Cõi người cũng bao dung lắm



tải về 1.71 Mb.
trang2/5
Chuyển đổi dữ liệu30.10.2017
Kích1.71 Mb.
1   2   3   4   5

Lam Điền


Tuổi Trẻ thành phố HCM, 12-11-2002

Cái ác ở phía ít ngờ nhất


Ngô Thị Kim Cúc


Câu chuyện được bắt đầu giống như phim hình sự, với một cái chết đầy bí ẩn, cùng vô vàn hình ảnh trần trụi của cuộc sống thực không hề mỹ miều. Cái chết ấy lập tức kéo theo hai cái chết khác, như trò đánh đố, cuốn người đọc theo sau một bóng hồng hư hư ảo ảo, nghi phạm số một gây ra mọi thứ. Bốn nhân vật nam cùng một hội nhóm, bốn gã đàn ông cao to lừng lững, tốt tướng, tốt tiền, chỉ nội tâm là có điều bất ổn. Cả ba thanh niên đều được gọi bằng biệt danh, đều thuộc tầng lớp trên, nếu chỉ căn cứ vào gia thế hoặc những gì họ chiếm được của đời sống. Người thứ tư thuộc thế hệ trước, từng ngần ngừ ở đường ranh khi phải chọn hoặc hội họa hoặc nghề đi tàu viễn dương, và cuối cùng đã tìm được thế cân bằng qua việc vẫn đi học để ra làm thuyền trưởng đồng thời vẫn tiếp tục vẽ như một họa sĩ nghiệp dư. Nghệ thuật khi không còn là cứu cánh sẽ là thứ trang trí sang trọng, hỗ trợ cho việc kiếm tiền.

... Câu chuyện ngoặt sang hướng khác để lai lịch cô gái rõ dần lên. Giọng văn thẳng thừng kiểu phóng sự dần chuyển sang một tông êm ái hơn. Câu chuyện tình thơ mộng thời chiến giữa cô gái giữ kho với anh lính trẻ, và cái chết rùng rợn của người lính đã đưa lời nguyền oan nghiệt cột vào số kiếp đứa bé gái mồ côi một mình còn lại. Mai Trừng được trói chặt vào sứ mạng đi trừng phạt cái ác, như ý nguyện của người mẹ đã chết, cho dù chiến tranh đã qua và cô lớn lên trong một xã hội hòa bình. Những cái chết của Cốc, của Bóp, của Phũ đều là sự trừng phạt ngoài ý muốn của Mai Trừng, và là giọt nước cuối cùng làm tràn chiếc ly chịu đựng của cô.

Từ một cốt chuyện mang tính siêu thực, Hồ Anh Thái đã đem những vấn đề rất con và rất người đặt lên trang giấy: dục vọng, cái ác, chiến tranh, tình yêu, thù hận, vòng luân hồi bất tận… trói buộc con người, có thể trong thời hạn, cũng có thể là mãi mãi…

Nhân vật Tôi, mang trong người cùng dòng máu với bọn thanh niên đáng sợ kia, những kẻ dám làm mọi chuyện để thỏa mãn trò - chơi - kẻ - mạnh của mình, đã có cái nhìn tiên cảm nhưng lại không đủ khả năng để ngăn chặn bất cứ hành động ác nào. Bản thân anh ta cũng là một thứ cây cỏ yếu đuối nương theo chiều gió. Thuận cho người anh định đoạt hướng đi của mình, để mặc cô hoa khôi học trò lôi cuốn vào cuộc tình lừa đảo, lập gia đình một cách thiếu trách nhiệm, ngay với cái chết oan ức của con gái cũng chẳng có được hành động nào tích cực... May mắn sao, việc duy nhất anh ta đã làm được là, thoát ra khỏi vòng lẩn quẩn thù - trả thù, để rồi lại thù - trả thù tiếp nối mãi. Bởi anh ta đã may mắn hiểu được đôi điều trong kinh sách, may mắn gặp những con người mà phần bản thiện của họ đã giúp cứu chuộc phần nào tội ác tràn ngập chung quanh. Cô gái xinh đẹp Mai Trừng cuối cùng đã được giải khỏi lời nguyền oan nghiệt để trở lại làm cô gái bình thường, được sống đúng như một con người, với tất cả sức mạnh và sự yếu đuối bình thường của một con người thực sự.

Với Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái đã tiến thêm một bước trong kỹ thuật tiểu thuyết, thành công trong việc sử dụng những yếu tố ảo nhằm phục vụ hàm ý của tác phẩm. Tiếng chuông cảnh cáo đang vang động, trên khắp không gian cuộc đời, truyền rao bức thông điệp khẩn: con người phải biết sợ cái ác, nhất là cái - ác - không -ngờ - đến ngay trong chính những - ý - định - tưởng - chừng - tốt - đẹp của mình...

Báo Thanh Niên, 3-11-2002



Cái ảo trên nền thực


Vân Long
Tên cuốn tiểu thuyết cũng là lời cảnh báo của tác giả, là chủ đề của tác phẩm. Nhà văn Hồ Anh Thái đề cập vấn đề Thiện - Ác của muôn đời, thông qua một câu chuyện mà anh đã tạo dựng, để đưa ra một kiến giải: hận thù lại sinh ra hận thù trong một cái vòng luẩn quẩn, hận thù phải được hóa giải trong một nhãn quan yêu thương và bao dung.

Mai Trừng, cô gái mang tên như lời nguyền của bố mẹ cô bị chết thảm khốc trong chiến tranh, như mang một sứ mạng không khoan nhượng: trừng phạt kẻ ác.

Cô mang một vẻ đẹp lạ lùng với công năng thiên phú: kẻ xấu định xâm phạm cô bằng cách nào, thì ngay lập tức bị trừng phạt theo cách ấy, ba gã trai con nhà giầu, to con, có võ, đủ mọi thế mạnh trong đời sống hiện đại đã lần lượt bị hạ chết vì chúng đã tự thị bằng chính những ưu thế ấy để uy hiếp người yếu.

Nhân vật chính là Tôi, người kể chuyện, là người lúc đầu cũng góp phần đồng lõa với cái ác, nhưng dần dần anh đã giác ngộ, xuyên suốt cuốn tiểu thuyết là hành trình hướng thiện của anh, kẻ làm ác vẫn còn cơ hội để trở lại cõi người lương thiện, không phải bao giờ cũng bị trừng phạt, đó cũng là quan niệm bao dung của triết học Phật giáo.

Nhưng một luận đề tiểu thuyết dù hay đến mấy cũng không thể thuyết phục người đọc, nếu sự sinh động của đời sống hiện thực không hiện diện trên trang viết.

Về mặt này Hồ Anh Thái đặc biệt mài sắc được giọng kể trào lộng, hóm hỉnh của mình. Tác giả chỉ chấm phá vài nét, ta đã thấy nhân vật đó lồ lộ tính cách như đã gặp ở ngoài đời vậy. Thí dụ, nhân vật thằng Cốc, chỉ khoảng chục trang đã rõ ra tính cách hãnh tiến, tàn bạo của nó đang được cuộc sống hiện tại dung dưỡng.

Đêm nay em đừng về khách sạn, về nhà anh mà ngủ. Khiếp nói năng trắng trợn thế? Vậy phải nói thế đéo nào? Số 12 kinh hồn, không ngờ một siêu sao thanh lịch và cao quý trên màn bạc lại phát ngôn như thế. Có hay không, nói ngay?... Có muốn thành hoa hậu á hậu hay thành thương binh? Cốc giẫm một cú phủ đầu lên chân số 12. Chỉ chút nữa cô ta kêu thét lên, mấy ngón chân như sắp nứt ra trong giày cao gót. Nói ngay, có muốn thành con què lê bước qua sân khấu hay không, nói?

Hẳn phải viết một mạch “liền tù tì” không ngoặc kép, xuống dòng gì, thì mới khắc họa được sự bặm trợn đáng kinh ngạc của gã trai!

Nhà văn còn “chộp” được cảnh một điệu múa ma quái bên ghềnh đá bờ biển. Những cô gái làng chơi ế khách thực hiện một cuộc đốt vía tập thể: Những người đàn bà không nhìn rõ mặt, hình hài chập chờn, đang đứng dạng chân trong thế compa mở hai mươi lăm độ. Họ cũng đốt những tờ giấy, lay lay ngọn lửa như một nốt ngân có luyến láy ở cái nơi là nguồn vốn tự có của một cái nghề kinh doanh bất chấp mọi quy luật kinh tế là lấy lỗ làm lãi...

Ông chủ khách sạn này hẳn cũng là một đệ tử của Năm Cam xã hội đen: Anh Thế hầu như không nhận tiền thanh toán bữa tiệc... cũng như vậy với những cái ô khác. Những cái ô này đủ che chở khách sạn cho tới ngày tận thế.

Đọc văn Hồ Anh Thái gần đây, có lúc bật cười thành tiếng vì những đoạn anh trào lộng, châm biếm có duyên. Nhưng đôi lúc cũng giật mình muốn hỏi tác giả: vậy từ nay tác giả đã ly khai chất sâu lắng trữ tình trong Người và xe chạy dưới ánh trăng hoặc (thật tiếc) chất triết luận, khiến người đọc phải đào sâu suy ngẫm như trong Tiếng thở dài qua rừng kim tước?...

Trong cuộc phỏng vấn của báo Người lao động gần đây, Hồ Anh Thái đã trả lời điều này: " Hiện thực và không gian nghệ thuật của mỗi cuốn sách đòi hỏi một cách xử lý riêng, một giọng điệu riêng, văn phong riêng. Tôi tránh lặp lại người khác và lặp lại chính mình. Tôi cho rằng người có phong cách chính là không khư khư bám lấy một phong cách cố định, bất biến. Có phong cách tức là phải đa giọng điệu, dù anh có đổi giọng đến thế nào thì vẫn là trên cái nền tảng văn hóa của anh, trên tầm nhìn của anh vào thế giới và nhân sinh mà thôi. Cho rằng thay đổi giọng điệu sẽ làm loãng phong cách của chính mình là một cách hiểu đơn giản và làm cho người sáng tạo lười biếng, ngại làm mới mình".

Quả nhiên ở tiểu thuyết này, giọng văn trào lộng hài hước, nhà văn như chỉ dành cho những nhân vật phản diện. Về cuối truyện, khi đặc tả những số phận bị thiệt thòi và khi nhân vật chính tìm tới nguồn trong của cái Thiện, giọng văn anh trở lại đằm thắm, trữ tình. Nội dung đòi cách thể hiện thích hợp với nó, đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy là thế chăng?

Tôi trò chuyện với Hoàng Ân, một họa sĩ ở Đà Nẵng đã có sáu cuộc triển lãm ở thành phố Hồ Chí Minh và hai cuộc ở Mỹ, anh nói: “Sáu cuộc triển lãm của tôi là sáu phong cách khác nhau”... Tôi không hiểu sâu sắc về hội họa, nhưng thực ra, có phải thế này không: đó là sự đa dạng về hình thức trong một phong cách thống nhất. Như nhà thơ Chế Lan Viên trước đây thường nhắc nhở các nhà thơ trẻ. Và bây giờ Hồ Anh Thái nhấn rõ thêm: “... Dù anh có đổi giọng đến thế nào thì vẫn là trên cái nền tảng văn hóa của anh, trên tầm nhìn của anh vào thế giới và nhân sinh mà thôi”.

Thơ, hay họa, hay văn đều bị chi phối trên những nguyên lý chung của sáng tạo nghệ thuật như vậy.

Hồ Anh Thái sử dụng yếu tố huyền hoặc khá đắc dụng. Cái ảo trong văn học thường chứa đựng mơ ước của nhà văn. Nhưng nếu nó thành một thuộc tính bất biến gắn vào tính cách một nhân vật thì lại như con dao hai lưỡi. Nó bảo vệ Mai Trừng trước kẻ xấu thì chính nó lại ngăn Mai Trừng đến với hạnh phúc. Buộc tác giả phải giải quyết bằng một trong hai cách: cô gái trong trắng như thiên thần của Gabriel Garcia Marquez trong Trăm năm cô đơn, cuối cùng phải bay lên khỏi trái đất cùng những chiếc khăn trắng, không thể ở lại cõi đời ô trọc này.

Mai Trừng của Hồ Anh Thái thì khác: khi đã có “công năng” trừng phạt ngay lập tức kẻ xấu hãm hại mình thì lại tìm tới hai ngôi mộ của bố mẹ, xin giải “công năng” đó, xin được sống như người bình thường, chấp nhận mọi rủi ro, hạnh phúc của người bình thường. Bởi kẻ ác vẫn có cơ hội giác ngộ và không phải bao giờ cũng bị trừng phạt. Sự lãng mạn của tác giả rồi cũng hạ cánh khi đã làm xong công việc của mình.

Cõi người rung chuông tận thế vừa thể hiện được tầm tư tưởng của tác giả vừa hấp dẫn bởi những chi tiết trong đời sống được tái hiện qua cách nhìn hóm và sắc của nhà văn, trong 257 trang văn bố cục gọn, chặt.

Sức khỏe và đời sống, 9-11-2002

Vẫn là nỗi đau

truyền kiếp

Vũ Bão
Ngay từ hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, tôi đã được nghe cha tôi góp ý kiến với một số cán bộ Việt Minh thường chê bai lớp cán bộ thanh niên: Chắc chắn khi bằng tuổi chúng ta bây giờ, họ sẽ làm được nhiều công việc nổi đình đám hơn chúng ta cho mà xem.

Đúng thế, năm 1986, tôi gặp Hồ Anh Thái ở trụ sở Hội Văn nghệ Hà Nội 19 Hàng Buồm: một cậu binh nhất xúng xính trong bộ quân phục nội địa "may phòng lớn", mỗi khi nói chuyện với chúng tôi cứ một điều "chú", hai điều thưa gửi. Tuy chỉ ngang cấp "đại đội viên đóng lon chờ tiểu đội phó" như tôi thời đi lính Vệ Quốc Đoàn nhưng anh binh nhất này đã có trong tay tiểu thuyết Vẫn chưa tới mùa đông và truyện ngắn Chàng trai ở bến đợi xe vừa đoạt giải thưởng của tuần báo Văn Nghệ, Hội nhà văn Việt Nam. Thế là chàng trai hăm lăm tuổi này đã đi trước tôi một bước, mãi năm năm sau, ông già sáu mươi tuổi này mới giành được giải "áp chót" của tuần báo Văn Nghệ. Còn Thái, ngay năm sau đó, tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng của anh ra đời, báo hiệu "chàng trai ở bến đợi xe" đã bắt đầu mở tốc độ, băng xa vạch xuất phát. Thế là Hồ Anh Thái được nếm ngay trận đòn đầu đời. Một vài quan chức thiếu những kiến thức cơ bản về sáng tác văn học, lại sớm nóng gáy, cứ tưởng một vài nhân vật xuất hiện trong Người và xe chạy dưới ánh trăng đang ám chỉ vào mình và đám đệ tử thân cận của mình, đã cao giọng phê phán gay gắt những trang viết trung thực. May mắn làm sao, năm đó, những nhà văn trung thực đã có nơi có chốn lên tiếng bênh vực một số tác phẩm phản ảnh hiện thực như nó vốn có, nên sớm ngăn chặn được một trận đòn hội chợ rơi xuống đầu nhà văn nào dám bước qua điều cấm kỵ. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam đã trao giải chính thức cho tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng, khẳng định hình ảnh "người và xe chạy dưới ánh trăng" chính là bức tranh thu nhỏ về thời hậu chiến: dù đang còn mang trên mình những vết sẹo của thời bom rơi đạn réo, từng người vẫn hợp lực cùng đồng đội đẩy cỗ xe vượt qua con dốc gập ghềnh đang chìm trong đêm đen, sớm lao nhanh về phía ánh trăng.

Thành công của cuốn tiểu thuyết đã cổ vũ Hồ Anh Thái dấn thân vào công cuộc khám phá mảnh đất đầy gai góc thời hậu chiến. Anh đã bắt trúng mạch nỗi đau truyền kiếp của con người.

Nhiều người đọc tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo không nghĩ rằng người viết những dòng chữ xúc động ấy lại là một chàng trai hăm sáu tuổi. Tầm nhìn xa của anh đã vượt qua tầm nhìn thông thường trời ban phát cho lứa tuổi ấy. Khi những người lính sống sót đã bái biệt từng ngôi mộ đồng đội nằm nhấp nhô dưới tán cây rừng rồi giã từ vũ khí, trở về hậu phương thì những người đàn bà ở những miền yên tĩnh vẫn phải cắn răng chịu đựng gánh nặng của chiến tranh đang đè trĩu vai mình. Những cô gái không chồng tiếp tục sống một mình một bóng trên đảo xa, trồng rừng xây dựng một "pháo đài xanh" cho chủ nghĩa xã hội. Đêm đêm, các chị vẫn ngóng chờ các chàng trai ở bên kia đảo, vượt vách núi sang tỏ tình. Thiên tình sử trong đêm đã bị một ông trưởng đơn vị lâm nghiệp nghiêm khắc ra sức ngăn chặn. Các chị không chịu, quyết đấu tranh để đòi quyền được... yêu - cái quyền trời cho mỗi con người khi bước vào đời. Ngòi bút sung sức của Hồ Anh Thái đã thổi hồn cho tiếng kêu tha thiết đó. Mười năm sau, nhà xuất bản L'Aube (Pháp) rồi NXB Washington đã chọn tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo giới thiệu với bạn đọc những dòng suy ngẫm của một nhà văn Việt Nam về thời hậu chiến của đất nước mình. Thời chúng tôi mới gõ cửa làng văn, chỉ cần một trang Người đàn bà trên đảo cũng đủ làm các cụ phải "lườm" và một tài năng trẻ sớm bị ngắt ngọn. Thời Hồ Anh Thái ra quân, lực lượng trợ chiến đã đủ sức yểm trợ, làm điểm tựa cho những cái - đầu -biết - suy - nghĩ bật đà đi xa hơn vào miền đất chưa in dấu chân người. Trong ba năm tiếp theo, Hồ Anh Thái tiếp tục trình làng tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra, truyện vừa Mai phục trong đêm hè và tập truyện ngắn Những cuộc kiếm tìm.

Ít lâu sau, tự dưng những người đang "mê" truyện của Hồ Anh Thái thấy vắng bóng anh trên những tờ báo quen thuộc. Một số người trong trong nghề phỏng đoán rằng chỉ trong tám năm trời, Hồ Anh Thái đã viết tới bốn tiểu thuyết, hai truyện vừa, hai tập truyện ngắn, nguồn cảm hứng sáng tác đã bắt đầu cạn mạch. Thì ra không phải thế, Bộ Ngoại giao đã cử Hồ Anh Thái sang Ấn Độ làm nghiên cứu sinh.

Không ai ngờ, trong cuộc gặp mặt của các nhà thơ Ấn Độ viết bằng tiếng Hinđi, Hồ Anh Thái đã lên diễn đàn đọc năm bài thơ các tác giả Việt Nam do chính anh dịch sang tiếng Hinđi. Anh là nhà văn Việt Nam đầu tiên hái những bông hoa còn đang phong nhụy của vườn nhà, vượt qua hàng rào ngôn ngữ đến tặng những nhà thơ và những người yêu thơ bên Ấn Độ.

Rồi Hồ Anh Thái được giữ lại làm việc tại đại sứ quán Việt Nam ở Ấn Độ. Với cương vị mới, Hồ Anh Thái có điều kiện thuận lợi thâm nhập đời sống phong phú của người dân Ấn Độ. Anh về làng quê chuyện trò với nông dân, anh đến thăm Đền Vàng khi những sát thủ người Sikh vẫn còn hoành hành, lính đặc nhiệm Black Cat còn giăng khắp thành phố. Anh còn đi xa hơn nữa, sang tận Nepal thăm nơi Phật ra đời, những vùng trên đất Ấn Độ nơi Phật đắc đạo, giảng kinh, nơi Phật hóa. Anh còn đi đến tận "Phiên chợ Ba Tư" ở Iran để được nhìn tận mắt những gì nhạc sĩ Albert Ketelbey đã thể hiện trong những giai điệu cuốn hút lòng người. Anh còn đi xa hơn nữa, vừa đi vừa suy ngẫm thân phận con người, vừa khai mạch nỗi đau truyền kiếp của con người đầu đội trời, chân đạp đất. Một loạt truyện ngắn Người Ấn, Tiếng thở dài qua kim rừng tước, Người đứng một chân, Đi khỏi thung lũng mới đến nhà... lần lượt ra mắt bạn đọc trong nước. Những phát hiện về tâm hồn người Ấn Độ đã cuốn hút người đọc. Theo thao tác của người viết truyện, Hồ Anh Thái không tô vẽ "thắm thiết tình hữu nghị" để trả nợ công tiếp đón và cũng không phải loại văn "thấy gì ghi nấy" kiểu ông Lỷ Đình Dù đang choáng ngợp trước cảnh vàng son. Chính một nhà phê bình văn học Ấn Độ đã nhận xét những trang viết của Hồ Anh Thái in trên trang văn nghệ một số tờ báo của Ấn Độ: những dòng chữ trung thực của Hồ Anh Thái là những mũi kim châm cứu của Á Đông đã điểm trúng huyệt tính cách Ấn Độ.

Hồ Anh Thái đã dẫn dắt người đọc theo cái mạch của nỗi đau truyền kiếp, thăm ngôi đền cổ nằm ở cuối rừng. Thì ra đã đeo cái kiếp con người đầu tròn chân vuông, dù ở nơi đâu cũng không thoát khỏi những lớp sóng trùm lên nhau của biển khổ. Những năm ở Ấn Độ, Hồ Anh Thái không chỉ lo phần sáng tác của riêng mình, anh còn cộng tác với Nhà xuất bản Quốc gia Ấn Độ (National Book Trust of India) tuyển chọn và dịch Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam ra tiếng Anh nhằm giúp bạn đọc Ấn Độ vượt qua hàng rào ngôn ngữ, tìm đến mảnh vườn nhiều hoa thơm, quả ngọt bên bờ biển Đông.

Về nước Hồ Anh Thái cộng tác với nhà văn Lê Minh Khuê, nhà văn Trương Vũ và nhà văn Wayne Karlin sưu tầm, tuyển chọn và dịch Phía bên kia góc trời (The Other Side of Heaven) - hợp tuyển văn xuôi Việt - Mỹ. Với mạng lưới phát hành khá rộng của nhà xuất bản, Phía bên kia góc trời đã đến tay bạn đọc ở Trung Đông, Bắc Âu. Nhà xuất bản còn mời Hồ Anh Thái và Lê Minh Khuê bay tới gần hai mươi bang ở nước Mỹ để tiếp xúc với bạn đọc.

Năm 1998, ba tin vui lần lượt đến với Hồ Anh Thái: nhận lời mời của trường Đại học Tổng hợp Washington (Mỹ), anh đến thuyết trình về văn hóa phương Đông và văn học Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Kết thúc chuyến đi thỉnh giảng, anh được mời sang dự Liên hoan các tác gia Quốc tế ở Toronto (Canada). Cũng trong thời gian ấy, nhà xuất bản Curbstone Press xuất bản tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra (Behind the Red Mist) của Hồ Anh Thái và mời anh đi Washington, San Francisco, San Jose, Seattle, Maryland… giao lưu với bạn đọc Mỹ.
*

* *


Hồ Anh Thái lần lượt "moi" trong máy vi tính cho tôi đọc Cõi người rung chuông tận thế, Họ trở thành nhân vật của tôi, Tự sự 265 ngày. Không những thế, anh còn là chủ biên tập Truyện ngắn Mỹ đương đại và tập truyện ngắn Việt Nam xuất bản bằng tiếng Anh ở Mỹ Tình yêu sau chiến tranh (Love after War). Tôi phải tự hỏi: vừa là chuyên viên Bộ Ngoại giao, vừa là tổng thư ký Hội nhà văn Hà Nội, vừa là phó chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội, Hồ Anh Thái viết gần nghìn trang sách ấy vào lúc nào? Tôi chưa hề được nghe anh tuyên bố hùng hồn về nghề nghiệp. Anh lẳng lặng viết. Đôi lúc một mình một bóng, tôi không dám nhấc điện thoại gọi anh bạn trẻ vì tôi biết giờ này, Hồ Anh Thái "nạp" các nhân vật của mình vào máy vi tính.

Hai thằng em, Họ trở thành nhân vật của tôi (NXB Thanh Niên), Tự sự 265 ngày (NXB Hội Nhà Văn) đã trình làng rồi, còn thằng anh Cõi người rung chuông tận thế thì lại chứng minh được quả đất tròn: tập bản thảo xuất phát từ nhà Hồ Anh Thái, lần lượt chu du qua nhiều nhà xuất bản rồi cuối cùng trở về đúng nơi đã xuất phát. Biên tập viên nào cũng thì thầm với anh: Truyện hay nhưng lúc này in chưa thuận. Biết chuyện đó, một cán bộ của nhà xuất bản Đà Nẵng bay ngay ra Hà Nội, tìm đến Hồ Anh Thái lấy bản thảo về đọc. Ý tưởng độc đáo, lối viết khác lạ, nhân vật sắc nét... anh em trong nhà xuất bản Đà Nẵng đều nhất trí đánh giá Cõi người rung chuông tận thế là một tiểu thuyết hay, không thể để tuột khỏi tay của những người đang yêu mến nó. Chính nhờ những "bà đỡ" thông minh và dũng cảm tận tình xử lý các ca đẻ khó như thế này, một số đứa con tinh thần mới vượt qua cửa tử, chu du khắp đông đoài nam bắc dưới ánh sáng mặt trời.

Cầm cuốn sách còn thơm mùi mực, tôi vui sướng như được nhìn thấy cuốn sách của chính mình.

Đọc lướt Cõi người rung chuông tận thế, một số người mới bén duyên với văn chương cứ tưởng rằng nếu tiểu thuyết mà viết như thế này thì mình cũng viết ngay được. Tôi cũng cầu mong mỗi cuốn tiểu thuyết ra đời sẽ châm ngòi cho cảm hứng sáng tác của hàng chục, hàng trăm người thích viết. Triết lý nhân sinh về nỗi đau truyền kiếp của con người đã được Hồ Anh Thái thể hiện bằng những dòng chữ giản dị không hề đính giấy trang kim lấp lánh. Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái không giống như những tiểu thuyết hình sự kết thúc bằng chiếc còng số tám và câu: Anh đã bị bắt. Hồ Anh Thái đã dẫn dắt người đọc đặt chân vào một miền đất gần gũi nhưng huyền ảo khiến người ta luôn luôn đón chờ những chuyện bất ngờ đang ở phía trước. Đọc từng chương một, người đọc cứ như đang đi trên con đường kẹp giữa hai vách núi dựng đứng, nhìn về phía trước, lúc nào cũng cứ tưởng con đường sắp đâm thẳng vào vách núi, nhưng sau mỗi bước chân, vách núi cứ như giãn dần ra. Từ cái chết của Cốc trong lúc tắm biển với cô gái lạ mặt đến cuộc rượt đuổi của ba đứa bạn quyết chí phục thù, nhưng cái chết lại rơi vào từng gã trai chứ không phải cô gái lạ mặt. Những cái chết ấy chính là những con sóng liên tiếp vỗ vào chân, khoét cho thành đê ruỗng ra lúc nào không biết. Cuộc hành trình của chàng trai cuối cùng đuổi theo dấu vết Mai Trừng đã phát hiện lời nguyền của người mẹ truyền lại cho Mai Trừng: Mai ngày con lớn, con sẽ đi trừng phạt những kẻ ác. Rồi đến người yêu của Mai Trừng khi chạm vào người Mai Trừng cũng không thoát khỏi trừng phạt. Cuối cùng chính Mai Trừng đã nhận ra một lẽ đời: cuộc sống không có tình yêu không còn là cuộc sống nữa. Mỗi mối hận thù lại là hạt nổ kích cho một chuỗi hận thù kế tiếp nhau theo hình vòng tròn, không có điểm kết thúc. Mai Trừng phải vượt Trường Sơn, trở lại miền đất còn lưu giữ phần mộ của cha mẹ, cầu xin được giải lời nguyền.

Đọc một hơi xong Cõi người rung chuông tận thế, tôi chưa muốn gấp sách lại. Cuốn sách còn để mở cũng có nghĩa là nỗi đau ẩn giữa hai dòng chữ đã nhập vào tôi chưa dịu đi được.

Từ ngàn xưa đến giờ, cái Thiện và cái Ác vẫn là hai mặt của cuộc sống con người. Một số người nhăm nhăm đi làm điều Thiện nhưng kết quả của việc làm lại gây ra đau khổ cho người khác. Cũng có một số người còn nhân danh lĩnh sứ mạng đi diệt cái Ác thì hành động của họ cũng trượt dần sang vết chân của cái Ác mà chính họ không hay. Ngoái cổ lại nhìn để làm điều ác, bây giờ bị vạch mặt mới vội vàng sám hối để được thanh thản về cõi âm. Dù sao sám hối muộn cũng còn hơn là người làm điều ác mà không bao giờ chịu sám hối cả.

Những người đó không chịu đọc và cũng có khi chưa kịp đọc Cõi người rung chuông tận thế.

Sức khỏe & Đời sống, 22-3-2003

Cái mà văn chương ta

còn thiếu

Ma Văn Kháng


Nghệ thuật thật sự luôn làm nên cái bất ngờ. Truyện ngắn, tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, nhất là những cái gần đây, thú vị trước hết ở chỗ đó; ở từng con chữ có đời sống là lạ; ở mỗi tình tiết giàu sức khám phá, ở các mối liên tưởng lạ lùng và gần gũi; ở tổng thể câu chuyện, nó mở ra một góc nhìn nhân sinh, nó cho ta thấy tính đa tầng, những thực tại nhìn thấy và không nhìn thấy, những ấn tượng đặc sắc thông qua chủ đề của nó ở chính cuộc đời này, hôm nay…

Tôi thích giọng văn của Hồ Anh Thái. Nó có cái thông minh, hóm hỉnh vừa sâu sắc vừa có tính truyền thống. Hơn nữa, cái này mới là cái thật thích đây: chất trào phúng, giễu nhại, cay chua mà tâm thiện, chất này văn chương ta thiếu quá! Không có tài, chịu đấy!

Thành ra những truyện ngắn trong Tự sự 265 ngày, tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế vừa có tính đại chúng gần gũi vừa uyên bác, trí tuệ. Dễ ai đã làm được điều này!

Có điều này thuộc về nghề nghiệp: tốn chi tiết quá! Ông Nguyễn Công Hoan nói: Nên ăn dè! Truyện nào của Hồ Anh Thái cũng ăm ắp chi tiết, đọc vừa sướng vừa lo: phải mình khéo kiệt sức mất! Có lẽ đó là tâm lý của tuổi già? Chúc mừng bước thành công mới của một Hồ Anh Thái tài năng đích thực và tâm huyết với nghề.

Tạp chí Sách & Đời sống, 7-2003

Ám ảnh và dự cảm



Phạm Chí Dũng

Một câu chuyện lạ lùng, một không gian văn huyền ảo được văn học hóa mà có thể cứ làm cho chúng ta ngẫm nghĩ mãi về sự xuất hiện một cách hoàn toàn không bình thường của nó.

Những cái chết xảy ra liên tục chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi; và hơn nữa, lại đều là những cái chết bí ẩn, mà nếu có thể giải thích thì chỉ bằng vào hiện tượng chứ không phải mang tính khẳng định về thực chất của nó. Tác giả định làm cái gì đây? Phải chăng đây là một môtíp cấu tạo cốt truyện theo lối câu khách vốn đầy rẫy trong những cuốn tiểu thuyết ba xu? Và nếu thực sự xảy ra với Hồ Anh Thái về động cơ không xứng đáng với tư cách của một nhà văn như thế, thì dù là những cái chết kia có được giải thích như thế nào chăng nữa, dù có được mở đầu bằng một cái gì đó na ná như huyền bí và được kết thúc bởi một lý lẽ phân tích khoa học thuyết phục, những độc giả trung thành với dòng văn học chân xác truyền thống, những đồ đệ trung thành của nền văn hóa đọc, liệu có còn được bao nhiêu xúc cảm đối với phần còn lại của tác phẩm này?

Tôi cho rằng việc dẫn dắt mạch truyện tiếp theo để lôi cuốn người đọc mà tác phẩm vẫn không bị rơi vào tình trạng mòn mỏi của một sự kết thúc đã được báo trước và bị biết trước - đó mới là giao điểm lớn, cái chuyển đoạn lớn trong Cõi người rung chuông tận thế; và cũng chứng minh rằng tác giả không phải gợi ra những ý tưởng nhằm vào lớp công chúng chỉ thích những chuyện phiêu lưu tình ái hoặc một lối sống hình thức nào đại khái như thế. Trên văn đàn Việt Nam trong khoảng mười mấy năm nay, chúng ta cũng đã đụng chạm với nhiều sự thật về mặt trái của một xã hội đang bị tha hóa với tốc độ nhanh về đạo đức được phơi bày ra trong không ít tác phẩm. Nhưng Cõi người rung chuông tận thế có lẽ là một trong số ít những sự phơi bày được văn học hóa thành công, bởi ngoài yếu tố mạch truyện chuyển động nhanh, hiện đại, đi thẳng vào các vấn đề của xã hội hôm nay như nhà văn Tô Hoài nhận xét; còn vì bút pháp châm biếm trào lộng, mặc dù có đôi chỗ hơi thái quá, nhưng quả tình là đặc biệt và đặc sắc, với cả một kho ngôn ngữ dân gian ẩn dụ và tả thực phải nói là rất phong phú, cùng với điểm nhìn xuất phát từ góc độ khách quan và thái độ giễu cợt của nhà văn đối với những mặt trái của xã hội cứ thế mà tuôn trào ra, được lôi tuột ra, không che giấu gì cả… đã làm cho cuốn tiểu thuyết này trở nên cuốn hút. Chúng ta như cùng với tác giả tiến dần vào thế giới tưởng tượng có thực của anh, một thế giới mà chúng ta biết rõ nó đang là như thế chứ không phải là cái gì khác, và dòng vận động của cái thế giới ấy, dù có được tác giả kỳ dị hóa với đôi chút màu sắc ma quái và đồng bóng thì chính tác giả cũng không ngại ngùng che giấu điều đó, mà thông thường một số tác giả đã coi đó là thủ pháp, kỹ thuật viết văn để thu hút óc tò mò của người đọc. Với Hồ Anh Thái, cái được gọi là thủ pháp văn học đó cũng được anh công khai hóa, và người ta có thể nhìn nhận ở anh không chỉ một nhà văn hiện thực mà còn là một nhà văn không mang dụng ý tung hỏa mù đối với người đọc, trong khi biết sống thực với đứa con tinh thần của mình. Và vì sự trung thực về thủ pháp văn học như thế của Hồ Anh Thái, tôi cho rằng dù có thể là một người đầy cá tính song cho tới Cõi người rung chuông tận thế, anh vẫn là một con người của sự thật, thật trước hết đối với bản thân mình; và chúng ta lấy làm trân trọng anh vì phẩm chất ấy.

