. Thực chất đó đều là sự hiện thân của cái ác, cái ác mang màu sắc của thế giới hiện đại. Hay nói cách khác, “với tác phẩm này, lại một vấn đề của Con người - Nhân loại được đề cập: Thiện - Ác. Tác giả chọn cách đứng trên cỗ xe của cái ác; gần gũi, tòng phạm, hóa thân vào cái ác... để chỉ ra căn nguyên sâu xa hình thành cái ác...” (lời giới thiệu tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, NXB Đà Nẵng, 2002). Nhà văn rung chuông báo động về một ngày tận thế, đó là ngày cái ác sẽ chế ngự cõi người. Nhưng từ trong sâu thẳm, tác phẩm vẫn neo giữ một niềm tin cho người đọc, tin ở sự hướng thiện của con người.

Bởi vậy, con người hướng thiện là một điểm sáng của tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Nhân vật “Tôi” trong Cõi người rung chuông tận thế ban đầu cũng đồng lõa với cái ác, quyết tâm tìm cô gái Mai Trừng để trả thù cho ba anh chàng Cốc, Bóp, Phũ. Không ngờ, quá trình tìm kiếm ấy lại là một quá trình hướng thiện. Anh ta nhận thức được cái ác, thấu hiểu giá trị của cuộc sống và nỗi đau của con người, sẻ chia với Mai Trừng cái sứ mệnh thiêng liêng đi trừng trị cái ác trong cõi đời này. Và có lẽ chỉ có tình yêu thương con người và sự thức tỉnh của con người mới có thể hóa giải, diệt trừ tận gốc cái Ác, xây dựng cái Thiện. Ngay chính bản thân nhà văn cũng tâm niệm về tác phẩm của mình: “Kẻ làm ác ở đây bị tiêu diệt bằng chính điều ác mà chúng định gây ra cho người lương thiện, một thứ hình phạt tự thân. Nhưng cõi người cũng bao dung lắm. Bạn hãy để ý nhân vật chính, dọc theo cuốn sách là hành trình hướng thiện của anh ta cho đến khi trút bỏ được cái ác. Triết học Phật giáo không tin vào định mệnh: kẻ làm ác vẫn còn cơ hội được giác ngộ, được đón nhận trở lại cõi người, chứ không phải bao giờ cũng bị trừng phạt”. (Người lao động cuối tuần, 12-10-2002). Có thể nói, đây cũng là tư tưởng nhân văn xuyên suốt trong nhiều tác phẩm của Hồ Anh Thái, và cũng là cái cốt lõi trong quan niệm của anh về cõi người.

Văn Nghệ, số 16, 18-4-2009




1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương