Cõi người cũng bao dung lắm



tải về 1.71 Mb.
trang1/5
Chuyển đổi dữ liệu30.10.2017
Kích1.71 Mb.
  1   2   3   4   5

Hồ Anh Thái


Cõi người


rung chuông

tận thế

Tiểu thuyết



Dư luận

"Cõi người cũng

bao dung lắm..."


Nhiều hơn bốn mươi một chút, Hồ Anh Thái ở cái tuổi còn khá trẻ để trở thành một tổng thư ký hội nhà văn rất có uy tín - Hội Nhà văn Hà Nội. Thường xuyên có năm bảy cuốn tái bản bày ở các hiệu sách, gần đây năm nào nhà văn Hồ Anh Thái cũng cho ra mắt một cuốn sách mới. Cõi người rung chuông tận thế là tiểu thuyết mới nhất của anh (2002) đang được độc giả tìm đọc và bàn luận.
- Không thiếu gì nhà xuất bản có uy tín ở Hà Nội sẵn sàng in tác phẩm của anh, tại sao tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế lại được cấp giấy phép từ NXB Đà Nẵng?

- Cuộc gặp gỡ giữa nhà xuất bản Đà Nẵng với tiểu thuyết của tôi có thể coi như cơ duyên. Tôi vẫn thích những nhà xuất bản có uy tín nhưng khiêm nhường đứng khuất. Từ cơ duyên này, từ nay tôi sẽ đặc biệt trân trọng gửi in ở những nhà xuất bản như vậy.

Thực ra người ta "sẵn sàng in" chỉ là sẵn sàng với những gì ngòn ngọt xi rô. Còn sách của tôi đã có hơn mười nhà xuất bản ở Hà Nội lẫn thành phố Hồ Chí Minh treo biển "xin miễn vào" suốt sáu năm qua.

- Một thời gian thấy Hồ Anh Thái chỉ viết về thanh niên sinh viên, một thời gian viết về Ấn Độ, rồi lại thấy xoay sang viết về trí thức công chức, dí dỏm hài hước, chua cay đau xót... Bây giờ với Cõi người rung chuông tận thế, anh lại đổi giọng, vừa chua xót vừa hư ảo, yêu thương căm hận bày tỏ tận cùng. Anh thích làm mới mình bằng cách đổi giọng vậy sao?

- Hiện thực và không gian nghệ thuật của mỗi cuốn sách đòi hỏi một cách xử lý riêng, một giọng điệu riêng, văn phong riêng. Tôi tránh lặp lại người khác và lặp lại chính mình. Tôi cho rằng người có phong cách chính là không khư khư bám lấy một phong cách cố định, bất biến. Có phong cách tức là phải đa giọng điệu, dù anh có đổi giọng đến thế nào thì vẫn là trên cái nền tảng văn hóa của anh, trên tầm nhìn của anh vào thế giới và nhân sinh mà thôi. Cho rằng thay đổi giọng điệu sẽ làm loãng phong cách của chính mình là một cách hiểu đơn giản và làm cho người sáng tạo lười biếng, ngại làm mới mình.



- Không dày lắm, khoảng 250 trang nhưng đủ cả xấu tốt, mánh lới, hận thù, những cuộc đấu tranh sinh tử giữa Thiện và Ác, cảm động mà cũng rất hãi hùng. Anh đã bắt đầu Cõi người rung chuông tận thế bằng những ý tưởng như thế nào và kết thúc công việc trong bao lâu?

- Khúc cuối cùng trong Kinh Thánh Tân ước, Thánh John báo trước cho đồ đệ về ngày phán xử cuối cùng, ngày cái ác tràn lan sẽ bị trừng phạt, ngày tận thế của cái ác. Nhiều năm gần đây, hình như không chỉ cõi người phẫn nộ với cái ác mà cả trời đất cũng nổi giận, thiên tai khắp nơi như lời cảnh báo với con người đang hủy diệt môi trường, hủy hoại cuộc sống và tâm hồn nhau. Cũng nhiều năm rồi, tôi muốn viết một cuốn sách về ngày phán xử cái ác. Hận thù sinh ra hận thù trong một cái vòng luẩn quẩn, hận thù trong chiến tranh, trong thời bình, sang thời làm ăn kinh tế, hận thù ấy phải được hóa giải trong một nhãn quan yêu thương và bao dung. Đã đến lúc cõi người phải thanh lọc cho hết hận thù. Vẫn biết điều đó là không tưởng, nhưng là nhà văn, tôi phải mơ ước. Kẻo không, tiếng chuông cảnh báo đang điểm...

Điều này day trở trong tôi nhiều năm, cho đến mùa hè năm 1996, khi đã chín, tôi ngồi vào bàn viết liền mạch hơn một tháng trời, viết sau thời gian làm việc hàng ngày ở công sở.

- Ba chương đầu cuốn tiểu thuyết là ba cái chết nối tiếp nhau, mỗi kẻ một kiểu chết thảm khốc. Rải rác trong tiểu thuyết là dăm bảy mạng người. Cái ác phải bị truy kích quyết liệt như vậy sao? Còn có cách nào khác hay không?

- Kẻ làm ác ở đây bị tiêu diệt bằng chính điều ác mà chúng định gây ra cho người lương thiện, một thứ hình phạt tự thân. Nhưng cõi người cũng bao dung lắm. Bạn hãy để ý nhân vật chính, dọc theo cuốn sách là hành trình hướng thiện của anh ta cho đến khi trút bỏ được cái ác. Triết học Phật giáo không tin vào định mệnh: kẻ làm ác vẫn còn cơ hội được giác ngộ, được đón nhận trở lại cõi người, chứ không phải bao giờ cũng bị trừng phạt.



- Có một điều độc giả yêu văn anh dễ nhận thấy: đó là anh ít khi sử dụng phương pháp hiện thực thuần túy. Anh muốn lảng tránh, anh cảm thấy thoải mái khi được bay bổng trong bút pháp ấy, hay còn lý do gì khác?

- Tôi quan niệm tiểu thuyết như một giấc mơ dài, gấp sách lại người ta vừa mừng rơn như vừa thoát khỏi một cơn ác mộng, lại vừa tiếc nuối vì phải chia tay với những điều mà đời thực không có. Nếu tôi chỉ dùng phương pháp hiện thực thuần túy thì sẽ không có được giấc mơ ấy đâu.



- Trong văn của anh, lại là trong văn, tốt-xấu, giả dối-chân thật, yêu-ghét... đều rõ ràng. Vậy văn có phải là người không, trong trường hợp của anh?

- Tôi ghét nhất thói đạo đức giả. Với người không thân, tôi đều thành thực và thiện chí, dù luôn giữ khoảng cách để không quá gần gũi và suồng sã. Với người thực thân thì khác, bạn thân thì hiếm hoi lắm...



- Có một thực tế là văn nghệ sĩ ít phục tài nhau. Một mặt năm nào cũng có vài cuốn sách đọc được, mặt khác chính giới chuyên môn các anh lại hô lên là chưa có tác phẩm "xứng tầm"?

- Không phải chỉ có giới văn nghệ sĩ đâu. Tôi biết tình trạng ấy còn nặng trong cả giới khoa học, giới kinh doanh nữa. Hình như kiếp người ở đâu cũng thế. Nhưng hình như một môi trường khó khăn trì trệ là mảnh đất tốt cho loại cỏ dại ghen ghét đố kỵ. Bảy chú lùn chắc chắn không thích chú lùn bên cạnh cao hơn mình, dù chỉ một phân. Trong 100 cuốn sách có vài ba cuốn hay, đó là một tỉ lệ hợp lý và lành mạnh. Và tôi thấy đó là những cuốn "xứng tầm". Đừng có lây nhau cái luận điệu đố kỵ, lây cả từ những giới không chuyên môn, mà nhai đi nhai lại rằng chưa có tác phẩm xứng tầm. Nói như thế thì thử nhìn sang các lĩnh vực khoa học, văn hóa, xã hội... cũng chưa có công trình xứng tầm hay sao?



- Xưa nay giới viết văn hiếm khi chọn một người tuổi bốn mươi ngồi vào ghế tổng thư ký hội. Bạn bè và đồng nghiệp nhìn anh ngồi trên chiếc ghế ấy ở Hội Nhà văn Hà Nội mà vẫn làm nghề ngoại giao, lại nghiên cứu văn hóa phương Đông nữa... có điểm gì khác khi họ nhìn một nhà văn thuần túy?

- Hiếm có nhà văn thuần túy lắm, kể cả ở những nước có mức sống cao. Tôi đã học được cách sống bình thản trước mọi sự ở đời. Cách sống ấy quan tâm đến cách nhìn của mình với thế giới bên ngoài, chứ không bận tâm lắm xem bên ngoài nhìn mình ra sao.



- Có người coi văn chương chỉ là một cuộc chơi, lúc nào hứng thì viết. Có nhà văn lại bảo viết là công việc, tự buộc mình phải ngồi vào bàn. Còn anh thì sao?

- Việc công sở bận rộn, nhưng mỗi ngày tôi phải đều đặn viết ít nhất hai tiếng. Người viết chuyên nghiệp phải thế, ngồi vào bàn và anh phải có đủ kỹ năng để huy động cảm hứng. Chờ cảm hứng tự dẫn thân đến là một thái độ lao động nghiệp dư và có chút thần bí hóa nghề văn.



- Số cây bút trẻ đến với văn chương không ít, nhưng chỉ vài ba năm là ai nấy đều có một nghề, không dính dáng mấy đến nghề văn nữa. Anh hãy cho những người viết trẻ một lời khuyên, thậm chí là một kinh nghiệm sống và viết?...

- Kinh nghiệm của một người thường không mấy có ích với người khác. Hình như ở đây có chút gì đó giống như tình yêu. Cần một chút mê đắm, một chút thành thực là có tình yêu. Nhưng để nuôi dưỡng tình yêu ấy lâu bền thì cần có hiểu biết, cần sự từng trải nữa. Hiểu biết không nhất thiết chỉ từ sách vở, sự từng trải không nhất thiết là chỉ đắm chìm trong cái đời thường. Người viết văn có muôn vàn cách khác nhau để tự trang bị hành trang cho mình, có phải không nhỉ?

Hoàng Lan Anh thực hiện

Người Lao Động cuối tuần, 12-10-2002

Người đi qua

bóng mình

Hồ Anh Thái viết văn từ rất sớm và thành danh cũng rất sớm. Ngay từ khi mới xuất hiện, anh đã "phả" vào văn học một giọng điệu tươi mới, trẻ trung, hiện đại khi văn chương Việt Nam vẫn chưa đi qua khỏi sự ám ảnh và nỗi buồn của chiến tranh. Trong hơn hai mươi năm cầm bút, anh đã cho ra đời gần hai mươi tập truyện ngắn và tiểu thuyết. Và không chỉ chứng minh sự bền bỉ và sáng tạo bằng số lượng kể trên, qua mỗi tập sách, bạn đọc lại bắt gặp một Hồ Anh Thái khác, như một diễn viên sắm vai mỗi lần mỗi khác. Tôi gọi đùa anh là "Người đi qua bóng mình"...
- Nhiều cuốn sách của anh, Chàng trai ở bến đợi xe, Trong sương hồng hiện ra, Người và xe chạy dưới ánh trăng, Mảnh vỡ của đàn ông, Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Tự sự 265 ngày… và mới đây nhất là tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế (2002) được bạn đọc trẻ yêu thích. Nhiều cuốn đã được chọn dịch, giới thiệu ở nước ngoài và tạo được dư luận tốt. Một bí quyết gì chăng giúp anh giữ được sức sáng tạo và lao động bền bỉ như vậy, trong khi nhiều cây bút trẻ bây giờ “hạ cánh” ngay sau một vài tác phẩm đầu tay hay giải thưởng gì đó?

- Nếu như coi đọc và nỗ lực nghiên cứu là một cách học thì tôi là người học tập không ngừng. Nhưng việc học hành sẽ chỉ mang lại một hiệu quả vừa phải nếu như không có phương pháp. Tôi cũng may mắn tiếp nhận được phương pháp tốt từ những trường đại học có uy tín. Phương pháp đúng sẽ cho người ta hiểu được quy luật cuộc sống, mở ăngten ra trên một diện rộng và đúng hướng, sàng lọc và nhận vào đúng những gì thực sự cần thiết. Sinh thời một triết gia vĩ đại như Đức Phật đã nắm gọn một nắm lá trong lòng bàn tay và chỉ vào cả khu rừng mà rằng: cuộc sống như lá rừng, mà những gì ta cần biết chỉ như chỗ lá ta nắm gọn trong tay này. Tôi cho rằng sẽ là sai phương pháp nếu như ta mê mải nhìn ngắm bạt ngàn lá rừng mà không biết chỉ cần nắm được chính xác một nắm lá cho riêng mình.



- Không ngừng thay đổi phong cách và giọng điệu, qua mỗi tác phẩm, bạn đọc lại bắt gặp một Hồ Anh Thái khác. Từ hóm hỉnh, tươi tắn và trẻ trung trong Chàng trai ở bến đợi xe đến sâu lắng, trữ tình trong Người và xe chạy dưới ánh trăng. Từ suy ngẫm và đậm chất triết luận trong Tiếng thở dài qua rừng kim tước đến hài hước, châm biếm một cách sâu cay trong Tự sự 265 ngày, Cõi người rung chuông tận thế… Anh tìm thấy gì qua mỗi lần “lột xác” đó và thực sự thấy mình hợp ở cách viết nào nhất?

- Những gì tôi đã viết đều nằm trong "nắm lá" mà tôi đã chọn. Tôi chỉ viết những gì tôi thích và hợp với mình, như vậy thì không phải tự ép mình, không gò gẫm như đánh vật. Với mỗi nhân vật là thêm một lần được sắm vai mới, mỗi hoàn cảnh tạo dựng ra cho nhân vật là thêm một lần người viết được trải nghiệm, được phiêu lưu.



- Trong hai tác phẩm mới đây nhất của anh. Tự sự 265 ngàyCõi người rung chuông tận thế, cái tôi của nhà văn không còn ở vị trí của người kể chuyện nữa (điều thường thấy trong các tác phẩm văn học Việt Nam) mà là ở vai trò của người tạo ra chuyện, dẫn dắt câu chuyện. Sự thay đổi vị trí đó có giúp anh khám phá ra điều gì mới mẻ và lý thú?

- Khi nhân vật xưng tôi, đứng ở ngôi thứ nhất mà đối thoại với người đọc, nhân vật thường na ná như tính cách và hoàn cảnh của chính tác giả, thường dễ được đồng nhất cái tôi ấy với cái tôi của tác giả. Tôi làm khác đi, cái tôi ấy vừa do tôi sinh ra, lại vừa khác xa tôi. Tôi đẩy trí tưởng tượng của mình lên một bước nữa và thử hình dung, nếu mình là cái tôi ấy, mình sẽ nghĩ ngợi ra sao, xử sự ra sao, hành động ra sao. Thế là thêm một lần tôi được sắm những vai khác hẳn mình, thêm một lần trải nghiệm. Và đôi khi làm cho người đọc phải lần tìm và tách bạch những cái tôi ấy cũng là điều thú vị chứ nhỉ?



- Và nữa, xuyên suốt trong các tập sách của anh, người ta thấy thấp thoáng bóng dáng của cái ảo trong cái thực, điều thường thấy trong chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh...

- Quan niệm hiện thực là những gì ta thấy, ta nghe, ta trải nghiệm là chưa đủ. Hiện thực còn là cái ta cảm nữa. Những gì tồn tại ở thế giới bên ngoài đều có thể tìm thấy ở thế giới bên trong mỗi người, ở trong tâm và trí của họ. Cả một đời sống tâm linh cũng là hiện thực, không ai dám nói là đã đào sâu hiểu thấu cái thế giới tâm linh ấy. Tôi cho rằng tái hiện đời sống con người mà chỉ dùng mỗi một công cụ hiện thực là không đủ, như thế là tự làm nghèo trang viết của mình. Trong cổ tích Việt Nam có cô Tấm bốn lần chết đi sống lại, hóa thân làm chim vàng anh, làm cây xoan đào, làm khung cửi, làm quả thị. Có linh hồn ông Trương Ba phải sống nhờ trong thân xác một anh hàng thịt. Hiện thực huyền ảo đấy chứ phải tìm đâu xa, tận bên châu Mỹ Latinh?



- Trong lời giới thiệu của nhà xuất bản ở đầu cuốn tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, tôi rất tâm đắc với ý kiến cho rằng trong tác phẩm nói về cái thiện và cái ác này, nhà văn đứng trên cỗ xe của cái ác, trong vai của kẻ đồng lõa, đội lốt cái ác để tìm ra nguyên nhân và nguồn gốc của cái ác... Nhưng anh có bao giờ sợ, đến một lúc nào đó không còn làm chủ được ngòi bút và trở nên bị động trước cái ác đó?

- Khi nhà văn sửa soạn sắm một vai khác biệt với mình, anh ta đã phải "vũ trang đến tận răng" và phải đủ lực để "cao tay bắt ấn". Chỉ một chút sơ suất và non tay, âm binh sẽ nổi loạn chống lại người đang điều khiển nó. Nhưng nếu vừa làm vừa run tay, âm binh sẽ dậy non và những hình nhân trong tác phẩm của anh chỉ còn là những hình bóng mô phỏng ngô nghê, làm trò cười cho thiên hạ.



- Bạn đọc biết anh ở khá nhiều chức danh khác nhau: nhà văn, tổng thư ký Hội Nhà văn Hà Nội, và tiến sĩ văn hóa phương Đông. Theo ngôn ngữ quảng cáo thì người ta gọi đó là 3 trong 1. Anh làm sao để dàn xếp được công việc ở cả ba vị trí vốn rất khác nhau đó? Và nếu chỉ chọn một, thì anh thích người ta gọi anh ở chức danh nào hơn?

- Nghề nghiệp ăn lương của tôi là ngoại giao. Tôi học ngoại giao, nghiên cứu văn hóa phương Đông và được làm đúng nghề. Ngoại giao và viết văn có một nét giống nhau: đấy là người ta đều phải sắm vai một cách thành thực. Ngoại giao mà chỉ xảo cũng như viết văn mà chỉ có xảo, khó mà thuyết phục được người khác. 3 trong 1 thì tôi vẫn muốn được sắm nhiều vai, nhiều thách thức nhưng cũng thú vị lắm.



- Xin rẽ ngang một chút, tôi thấy nhiều tác phẩm của anh có thể chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh hoặc phim truyền hình dài tập nhờ những cốt truyện giàu kịch tính, giàu hình ảnh và nhiều tình tiết ấn tượng. Bản thân anh cũng là một người tâm huyết với điện ảnh. Anh có bao giờ nghĩ đến cuộc "hôn phối" giữa những tác phẩm văn học của mình với điện ảnh không?

- Hiếm có người viết văn nào mà không thấy điện ảnh như một giấc mơ lộng lẫy của chính mình. Trước khi in truyện ngắn đầu tiên năm 18 tuổi, tôi được một đạo diễn điện ảnh kỳ cựu động viên viết kịch bản phim và làm diễn viên, tôi mê mải theo một số đoàn làm phim và ngốn ngấu tất cả những cuốn lý luận điện ảnh có thể tìm được. Tôi yêu phim của các cường quốc điện ảnh như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, đặc biệt là Iran. Xem những phim Iran như Hương vị anh đào, Ngày tôi trở thành thiếu nữ, nhất là phim Bảng đen của nữ đạo diễn Samira Makhmalbaf, mới hai mươi tuổi mà đoạt ngay giải nhì của liên hoan uy tín nhất thế giới ở Cannes, quay lại nhìn vào cách làm phim ở ta, tôi từ bỏ ý định viết kịch bản phim. Thôi, xin hãy cho tôi làm người đam mê điện ảnh, tôi chỉ việc hàng tuần đi săn lùng những đĩa DVD mới, ngồi một chỗ mà thưởng thức tinh hoa của điện ảnh của cả thế giới.



- Xin chúc anh có những thành công mới.

Lê Hồng Lâm thực hiện



Sài Gòn giải phóng, 19-10-2002

Người còn đi dài

với văn chương

Lê Minh Khuê


Trong những câu chuyện hàng ngày tôi thường nghe thấy tiếng thở hắt ra rồi tiếng ta thán: Chán quá. Thì thực ra là chán. Nhưng khi nghe cậu nói với cái giọng rất thật ấy, khi chỉ có hai chị em hoặc là có vài người bạn thân, tôi lại át đi: Xem nào! Trời cho được một tí ti thời gian, đâu có nhiều nhặn. Chán cái gì!

Hồ Anh Thái cười xòa. Rồi bận rộn lôi trong cái cặp to đùng ra những bài báo của ai đó, theo Thái là rất hay. Đọc, phô tô, thấy hay là đi phân phát cho tất cả ai mà cậu yêu quý. Trong túi còn đĩa phim VCD, đĩa DVD, toàn phim hay lại bỏ tiền mua có khi cả chục bản để phát không cho bạn bè vì: Thấy nó hay quá, mọi người không xem thì uổng! Sách cũng vậy. Nếu là hay thì chết tiền. Mua có lúc hàng chục cuốn mà cho. May có nghề làm báo để có tiền mà xa xỉ đến thế! Nhưng nếu nghĩ sâu xa thì đấy là con người quyết theo đuổi đến cùng những say mê mà vì nó có thể bỏ tất cả những cám dỗ lợi lộc. Say mê và truyền nó cho những ai hiểu mình. Trong cái nhóm bạn bè chọn lọc có thể bỏ qua cho nhau nhiều khiếm khuyết để chỉ nhìn thấy cái tốt đẹp của nhau, chừng như ai cũng vừa quý Thái vừa buồn cười trước cái lòng tốt đôi khi như ngây thơ. Không phải ai cũng hiểu được lòng tốt ấy trừ những người thân. Nhưng đời sống mà. Ta hãy sống cái phần hay ho của nó, thời gian đâu bận lòng vì những thứ không đem lại niềm vui.

Trở lại cái câu chán quá... Có lẽ nó là sự tức tối, là nỗi tuyệt vọng trước những điều mình muốn tốt đẹp mà không thể được. Thực ra đã nhiều lần và trong nhiều tác phẩm người ta đọc được sự ấm áp của con người tha thiết sống. Cõi người rung chuông tận thế có đoạn: "Nhưng đau khổ nhiều, chứng kiến chết chóc nhiều để rồi được sống mà quan sát mà nhìn thấy tất cả những điều đang diễn ra dưới những mái nhà kia, những đường phố kia thì không vui nhưng cũng có ích...

... Phải chứng kiến tận mắt, phải ôm người chết trong tay, phải khâm liệm cho một tử thi... người ấy mới xem như thực hiểu đời, hiểu người, hiểu sự sống.

Khi đã hiểu cái chết. Khi ấy anh thấy mình cần phải sống.

Tôi cần phải sống".

Lời của một nhân vật. Lời của tác giả sau bao nhiêu thăng trầm. Tình yêu cuộc sống, bực bội vì cái xấu xí độc ác có lẽ là cảm hứng chính cho cuốn sách nhiều lận đận Cõi người rung chuông tận thế. Tác giả nói rất nhiều về cái ác bản năng như loài thú, sự mưu mô xảo quyệt của con người như loài thú. Rồi xuyên qua cái đám bùng nhùng hỗn độn ấy là một nhân vật giả tưởng chuyên đi trừng trị sự độc ác ở cõi nhân gian chung quanh nhân vật chính. Đó là ý tưởng, là sợi chỉ xuyên suốt gây ấn tượng đặc biệt.

Yêu cuộc sống mà như không chịu thừa nhận tình yêu ấy vì nó không được như mình muốn. Nhưng yêu và muốn bảo vệ nó nên tìm ra được cái ý như là có siêu nhân, có con người ảo đi cùng tác giả để bảo vệ chân lý cuộc sống. Người ta gấp sách lại và nghĩ như vậy về Cõi người rung chuông tận thế.
*

* *


Hồ Anh Thái viết khi còn là sinh viên. Ngày ấy thấy một cậu trắng trẻo rụt rè đưa đến tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng, ý thức của người ta lúc ấy còn ngập ngừng giữa những ngây ngô của thời cũ và sự tò mò với thời mới, giữa mất tự do mà không có ý thức và sự vươn xa làm chủ bản thân. Văn chương khi ấy còn đầy những sáo mòn, đầy khuôn phép. Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái làm tôi ngạc nhiên. Tác giả đã tìm ra trong đời sống có những bóng ma, có quỷ dữ. Và những nhân vật ma quỷ khống chế đời sống theo quan niệm cũ, trở thành những nhân vật của tương lai. Quả nhiên chỉ vài năm sau đời sống mất dần sự bình yên. Tâm hồn con người bị nhiễm độc. Đọc xong tiểu thuyết ấy tôi nghĩ tác giả sẽ là người tỉnh táo để có thể sáng tạo những cuốn sách mang vác các vấn đề quan trọng của văn học. Trước đó Thái đã có nhiều truyện ngắn. Có cái hay, cái trung bình, nhưng vì còn quá ít tuổi, ai có thể dửng dưng lạnh lùng và thờ ơ để làm chủ ngòi bút như người lành nghề bây giờ. Phong cách tiểu thuyết của Thái hầu như mở đầu và chững chạc trong Người và xe chạy dưới ánh trăng từ những năm đầu thập kỷ 1980.

Thái học đại học. Đi làm cán bộ ngoại giao. Rồi làm lính binh nhì thời "giấc mơ chiến sĩ" đã tan trong tâm trí nhiều người vì sau chiến tranh chống Mỹ đến các thứ chiến tranh biên giới tâm trạng người ta xáo trộn bất ổn nên cả trong cả ngoài quân đội đang xao xác. Luyện tập. Quan đánh lính. Lính đánh quan. Đốn nứa làm doanh trại đến nỗi bị thương thành sẹo. Kể chuyện đơn vị. Lính muốn ăn thịt lợn, mà lợn trong chuồng chưa lớn lắm. Lính nghĩ ra mẹo cho đỗ xanh khô vào tai lợn. Đỗ xanh ngấm nước nở ra trong tai làm lợn phát điên. Quan cho làm thịt lợn. Mỗi thằng vài miếng mà sung sướng. Thái đã sống những ngày như vậy nên mỗi khi nhìn thấy một người nghiêm chỉnh kiểu quan chức ngoại giao, bạn bè không khỏi ngạc nhiên. Cũng như mọi người, Thái đã trải qua tất cả những tối tăm bức bối của xứ sở, có cả hạnh phúc cả đắng cay nhưng là người kín đáo, ít bộc lộ, mọi người cứ nhầm tưởng ra đời là gặp may.

Trong Cõi người rung chuông tận thế viết xong từ năm 1996, tác giả đã vững tay tạo nên một cốt truyện hấp dẫn ngay từ dòng đầu... Lại là người từng trải nên chi tiết đắt. Cái khung cảnh để nhân vật sống trong tác phẩm là khung cảnh sang trọng, con cái của những nhà nhiều tiền lắm của sống nhơn nhơn trên đống tiền và chả nghĩ đến ai. Những cái tên như Bóp - Phũ - Cốc... là tên của những đứa trẻ dư thừa tiền bạc nhưng không có gốc rễ của đời sống chữ nghĩa. Tác giả miêu tả họ thông thạo như là người từng sống ở đó để thấy hết sự độc ác của một lớp người mà cái ác chính là sự vô sỉ.

Hồ Anh Thái không thích lối quay phim chụp ảnh trong tác phẩm văn học. Ghét vì sống đã như thế rồi ngày ngày chen chúc ngột ngạt đến khi đọc lại thấy nó lù lù trên trang giấy, xem lại thấy bê nguyên cả quán ăn cả vỉa hè đường phố ngã năm ngã tư lên màn ảnh. Vậy nên đời sống trong tiểu thuyết thực đấy mà không phải là thực. Cõi người rung chuông tận thế có những trang miêu tả nhưng lại là của trí tưởng tượng không phải sự bê nguyên xi ở đâu. Với khách sạn, nhà hàng, phòng ngủ, biển, đường... như trong một xứ sở thực đấy mà khó thấy. Đó cũng là một thành công của Cõi người rung chuông tận thế. Thoạt đọc người ta e ngại. Đằng sau chữ nghĩa như lạnh lùng như chính xác người ta vẫn sợ có một cái gì. Vì thế tác phẩm làm cuộc hành trình qua các nhà xuất bản suốt sáu năm trời. Khi đọc một cách thấu đáo mới nhận biết ý tưởng sâu sắc của tác phẩm là có thực, sự đa nghĩa là có thực, tri thức của tác giả phong phú nhưng viết kiệm lời là đúng, nhưng vượt lên trên hết vẫn là một tâm hồn trong sáng hướng thiện mong muốn cho cái đẹp chiến thắng. Hầu như ít nhà văn nào thành công nếu mổ xẻ cuộc sống tanh bành ra đấy mà không xót thương và không tìm được cách thu dọn sự bừa bộn.

Sau khi cho một loạt nhân vật chết một cách thê thảm, tác giả đã hướng người đọc tới lòng tin: không bao giờ sự độc ác có thể tự do tung hoành trong cõi nhân gian...
*

* *


Hồ Anh Thái đi bộ đội, làm ngoại giao rồi sang Ấn Độ vừa đi học vừa làm ở sứ quán Việt Nam bên Ấn Độ. Viết thư về cho bạn bè nói rằng chữ Hinđi loằng ngoằng thế thôi chứ cũng có chữ cái. Em viết tên của chị cho mà xem. Và viết tên người Việt bằng tiếng Hinđi. Thông thạo thứ tiếng này để đi hầu khắp xứ sở Ấn Độ vào chùa chiền nghiên văn hóa và tôn giáo. Viết một loạt truyện về Ấn Độ như một nhà du lịch thông thái. Đọc những truyện ngắn của Thái người ta như được đi thăm thú xứ sở bí ẩn này với những quan hệ sâu kín trong xã hội Ấn, với những truyền thuyết, những triết lý cuộc sống mà đọc ở những thể văn khác rất khó ghi nhận. Văn học đến với ta giản dị và sâu sắc, dễ gần gũi nếu tác giả có tri thức về vùng đất mà mình sáng tạo.

Ở Ấn Độ sáu năm với mùa hè nóng trên 40 độ C, thức ăn không quen, những công việc ngoại giao lúc nào cũng bắt mình phải trịnh trọng thường trực nụ cười, con người nghệ sĩ như bị gò bó. Nhớ đất nước. Tiếc vì thời gian đi mà mình không làm được gì cho niềm đam mê văn chương. Thái về nước nhận làm một việc có tính công chức của Bộ, từ chối đề bạt, giấu mình đi. Bạn bè không khỏi tiếc. Văn chương thì làm ở đâu chẳng được? Làm lúc nào chả được? Thăng tiến trong nghề chính cũng cần lắm chứ. Hỏi thì lắc đầu có vẻ không tiếc gì. Học hành nghiêm chỉnh thế. Tiếng Anh thông thạo thế. Đi nhiều miền đất thế mà hy sinh cho văn chương ư? Ai cũng muốn Thái phải là một VIP của ngoại giao. Đến bây giờ vẫn nghĩ thế. Nhưng người trong cuộc đã quyết thì bạn bè biết nói sao?

Những năm gần đây văn chương như thăng hoa. Sau Cõi người rung chuông tận thế là một loạt truyện ngắn đặc sắc. Tập truyện Tự sự 265 ngày là một phong cách như trình bày sự hóm hỉnh, có duyên, cười vào thói hư tật xấu thời hiện đại của người Việt, và những trang viết là sự nhào nặn tiếng Việt, trân trọng tiếng Việt. Đối với tác giả, một dấu phẩy cũng đáng để nhà văn phải trăn trở. Tác giả ghét lối viết ào ào in lấy được. Sách xếp cả chồng mà chẳng ai nhớ nổi. Viết rồi vô trách nhiệm với tác phẩm của mình đến nỗi để ai làm gì nó cũng được. Vì cái sự coi trọng nghề mà nhiều lần suýt mất cả những mỗi quan hệ tốt. Nhiều lần tức tối: Mình đã góp ý rồi. Vì bạn bè nên nhúng tay vào sửa cho nó rồi. Vậy mà nó vứt đâu cái bản đã sửa để in bản cũ. Biết rõ nó không phải coi thường mình. Nó vô trách nhiệm với chính nó thế thì viết văn làm gì!

Giận thật sự người nào đó nhưng rồi cũng nguôi ngoai vì: có ai như mình đâu. Mình làm quá người ta lại không hiểu cho là mình rách việc!

Cũng trong cung cách kết bạn. Đùng đùng yêu mến như sẻ lòng với ai đó. Đùng đùng bắt bạn bè phải được thấy người này, phải chuyện trò với người nọ - vì nó cực hay. Nhưng rồi lại: Thôi, không gặp nữa. Chán lắm!

Suy cho cùng cái thói yêu chữ nghĩa đấy mà. Thấy gã nào đó viết một cái gì hay quá là quý mến ngay. Nhưng quý rồi, đọc cái thứ hai thấy sự cẩu thả đã chán. Đọc cái nữa càng chán. Chuyện trò thấy chán ngắt. Thấy nó chả yêu nghề. Chọn nghề mà không hết lòng vì nghề chả đáng cho mình hết lòng với nó. Cho nên loanh quanh lại vẫn chơi với những người bạn không cùng tông màu cho lắm, nhưng trân trọng nghề nghiệp. Và có những người bạn tốt. Lê Dung chẳng hạn. Khi Lê Dung mất đi Thái gọi điện giọng ngàn ngạt: Đấy! Vừa cười nói vừa rủ nhau đi chơi đã không còn nữa. Buồn bã rất lâu như là có cái gì rất quan trọng giữa hai người. Nhưng đối với chị Đoàn Lê, em Thu Huệ với anh Vũ Bão, cũng như với anh Ma Văn Kháng, anh Xuân Thiều... Thái cũng hết sức trân trọng, chung thủy. Ai bình luận khen chê mặc kệ. Thái quý họ như Thái đã từng biết không hề chao đảo vì ai đó yêu ghét không giống mình. Hiếm khi thấy một nhà văn chung thủy với những gì mình chọn lựa như Thái...

Văn của Thái không có độ du dương của tiếng Việt. Tác giả không thích không chú trọng điều này. Trừ cuốn Tự sự 265 ngày là những khám phá và lối viết như "chơi" tiếng Việt, còn các tác phẩm khác rất được người đọc tiếng Anh thú vị. Văn học dịch ra ngôn ngữ khác mạnh ở ý tưởng và cách kể chuyện. Cuốn Trong sương hồng hiện ra và các truyện khác được in tới vạn bản, bạn bè ở Mỹ đánh giá cao, được báo chí Mỹ bình luận là một tác phẩm đặc sắc là thành công của Thái. Qua những bản dịch tác giả được người đọc ở Mỹ chú ý. Được mời thỉnh giảng ở Đại học Tổng hợp Washington. Được mời đi dự hội thảo văn học ở Úc, ở Thụy Điển... Quen biết nhiều. Giao tiếp nhiều. Cuốn Người đàn bà trên đảo in ở Mỹ, ở Pháp, ở Anh, Ấn Độ, Thái Lan, Hàn Quốc, sắp tới in ở vài thứ ngữ khác.

Người như thế nhưng sưu tầm nhiều băng hát chèo, hát ca trù, mê hát xẩm, chịu khó đi xem các vở ca kịch mới dựng, xem phim trong nước. Vẫn là nghệ sĩ sống chết với đất này, với ngôn ngữ của xứ sở này dù ngày nào cũng bực bội. Lúc nào cũng có cớ để kêu: Chán thế. Và chân thật nên chỉ có thể ở cạnh người thân mới dễ nói ra mọi chuyện. Làm ngoại giao nhưng trong đời sống ghét thói xã giao giả dối. Vì thế mới ham văn chương. Nhờ văn chương nói hộ mình.



Cõi người rung chuông tận thế như được kết cấu từ ý tưởng hôm nay. Mạch truyện liền tù tì những cái chết, sự trả thù, nhưng xen vào đó là ngôn ngữ người Việt hôm nay. Không lôi thôi lòng thòng. Chi tiết cô đặc và đắt. Nó ám ảnh ở dòng mở đầu như phũ phàng và tiếng thở dài nhẹ nhàng khi cô gái Mai Trừng được giải khỏi lời nguyền oan nghiệt, trở lại là người bình thường được sống như người chung quanh cô khi kết sách. Vẫn là cách nghĩ của người Việt. Qua lửa qua máu qua nước... là cõi bình yên. Nhân vật của cuốn sách này có hình ảnh đường nét. Người ta tưởng tượng được vóc dáng của ba thằng thanh niên. Cũng tưởng tượng được hình hài đứa con gái tên Mai Trừng. Nhân vật đi lại có động có tĩnh không nhạt nhòa trộn lẫn. Cuốn tiểu thuyết viết như là thiên về kỹ thuật nhưng để nhớ và hình dung ra nhân vật lại phải xuất phát từ trí tưởng tượng và cảm hứng sáng tạo.

Đây là người còn đi dài với văn chương.



Tia sáng số 1, tháng 3-2003

Giọng tiểu thuyết

đa thanh
Nguyễn Thị Minh Thái
Có một sự tương phản đặc biệt và nổi bật trong cuốn tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, vừa mới xuất bản cuối năm 2002 của nhà văn Hồ Anh Thái: tương phản giữa một bên là sự không dày dặn gì về số trang (257 trang), với một bên là sự đa thanh đáng ngạc nhiên trong giọng điệu tiểu thuyết của một nhà văn từng trải, bắt đầu dày dạn trong cách viết của mình.
Nói một cách khác, đây là một cuốn tiểu thuyết được tác giả chủ ý viết ngắn, với một cách viết được nén rất chặt và thực sự nhà văn Hồ Anh Thái đã thành công trong cái động thái mỹ học nén rất chặt của mình ở cuốn tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế. Không nghi ngờ gì nữa, có thể khẳng định rằng thi pháp thơ trữ tình đã chi phối tác giả này đến mức, dường như Cõi người rung chuông tận thế đã được cấu trúc theo cách cấu tứ của thơ trữ tình, với một ý tưởng cảnh báo về cái ác xuyên suốt như một tứ thơ chính: liệu con người ta có thể đẩy được cái ác ra khỏi cõi người không, khi cái ác bao giờ cũng mọc như cỏ dại trong vườn nhân thế? Liệu có nên ai đó đang thời thiếu nữ xuân sắc cứ mãi phải đơn độc gánh vác sứ mệnh diệt trừ cái ác? Và phải chăng, nếu ai cũng ý thức được bản chất của cái ác, có khả năng nhận diện được cái ác trong cả những biến thể li ti nhất của nó, để có những ứng xử thích hợp, thì cõi người sẽ tránh được ngày tận thế?

Chắc chắn rằng, "ý tưởng - tứ thơ" này đã từng được tác giả nghiền ngẫm nung nấu rất lâu và rất sâu trước khi đặt bút viết tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế. Có cảm tưởng, khi đã trải rất nhiều suy tư và khi tất cả các chất liệu tiểu thuyết đã được ươm cho đến ngày chín vàng, đủ để bật ra một lối viết, với hình -thức-ngắn của cuốn tiểu thuyết thì tác giả đã viết nó trong cơn mê sảng của cảm xúc dâng trào.

Thế là cuốn tiểu thuyết hiện hình, ngắn gọn, giản dị, có thể độ dày của nó ngang bằng một cái truyện vừa, nhưng mặc lòng, nó có sức nén của tiểu thuyết, bởi đã hàm chứa được nhiều thanh điệu của một giọng kể đa thanh, đích thực là giọng riêng của nhà văn Hồ Anh Thái trong cuốn tiểu thuyết mới tinh này.

Cõi người rung chuông tận thế quả đúng là một cuốn tiểu thuyết không dày, nhưng cái giọng đa thanh của nó rõ ràng là đã gây hấn người đọc tiểu thuyết. Nên lưu ý trong thời buổi mất mùa văn hóa đọc, lên ngôi các phương tiện nghe - nhìn, bùng nổ thông tin, cuộc sống sôi động gấp gáp, tiết tấu mạnh, thức ăn nhanh... liệu mấy ai còn thú vui đọc tiểu thuyết nữa? Trong văn học, điện ảnh, sân khấu... hôm nay, chẳng phải ngẫu nhiên xuất hiện sự thích ứng nhanh chóng: sân khấu nhỏ lên ngôi, truyện rất ngắn ra đời, phim ngắn chiếm lĩnh màn ảnh...

Song, viết tiểu thuyết ngắn lại là một việc khác. Không biết có chịu sức ép của tình hình mất - mùa - văn - hóa - đọc không, nhưng viết tiểu thuyết ngắn như kiểu viết của Hồ Anh Thái trong Cõi người rung chuông tận thế là thật dụng công.


*

* *


Lựa chọn cách chiếm lĩnh hiện thực theo phương thức trữ tình, để phát triển "tứ thơ" trong Cõi người rung chuông tận thế, mỗi chương của tiểu thuyết này được tổ chức như một khổ thơ, trên nền một cốt truyện khá giản dị. Một câu chuyện báo thù xảy ra ngay trong thời hiện tại. Có bốn nhân vật đàn ông, trong đó, ngoài nhân vật xưng Tôi, thì ba nhân vật trẻ trai còn lại, do dính dáng với một cô gái tên Mai Trừng, mà lần lượt chết đột ngột và thảm khốc.

Mỗi một chương của bốn chương đầu hầu như gói gọn một cái chết. Sau bốn chương, và ba cái chết, nhân vật Tôi bắt đầu ngộ ra nhiều điều, lên đường tìm kiếm Mai Trừng. Cuộc kiếm tìm nhọc nhằn này khiến nhân vật Tôi vỡ lẽ một sự thật khủng khiếp. Nhân vật Tôi đã cùng Mai Trừng lội ngược dòng về quá khứ chiến tranh, xin bố mẹ cô giải thiêng cho lời nguyền đã ám vào cuộc đời cô.

Quả là một câu chuyện huyền hoặc, nhưng tuyệt nhiên không phải là kết quả vay mượn kiểu viết tiểu thuyết "huyền ảo Mỹ Latinh" như có người nhận xét. Thực ra, câu chuyện trong Cõi người rung chuông tận thế phảng phất sắc màu huyền thoại kiểu tâm linh phương Đông, và đặc biệt thuần Việt, khi tác giả tinh tế củng cố cái thông điệp truyền thống: ác giả thì ác báo.

Nếu coi bốn chương đầu trong Cõi người rung chuông tận thế (vốn chỉ có tám chương và một chương cuối) đều là những khổ thơ trong cả một bài thơ trữ tình dài, thì giọng điệu khổ thơ của chúng ban đầu lại hầu như hoàn toàn tả thực, thậm chí hơi lạnh lùng kiểu "hình sự".

Tạm gọi tên kiểu tả thực này là "gọi sự vật bằng tên của nó", chúng ta có được chân dung ba gã "thanh niên thời đại", với những cái tên điển hình cho những dục vọng trai trẻ: Cốc, Bóp, Phũ. Đây là những nhân vật nhan nhản trong cõi người hôm nay, cách sống đầy ích kỷ cá nhân, lấy tiêu thụ, hưởng lạc làm chính, ngoài ra thì "bất cần đời".

Để nhấn mạnh những nhân vật điển hình này, nhà văn Hồ Anh Thái đã chọn được một điểm nhìn tiểu thuyết độc đáo, rất gần với cách nhìn của thơ trữ tình: tất cả ba cái chết của ba gã trai trong Cõi người rung chuông tận thế đều diễn ra trước mắt nhân vật Tôi và đều được suy ngẫm bởi nhân vật Tôi trong suốt cả câu chuyện tiểu thuyết. Và đây chính là một cái Tôi tiểu thuyết đậm đà phong vị trữ tình, nó phân thân uyển chuyển: nó vừa tham gia vào câu chuyện, bởi nhân vật Tôi là một trong bốn người đàn ông có quan hệ với Mai Trừng (nhưng không theo cách suồng sã "vật chất" như ba gã trẻ tuổi kia, mà theo tinh thần "platonic"), lại vừa là nhân vật Tôi của tiểu thuyết. Nó suy ngẫm triền miên, can thiệp bằng thái độ riêng của mình và nhức nhối, đau đớn về tất cả những điều trông thấy trong Cõi người rung chuông tận thế.

Vì thế, thông điệp về cái ác bỗng trở nên có nhiều sâu triết học. Không chỉ là câu chuyện ác giả ác báo của phương Đông cổ tích nữa, mà cái ác đã trở thành một "thế lực" đáng kể, đang làm ngả nghiêng cõi người đương đại. Cái ác không chỉ mang bộ mặt dễ nhận ra của chiến tranh, cái ác không chỉ làm tổn thương quá khứ, cái ác còn đang sống sờ sờ trong hiện tại không còn chiến tranh; thậm chí cái ác còn mang bộ mặt vui vẻ trẻ trung của đôi lứa, hay là của những dục vọng trẻ trai.

Ba nhân vật thanh niên trong cõi tiểu thuyết của Hồ Anh Thái là ba biến tướng khác nhau của một cái ác hiện đại và tinh vi: chúng đâu có yêu tâm hồn của cô gái đẹp Mai Trừng. Chúng chỉ nhăm nhăm chiếm đoạt thể xác Mai Trừng, với dục vọng của những con đực. Song, về nhân vật, chúng lại là những đứa trẻ cưng của nhân vật Tôi. Đầy thân mến, và cũng đầy xót thương cho cái chết của chúng, nhân vật Tôi gọi chúng âu yếm: ba gã trai của tôi, lừng lững ba chàng đẹp trai cao trên dưới thước tám, đầy tràn dục vọng, đầy tràn sức sống.

Ba cái chết cũng động lòng cả Mai Trừng, dù cô là người (ngoài ý muốn) đã gây ra sự thể khủng khiếp này.

Lãnh sứ mệnh diệt trừ cái ác ngay từ thuở lọt lòng, từ hai cái chết thảm khốc của hai người lính cha và mẹ ở chiến trường, ngay cả Mai Trừng cũng không tự ý thức được rằng chính mình cũng không thoát khỏi cái ác. Ác nhất là hễ ai dính vào cô cũng phải chết, vì bị coi là tội ác. Người cô yêu cũng thế...


*

* *


Song Hồ Anh Thái đã rất cao tay trong cấu trúc. Các giọng kể đan xen quấn quyện vào nhau như một bản giao hưởng. Hóa ra, những cái chết đã thúc đẩy nhân vật Tôi phải trải qua cả một cuộc sám hối, với hành trình đi tìm Mai Trừng và cùng Mai Trừng xin cha mẹ "giải thiêng" lời nguyền. Bản giao hưởng cao vút lên vào những phút kết thúc. Và cuốn tiểu thuyết cấu trúc theo kiểu một bài thơ trữ tình lớn, đã đạt đến điểm ngời sáng trong sự phát triển của mạch thơ vào phút cuối cùng.

Thế là câu chuyện về cái ác đã dẫn đến một kết thúc có hậu theo đúng tinh thần văn hóa phương Đông, mà thoạt đầu, có vẻ như cuốn tiểu thuyết được viết với một tinh thần duy lý, phảng phất "dòng ý thức" của tư duy tiểu thuyết phương Tây.

Sự chuyển giọng, thay giọng kể luôn luôn đầy bất ngờ, khiến người đọc có thể đọc Cõi người rung chuông tận thế một mạch không nghỉ. Và càng đọc, càng khắc khoải đi theo hai nhân vật Tôi và Mai Trừng, càng cảm thấy chất phương Tây duy lý đã nhạt phai dần, đã dịch chuyển tinh tế về phía của phương Đông đẫm đầy tình cảm. Những trang viết về rừng núi Trường Sơn, về các cô gái thanh niên xung phong trẻ măng, về tình chị em, tình yêu đôi lứa trong chiến tranh đều chan chứa tình thương.

Nhà nghiên cứu phê bình văn chương Hoàng Ngọc Hiến từng nhận xét rằng, phần nhiều các nhà văn Việt Nam hiện đại chưa biết cách kể chuyện trong truyện ngắn, nhất là cách kể chuyện dài trong tiểu thuyết. Và giọng kể có khi là đơn điệu, bằng phẳng.

Tôi nghĩ nhà văn Hồ Anh Thái đã bứt được lên khỏi những thói quen truyền thống. Với Cõi người rung chuông tận thế, nhà văn đã biết kể một câu chuyện về cái ác bằng một giọng kể đa thanh. Đa thanh trên nền những suy tưởng trữ tình. Đa thanh và trữ tình đến mức nhà văn cũng không buồn phân thân triệt để thành những nhân vật ngôi thứ ba nữa. Giữ cho chủ thể viết tiểu thuyết một nhân vật xưng Tôi, Hồ Anh Thái thoải mái tham gia bàn luận suốt chiều dài cuốn tiểu thuyết, bằng một giọng hài hước riêng mà phía cuối của giọng hài hước ấy, có tiếng rơi thầm của những giọt nước mắt lặng lẽ không bật thành tiếng khóc...

Một cuốn tiểu thuyết được nén rất chặt như thế, chính là để bung ra tất yếu trong cái kết thúc. Và hình như càng nén chặt, thì càng phát sáng trong sự bung ra của tư tưởng. Điều này không những dẫn đến một kết thúc có hậu, như đã nói ở trên, mà còn dẫn đến một kết thúc mở, với sự cất cánh của yếu tố lãng mạn, mà có người đã hồ nghi rằng, nó đã bị mất ngay từ đầu trong Cõi người rung chuông tận thế. Hơn nữa, có người còn cho rằng nó đã bị mất đi trong sự chuyển động không ngừng của phong cách viết Hồ Anh Thái, hay nói một cách khác, nó đã bị đứt đoạn so với Trong sương hồng hiện ra, Người và xe chạy dưới ánh trăngNgười đàn bà trên đảo, v.v và v.v... Và hình như càng viết, nhà văn càng để mất đi chất lãng mạn sáng giá của mình.

Tôi không đồng ý với nhận xét ấy. Cõi người rung chuông tận thế là một cách "lạ hóa" phẩm chất lãng mạn vốn có và là căn bản trong phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Có chăng, trong Cõi người rung chuông tận thế, đã xuất hiện một thứ lãng mạn được giấu kỹ, ém nhẹm xuống dưới đáy của chuỗi hiện thực được sắp đặt nghệ thuật như một giấc mơ dài. Mà giấc mơ dài đẹp nhất của Cõi người rung chuông tận thế nằm