Trước Cõi người rung chuông tận thế, đã có một vài cuốn tiểu thuyết mang hơi hướng hiện thực và tâm linh, hoặc như có nhà phê bình sử dụng cụm từ "dòng ý thức" để mô phác trường phái văn học này... Những cuốn tiểu thuyết này cũng phơi bày những gì có thể gọi là trần trụi nhất của mặt trái xã hội. Nhưng đọc xong những cuốn sách đó, thường là người ta, đặc biệt là lớp người đọc trẻ tuổi, cảm thấy một hiện trạng xã hội quá ư ngột ngạt, quá ư quay quắt để đến nỗi không còn đâu là lối thoát.

Còn với Cõi người rung chuông tận thế, người đọc có thể tiếp nhận được tinh thần ám ảnh và dự cảm. Hiện thực ở đây, không phải thuộc về trường phái nổi loạn, nhưng vẫn làm cho tôi nhớ đến cái hiện thực mà Bernard Shaw, trong vở kịch Ngôi nhà trái tim tan vỡ mà ông rất tâm đắc, phản ảnh tâm trạng ngột ngạt của giới trí thức Anh vào những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX, gay gắt đến độ nhân vật Hecto trong vở kịch ấy đã phải gào lên: "Chính chúng ta là những kẻ gây bất hạnh cho cái nhà này. Chúng ta không có một ý thức gì cả. Chúng ta là đồ vô dụng, nguy hiểm và cần phải diệt đi!" Đó cũng là một phần cái ác của con người mà Hồ Anh Thái trút vào tác phẩm của mình, cái ác tự nhiên hình thành một cách tự nhiên, và không bao giờ mất đi, với sự tồn tại của nó có khi còn mang tính tất yếu hơn cả cái thiện vốn được an ủi là "nhân chi sơ tính bản thiện". Sự tồn tại bất kể ấy làm cho Hồ Anh Thái, và tôi cho là với tất cả những ai ít nhiều có trách nhiệm đối với bản thân và với cuộc sống xung quanh, phải trăn trở, phải thao thức và tự dằn vặt mình. Hồ Anh Thái đặt vấn đề về sự tồn tại của loài người ư, và có vẻ như sự tồn tại ấy vô nghĩa ư? Thế thì Bernard Shaw cũng đã cho nhân vật Hecto của ông tạm đưa ra một kết luận, một cách nhìn và đồng thời cũng là một cách giải thoát đối với nhân loại như thế này: "Tiếng gầm gừ của Trời kinh tởm đe dọa chúng ta, những sinh vật vô dụng, phù phiếm. Anh nói cho em biết, một trong hai điều ắt phải xảy ra. Hoặc là từ cái nơi tăm tối kia, một sinh vật mới sẽ tới thế chỗ chúng ta đã thế chỗ loài thú vật, hoặc là trời sẽ nổi cơn sấm sét và hủy diệt chúng ta!"

Có thể chia sẻ với Hồ Anh Thái về sự ám ảnh của nhà văn đối với hiện thực và tính dự cảm của nhà văn đối với một thế giới có nguy cơ bùng nổ. Cũng có thể, từ "tận thế" mà tác giả gợi ra như một tư tưởng chính của tác phẩm này là một sự thái quá, một cái gì đó hoang tưởng, thậm chí là "điên loạn", như tình trạng tâm lý đã từng xảy ra với nhiều tác giả ở châu Âu cách đây 40-50 năm. Nhưng cũng có thể, nếu xét về tư chất riêng vốn có là độ nhạy cảm và dự cảm của nhà văn đối với thời cuộc, thì những tác giả như vậy, cũng như Hồ Anh Thái, đã không hẳn là không có cơ sở, kể cả cơ sở khoa học, để thuyết phục người đọc và đối với cả thế giới hiện tồn này về một khả năng đảo lộn kinh khủng có thể xảy ra. Khả năng này, dù cho Tạo hóa không muốn, thì có khi chính con người, bằng vào sự không biết điều ngày càng quá quắt của mình với Tự nhiên và đối với nhau, đã ngày càng làm cho nó xích đến gần với một cụm từ trừu tượng mà Hồ Anh Thái đã gián tiếp nhắc đến như sách Khải huyền của kinh Tân ước. Đó cũng là những vấn đề hiện thực liên hệ mật thiết với xã hội ta hiện nay, sự phân hóa và tha hóa trong rất nhiều lĩnh vực vật chất cũng như tinh thần, và đặc biệt là trong các quy phạm đạo đức, sự phân hóa, phân cực gắn liền với tình trạng càng ngày càng kém thông hiểu giữa các thế hệ với nhau, mà Hồ Anh Thái hay nhiều tác giả có lương tâm khác đang cố gắng gióng lên tiếng chuông cảnh báo, với chức trách hạn hẹp của một nhà văn.

Sự ám ảnh triền miên đối với người đọc từ hiện thực xã hội mà cuốn sách đặt ra, tính dự cảm như một điềm báo về những gì có thể là tai họa đối với loài người sắp xảy ra… mà ngay cả tình cảm dựa dẫm hoặc tìm chỗ trú thân trong thế giới tâm linh, trong tôn giáo của một số ai đó cũng không phải là kế sách có độ an toàn cao. Hay là, sự ám ảnh ẩn dụ như thế đã từng trở thành những phản ảnh sinh học ở châu Âu vào những năm 60-70 của thế kỷ trước, khi hiện sinh chủ nghĩa của Sartre từng đã làm cho xã hội phương Tây điên đảo? Nếu từ góc độ chủ nghĩa hiện sinh, và đặc biệt là từ việc chủ nghĩa hiện sinh bị lợi dụng ở giai đoạn cuối của nó, hoặc từ quan điểm chính trị hóa mà đánh giá, thì hẳn Cõi người rung chuông tận thế không phải là một tác phẩm tích cực trong giai đoạn hiện nay. Thế nhưng, nếu so sánh Cõi người rung chuông tận thế với một số tác phẩm hiện thực - tâm linh trong những năm gần đây, chúng ta có thể khách quan nhận xét rằng dù sao thì Hồ Anh Thái vẫn còn là một tác giả có cái tâm thành thực, với lòng mong muốn tha thiết về một xã hội hướng thiện, hoặc chí ít thì cũng bớt đi được cái ác vốn đang ngự trị… chứ không thuộc típ nhà văn vô trách nhiệm khi tìm cách làm cho mình được thoát khỏi những của nợ bức xúc tự thân bằng cách trút lên đầu xã hội - bị coi như cái thùng rác không đáy - những của nợ đó. Việc cuốn tiểu thuyết này có hậu là một minh chứng cho điều đó, là một lối thoát khả dĩ nào đó cho những ai chưa biết tìm ra lối thoát ở đâu. Tuy vậy, trong cái "sắc - không, không - sắc" của nhà Phật, sự kết thúc có hậu của tác giả lại có khi hóa ra một dấu chấm lửng, một cái kết mở mà mặc dù có thể làm cho người đọc phần nào an tâm, không đến nỗi quá bi quan vào cuộc sống, nhưng cũng không vì thế mà không bàng hoàng và trăn trở trước những ẩn số mà tính dự cảm của nhà văn gợi ra.

Chỉ có điều, nếu như nhân vật trung tâm của cuốn tiểu thuyết - Mai Trừng - được khắc họa sâu sắc hơn về tính cách cũng như năng lực linh cảm tự nhiên thì hẳn là tiếng chuông được gióng lên trong "cõi người" của anh có thể sẽ đạt đến một hiệu quả văn học cao hơn.

Báo Văn Nghệ, 22-11-2003



Cõi người không bình an

Tặng Hồ Anh Thái
Gặp Hồ Anh Thái, chính mi thấy dường như không có gì đáng để lưu niệm, để tiếp nạp.

Nhưng văn chương thì kh... “ác”, đọc Thái, mi đã bị dẫn dụ, vào một thế giới hình như rất giống... ở trần gian. Chỉ riêng “hình như” thôi, đã khiến mi thắc thỏm, tham lam, rồi mong được giải thoát. Tiếng thở dài qua rừng kim tước* là một điển phạm.

Mộng mị dễ gần chục năm, giờ mi tỉnh giấc, mi bảo vừa thoát ra khỏi “nghĩa địa rừng kim tước” mà chưa hết bàng hoàng.

Đùng một cái lại vớ được bản thảo (photo) nữa của Hồ Anh Thái, muốn đọc mà mi sợ bị sẩy chân, mi liền tự giăng bẫy, mi đùn đẩy... Thế là ta bị mắc cạm - trong Cõi người rung chuông... những tưởng chỉ có mấy trang, cũng đủ tơ tưởng đến “tận thế”, đến niết bàn.

“Viết như Phạm Thị Hoài, nhưng duyên dáng hơn!” - ta buột miệng phán. Không ngờ tác giả chữa thẹn (cho ta): “Đó mới chỉ là một chương đầu”. Hóa ra là một cuốn tiểu thuyết còn tám chương nữa, mà mi đã mưu mô tống vào cơn đói khát của ta tám cái xác chết tội ác và trừng phạt!

Thế nào là thiện? Thế nào là ác? Thế nào là trừng phạt? Mi không chịu đọc gì cả, ta biết thừa mi đang nói mò: - Ác giả ác báo chứ gì? - Người gây ác sẽ bị trừng trị chứ gì? Một nhân vật giả tưởng như bà tiên ông bụt hiện lên độ thế chứ gì? Lại còn kết thúc hướng thiện có hậu nữa chứ!

Cái cậu Thái này lại liều lĩnh đến thế sao, dám thẳng tay ăn cắp bản quyền của tòa án cơ đấy? Dám trộm đạo ý tưởng của “Tấm Cám”, của “Tống Trân - Cúc Hoa”... bao nhiêu là vốn chìm vốn nổi của văn học dân gian!

Thôi mi ơi, không biết thì dựa cột mà nghe, thử xem vấn đề cái ác theo cách phát triển rất riêng của Hồ Anh Thái(1) như thế nào:

Có người phát hiện định nghĩa: cái ác chính là sự vô sỉ(2). Mi hãy nhớ cho, sau này cần hiểu chữ vô sỉ, cứ theo hướng dẫn của (2), mi chỉ cần lật từ điển, tra vần a, tìm dòng chú giải chữ ác là xong, và nếu đặt câu có từ vô sỉ thì cứ thay luôn từ ác, gọn nhẹ quá đi! Bắt chước Hán Nôm đến là rườm rà, đã chữ ác rồi còn vô sỉ mà làm gì, (2) này có lý!

Mi này, người ta còn dùng phép thuật của Tề Thiên, của Đại Thánh lật tẩy cái ác... mang bộ mặt trẻ trung của tình yêu lứa đôi (1) kia kìa. Mi phải hết sức tỉnh táo, yêu đương cho lắm vào, biết thế nào mà phân biệt lứa đôi x hay lứa đôi s, ai là tình yêu thiện chí, ai là ác ôn trẻ trung mặt nạ? Mi nhờ (1) giám định chứ gì? Ừ, cũng có lý.

Người ta bảo Thái đang diễn tả ba nhân vật thanh niên... là ba sắc diện khác nhau của một cái ác tinh vi (1). Dục vọng của những con đực... chăm chăm chiếm đoạt thể xác (1), quá ác chứ còn gì. Mi cãi à: người nào mà chả có dục vọng à, thằng đàn ông nào mà chả muốn chiếm đoạt à? Sao, mi nói mi thích loại đàn ông vậy sao, thế là giao trứng cho ác rồi mi ạ, mi ơi!

Tỉnh lại đi mi, mi có đọc đâu mà lại đắm đuối với bọn thằng Phũ, thằng Cốc, cả thằng Bóp nữa đấy, ừ thì cả ba thằng đều bị chết đột tử, thế là mi biết rõ rồi đấy, chỉ vì chúng nó đều lăm le cô Mai Trừng. Mi dám bảo Mai Trừng là con rắn độc, con ác quỷ ư? Mi không nghe thiên hạ ca tụng Mai Trừng giống như là một thiên sứ(3), như là một siêu nhân... con người ảo... để bảo vệ chân lý cuộc sống (2) cơ mà.

Ừ... nhỉ, bọn con trai đòi yêu, đòi làm tình là độc ác sao? Đứa con gái chỉ vì không thích bị đàn ông chiếm đoạt mà đang tâm giết liền mấy mạng người không ghê tay, đó là sứ mệnh cao cả bảo vệ chân lý cuộc sống của một hình tượng cứu tinh - thiên sứ sao? Một nữ sát thủ vô hồn chẳng khác nào một cỗ máy chém được điều khiển bằng những lời nguyền thù hận truyền kiếp ấy, lại được dầy công phân tích thành một nhân vật giả tưởng (2) xứng đáng để đi trừng trị độc ác ở cõi nhân gian (2) sao? Mi nói đi, ta ở trong cuộc, mi đứng ngoài, mi tỉnh hơn ta chứ? Nào...

Người ta gấp sách lại và nghĩ... Qua lửa, qua máu, qua nước... là cõi bình yên” (2). “Khi gấp cuốn sách lại, thấy lòng bằng an” (1). Ta hoàn toàn ngược lại, không giống 1, không giống 2, khi gấp cuốn sách lại, không còn lục phủ, không còn ngũ tạng...

Mi nghe này: cõi người đang rung chuông, lời nguyền mong được giải, có phải tác giả cầu kinh...

Dư Thị Hoàn



Cõi người rung chuông tận thế

Nhìn từ vài con số thống kê

Phan Văn Tú
Về tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế đã có nhiều bài phê bình tiếp cận ở những góc độ thi pháp tiểu thuyết hiện đại, bài viết này không có phát hiện gì mới ngoài một vài thống kê nhằm minh họa thêm và bày tỏ sự đồng tình hoặc không đồng tình với vài ý kiến phê bình trong phần Dư luận dưới góc độ hình thức.

Cõi người rung chuông tận thế là một tiểu thuyết hấp dẫn người đọc. Đọc liền một mạch. Sức hấp dẫn của nó không chỉ do tính chất “vụ án” của cốt truyện. Sức hấp dẫn của nó cũng không chỉ là vấn đề đặt ra trong tác phẩm: vấn đề đấu tranh với cái ác, lòng căm thù cái ác và tình yêu cuộc sống vốn là cảm hứng chủ đạo. Sức hấp dẫn của nó cũng không chỉ do tiểu thuyết được viết một cách công phu, chuyên nghiệp... thật khó có thể lý giải một cách đầy đủ điều đó, càng không thể cộng gộp các yếu tố tư tưởng chủ đề, kết cấu, ngôn ngữ, hình tượng nhân vật, điểm nhìn tiểu thuyết, giọng điệu để giải thích. Bởi nếu phân tích đầy đủ, những điều đó không mới: chủ đề tư tưởng đậm màu sắc Phật giáo và tín ngưỡng dân gian; việc sử dụng yếu tố huyền thoại trong tác phẩm như một thủ pháp phản ánh hiện thực...; kết cấu tiểu thuyết là kết cấu “có hậu”, hình tượng nhân vật mang đậm ý nghĩa biểu trưng...

Dung lượng không lớn nhưng Cõi người rung chuông tận thế dồn nén một mảng hiện thực rộng: quá khứ và hiện tại, cái thiện và cái ác, cái cao thượng và cái thấp hèn; hiện thực và huyền ảo; truyền thống và hiện đại; bảo thủ và hội nhập; thời bao cấp và thời kinh tế thị trường; sự hy sinh và sự sa đọa, thác loạn, hưởng thụ; hận thù và tình yêu... Ở đó, ta bắt gặp những chi tiết cảm động về cuộc sống của những nữ thanh niên xung phong trong chiến tranh chống Mỹ; ta bắt gặp sự sa đọa của những thanh niên thời mở cửa; quá trình “giàu ngang” của một lớp cán bộ “thức thời”, ta bắt gặp hình ảnh của những người nông dân thời đô thị hóa...

Rất chi tiết mà cũng rất biểu tượng, những nhân vật đại diện cho cái ác trong tiểu thuyết hầu hết có cái tên nghe rất “trắc”: Cốc, Phũ, Bóp, Thế... Ngay cả những nhân vật không tên cũng được gọi bằng những đại từ nhân xưng vần trắc: gã, hắn, nó, thị... Trong khi đó, những nhân vật đại diện cho cái đẹp, cái cao thượng, cái thiện được tác giả trìu mến đặt cho những cái tên vần bằng: Miên, Giềng, Hoa, Hùng, Duy, Mai Trừng, Đông. Nhân vật Đông - nhân vật xưng “tôi” (lại là một đại từ nhân xưng, từ xưng hô thanh bằng) là một người sa ngã và đồng phạm với cái ác. Nhưng phần chủ yếu của tiểu thuyết là hành trình sám hối, hành trình hướng thiện của nhân vật xưng tôi, góp phần làm nên “tiếng chuông cảnh báo” của tác giả.

Tính biểu tượng của hai mặt đối lập dường như được thể hiện trong cấu trúc ngữ pháp của tiểu thuyết. Hầu như không trang nào của tiểu thuyết mà không tìm thấy những dạng câu có sự đối xứng: “Đàn bà lúc nào cũng có thể nhưng không phải lúc nào cũng muốn. Đàn ông lúc nào cũng muốn nhưng không phải lúc nào cũng có thể” (trang 21); “Xác Bắc đưa vào Nam. Xác Nam đưa ra Bắc” (trang 100); “Mọi nỗi đau đều được thời gian xoa dịu. Mọi sai lầm đều có thể sửa chữa được” (trang 100); “Hận thù kéo theo một chuỗi hận thù. Cái chết đòi trả bằng cái chết” (trang 107); “Phũ nói khi hai chú cháu đã lướt đi trên đường phố. Khô khan và lạnh lùng. Đơn giản và dứt khoát” (trang 71). Tính đối xứng trong văn Cõi người rung chuông tận thế không chỉ ở cấp độ cấu trúc câu, mà còn thể hiện ở những điệp ngữ, điệp từ ở dạng tiểu đối: “Quán xá đáng ngờ. Khách khứa đáng ngờ. Nước nôi giải khát đáng ngờ (trang 69); Những bà cốp ông cộp còn đang thấp thỏm leo cao, những túi lớn ví lớn còn muốn căng phồng hơn nữa, những mối tình lớn tình bé còn muốn thỏa thuê hơn nữa (trang 78); Qua những đường phố tối. Qua những tiệm cà phê cố tình để tối. Qua những đám người cũng tăm tối đứng ngồi trong tiệm (trang 82); Giống như cái bánh xe thời gian. Giống như cái bánh xe luân hồi (trang 168)... Dễ thương như chàng trai Nam bộ đang cười rộ lên trước những con rối hiếu động nghịch nước. Dễ thương như lúc Duy dắt tay cô, đi vòng ra sau sân khấu... (5 câu bắt đầu bằng cụm “dễ thương” – trang 223); “Trên hòn cù lao này cô là chủ. Trên con tàu này cô là thuyền trưởng” (trang 130); “Anh Thế nghĩ vậy. Tôi nghĩ vậy. Nhiều người nghĩ vậy”. (trang 137); “Cha lập công ty của cha, mẹ lập công ty của mẹ, con lập công ty của con. Úm ba la, ba ta đều là giám đốc” (trang 147); “Không nói nhiều. Không giải thích. Bao nhiêu lần tôi đã đi như vậy. Anh Thế không hỏi gì. Nhưng tôi thấy một ánh thảng thốt trong mắt anh. Anh vốn có gương mặt chính khách. Không một chút xao động. Không một chút biểu cảm. Càng không bao giờ lộ vẻ vui mừng, giận giữ, lo âu. Thảng thốt lại càng không”. (trang 193).

Phổ biến trong hình thức điệp ngữ là các dạng câu có lặp lại chủ ngữ: “Biển xanh ngắt sự sống. Biển bao la hồn nhiên. Biển thản nhiên chứng kiến mọi giông tố, chứng kiến những con tầu xuẩn ngốc trầm mình xuống đáy nước, chứng kiến những con tàu bé nhỏ mà hiên ngang rẽ nước” (trang 43); "Có thể ngày mai tôi sẽ gặp được Mai Trừng. Có thể ngày mai tôi sẽ phải xưng tội" (trang 200); “Dường như cảm thấy nó là người quen. Dường như cảm thấy nó vô hại” (trang 2002);

Cấu trúc câu bắt đầu bằng đại từ nhân xưng “tôi” chiếm một tỷ lệ cao trong tác phẩm: trong số gần 3.800 câu của tiểu thuyết, có đến 248 câu mở đầu bằng chữ “tôi”. Phần lớn là câu đơn. 28 câu mở đầu bằng “gã”, 26 câu mở đầu bằng “Thế”, tên một nhân vật. Tần suất xuất hiện khá cao dạng câu có mô hình như thế cho thấy tác giả có ý thức “dồn nén” rất rõ trong kể chuyện: “Bác Miên lại không nhận ra điều đó. Bác tin người. Bác không nghĩ xấu về con người. Bác thậm chí đã đi thăm ông điện cấm khẩu. Bác thậm chí còn mang dầu cao và cam chuối sang cho bốn gã nhà bên” (trang 218); “Họ tin mù quáng vào lòng tốt của con người. Họ khăng khăng tin rằng nhân chi sơ tính bản thiện. Họ tin rằng người xấu hoàn toàn có thể cảm hóa được. Họ tin rằng đức hạnh có thể đạt được thông qua sự giáo dục theo kiểu bưng bít, chứ không phải là đối thoại công khai” (trang 188).

Điệp ngữ tạo ra nhạc điệu, tạo ra sự cân xứng và góp phần thể hiện những cặp biểu trưng đối xứng (thiện - ác, tình yêu - hận thù...) trong tiểu thuyết. Có thể thấy rõ điều này qua cách dùng thành ngữ, tục ngữ trong Cõi người rung chuông tận thế. Bản thân thành ngữ, tục ngữ Việt Nam vốn có sự đối xứng về vần điệu, thanh điệu, cấu trúc. Trong toàn bộ tiểu thuyết này, có thể tìm thấy tác giả sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ như thế:

Ban nhạc ế khách ở Sài Gòn thành món cũ người mới ta với công chúng phổ thông ở thủ đô” (trang 13); Phần đời thuyền trưởng viễn dương trăm bến đỗ ngàn bến tình đã qua, tôi chưa thấy một thiếu nữ nào như thế” (trang 21); Trong mọi tình huống nước sôi lửa bỏng, Thế luôn là người lạnh, bình tĩnh, sáng suốt. Đường đi nước bước sáng, cắt đặt công việc gọn. (trang 33); Chết trẻ khỏe ma, chết già ma lọm khọm. Người ta vẫn sợ những hồn ma trẻ đầy ẩn ức trở về quấy quả. (trang 40); Đám trai thanh nữ tú làm mặt nghiêm khi cùng cô lầm rầm khấn vái. (trang 63); Lo nhiều thì đâm ra mê tín, thôi thì vái cả bốn phương tám hướng, có thờ có thiêng có kiêng có lành (trang 77)...

Trong Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái đã sử dụng rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao. Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Thái đã có một nhận xét tinh tế: “Thoạt đầu, có vẻ như cuốn tiểu thuyết được viết với một tinh thần duy lý, phảng phất “dòng ý thức” của tư duy tiểu thuyết phương Tây. Càng đọc, càng thấy chất phương Tây duy lý đã nhạt phai dần, đã dịch chuyển tinh tế về phía của phương Đông đẫm đầy tình cảm”. Xét ở góc độ ngôn ngữ tiểu thuyết, mới thoạt đọc, có cảm giác đây là ngôn ngữ sự kiện, văn phong thông tấn, nhưng càng về sau, càng thấy văn chương của Hồ Anh Thái thấm đẫm chất phương Đông, hồn văn hóa dân tộc. Lời ăn tiếng nói dân gian đi vào văn chương một cách tự nhiên: “Đó là lần đầu tiên tôi mơ hồ cảm thấy cái thằng lạnh tanh máu cá ấy có một khoái cảm lạ lùng” (trang 50); “Mấy anh chàng mặt hoa da phấn đang nắn bóp chí chóe mấy cô nàng hơ hớ mời mọc” (trang 63); “Mùng năm Tết năm nay, hai chú cháu ngứa chân sục vào Hội Gò Đống Đa. Mùng năm, mười bốn, hăm ba - Đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn” (trang 72); “Dao sắc không gọt được chuôi, sau này anh chẳng định hướng được gì cho thằng Phũ” (trang 112); “Tôi dần dần yên phận với ngôi trường theo kiểu lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” (trang 120); “Học cũng bữa đực bữa cái, chữ được chữ mất, học đến năm lớp bảy thì phải nghỉ luôn vì mẹ mất” (trang 130); “Công ty trách nhiệm hữu hạn mọc lên như nấm. Giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn cũng đội đất chui lên như rươi” (trang 147); “Gậy ông lại đập lưng ông. Kẻ chơi dao sẽ chết vì dao. Với một người như Mai Trừng thì những chuyện như thế là có thật” (trang 161); “Hắn thầm tiếc rẻ. Hắn thầm tự an ủi cơm không ăn gạo còn đó” (trang 153); “Chị xin lạy sống em, chị biết tội của chị rồi, ác giả ác báo, từ nay chị không dám làm gì xấu cho em nữa, em hãy rộng lòng tha thứ” (trang159); “Nhà dột từ nóc dột xuống. Gã uất vì dòng giống mình nảy nòi ra một thứ ngợm vô luân như thế” (trang 166); “Nhân nào quả ấy, em gieo gió thì phải gặt bão. Thằng Phũ và hai đứa bạn nó cũng vậy thôi” (trang 192)...3

Có khi Hồ Anh Thái khai thác “chất liệu” dân gian để diễn đạt: “Khoảng thời gian kéo dài vờn nghịch khi con mèo đã chộp được một con chuột nhưng chưa vội hóa kiếp cho nó” (trang 149); “Hắn phải gồng mình lên, hắn phải vận hết lý trí để ghìm cái con ngựa chỉ chực tuột dây cương trong người hắn” (trang 156).

Chất dân gian trong ngôn ngữ tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế còn thể hiện ở những trang miêu tả về lễ xá tội vong nhân tuyệt hay, ở những chuyện tiếu lâm, những khẩu hiệu thời chiến tranh: “tay gậy tay bị khắp nơi tung hoành”, “có nhà máy cháo, có lò đúc muôi” (trang 178); “đi không dấu, nấu không khói, nói không gây ồn” (trang 176); “cầu tõm”; “Nó là sản phẩm tiếu lâm đầy mầu sắc lính tráng, một món ăn tinh thần phù hợp với lính tráng, là thứ chuyện từ lính, do lính và vì lính (trang 177).

Có bài phê bình cho rằng: “Văn của Thái không có độ du dương của tiếng Việt. Tác giả không thích không chú trọng điều này”. Chúng tôi không đồng tình như thế. Có lẽ cái tiết tấu nhanh của mạch sự kiện và các dạng câu đơn, chặt nhát đã làm cho người đọc cảm giác tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế mang hơi hướng phóng sự. Song ngay cả khi miêu tả với tiết tấu nhanh, Hồ Anh Thái cũng tỏ ra rất ý thức về nhạc điệu: “Anh Thế ở đầu dây bên kia. Chú Đông đấy à, chuyện xong rồi, có gì đâu. Con bé kia ấy à, chân phải được bó bột rồi, nằm vài ba tháng, có gì đâu. Thằng Phũ nhà mình ấy à, xe về rồi người về rồi, có gì đâu. Có gì đâu, có gì đâu, mọi chuyện đối với anh Thế đều chỉ là có gì đâu” (trang 87).

Lý thuyết thi pháp chỉ ra rằng ngôn từ nghệ thuật dựa vào nguyên tắc thủ tiêu đặc trưng trực tiếp của ngữ cảnh. Nó chỉ có ngữ cảnh nội tại của chính nó. Ở Cõi người rung chuông tận thế, khó phân biệt lời gián tiếp và lời trực tiếp. Theo thói thông thường, lời trực tiếp được đặt trong ngoặc kép hoặc sau dấu gạch đầu dòng còn lời gián tiếp là lời của người trần thuật, người kể chuyện nhằm giới thiệu, miêu tả, bình luận. Nhưng toàn bộ tiểu thuyết này chỉ có 7 cặp dấu ngoặc kép nhưng nó không phục vụ cho việc trích dẫn lời nhân vật. Giọng kể của nhân vật tôi vừa đảm nhiệm chức năng trần thuật vừa miêu tả tâm lý và tư tưởng của nhân vật. Thủ pháp này được sử dụng triệt để trong tiểu thuyết: “Sau bữa tiệc, thằng Bóp nháy tôi. Yến rởm đấy mà. Anh Thế giật thót. Có ngày mày giết tao. Bóp vẫn thản nhiên. Kìa chú, người nấu không biết, người ăn không biết, thế thì nó là yến chính hiệu” (trang 48); “Tay nó cầm một chai cônhắc. Tay kia một gói giấy. Định lên phòng chú đây. Phòng cho thuê mất rồi. Thế thì xuống phòng thằng Phũ vậy. Chúng tôi đi vào văn phòng quản trị” (trang 45). Với bản lĩnh và khả năng làm chủ kỹ thuật của mình, Hồ Anh Thái đã khai thác khá thành công thủ pháp này, để xây dựng được hình tượng nghệ thuật ngôn từ: “Giữa những đợt ho không sao dứt được là những tiếng “không” như nấc lên. Cô ký đi. Không. Ký vào. Không. Ký. Không. Có ký không thì bảo. Không" (trang 135).

Cõi người rung chuông tận thế là một tiểu thuyết minh chứng hùng hồn cho luận điểm của nhà văn Nga Lêônid Lêônôv: Tác phẩm nghệ thuật đích thực, nhất là tác phẩm ngôn từ, bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung.

Là một nhà ngoại giao, Hồ Anh Thái vốn giỏi ngoại ngữ, thế nhưng so với nhiều tiểu thuyết viết về đề tài hiện đại của nhiều nhà văn trẻ hiện nay, Cõi người rung chuông tận thế là tiểu thuyết không bị nhà văn “khoe” vốn tiếng Anh (cả cuốn tiểu thuyết chỉ 9 lần sử dụng những từ và cụm từ nguyên văn tiếng Anh, nhưng trong đó đã có 4 từ và cụm từ là tên riêng). Trái lại, nhà văn hết sức ý thức khi dùng những từ tiếng Anh nhằm xây dựng hình tượng nghệ thuật: “Ông khai xong rồi mới có người bạn giải thích cho cái tiếng Anh tại chức của ông: Sex ở đây không có nghĩa là tình dục, ông đã quá hoảng hốt mà vội “không” vào mục giới tính (trang 10). Tác giả không bao giờ đánh đố người đọc không biết ngoại ngữ: “Ngay từ đầu, anh đã cân nhắc và đặt tên khách sạn là The Apocalypse, chứ không phải là Apocalypse Now. – Chiết tự thì The Apocalypse có nghĩa là Khải Huyền, khúc cuối cùng trong Kinh Thánh Tân ước, kể về việc Thánh John báo trước cho đồ đệ về ngày tận thế...” hoặc: “Nhanh chóng thích nghi và xu thời là đặc điểm của homo sapiens, của giống người hiện đại”. Ngay cả khi nhà văn phiên âm một từ mà anh hoàn toàn có thể viết bằng nguyên văn tiếng Anh, Hồ Anh Thái cũng thể hiện ý đồ xây dựng tính cách nhân vật thông qua cách nhại giọng: “Hễ có tước hiệu ấy là có quyền buông chữ ký giun dế, đóng dấu để xin kâu ta5 nhập xe, nhập thiết bị văn phòng, nhập hàng (trang 147). “Lần khác thị xin được từ phòng thí nghiệm một lọ nhỏ axít sunphuric nồng độ cao” (trang 154).

Không lạm dụng tiếng nước ngoài cũng là một thái độ bảo vệ cái hồn Việt Nam trong tiểu thuyết. “Dù anh có đổi giọng đến thế nào thì vẫn là trên cái nền tảng văn hóa của anh, trên tầm nhìn của anh vào thế giới và nhân sinh mà thôi”, Hồ Anh Thái đã từng tâm sự như thế. Và với Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái đã thể hiện được rõ nét cái giọng điệu riêng. Giọng điệu ấy được tổ chức rất chuyên nghiệp trong một hệ thống hoàn chỉnh của tác phẩm, từ kết cấu đến các hình tượng nghệ thuật...

Dù cố gắng lượng hóa những yếu tố vật chất của tác phẩm theo hướng nào, chúng ta đành bất lực khi giải mã những thông điệp nghệ thuật từ tác phẩm, bởi cuộc đời đâu phải lúc nào cũng đối xứng, cũng chỉ là những biểu trương, hoặc trắng đen rạch ròi cho ta chọn lựa...

Xin mượn lời của nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái để kết thúc bài viết này: “Nhà văn Hồ Anh Thái đã rung được một hồi chuông cảnh báo, để con người hãy tránh xa cái Ác như như tránh xa ngày tận thế. Tránh xa cái Ác, có thể chỉ bằng cách đến với cái Đẹp, như ai đó đã nói: Cái Đẹp sẽ cứu chuộc thế giới. Vì vậy, mặc dù viết về cái Ác, thanh điệu chủ đạo nhất trong tiểu thuyết vẫn là thanh điệu tình cảm, hay gọi là giọng điệu tình cảm. Cho nên, gấp cuốn sách lại ta thấy lòng bằng an”.



1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương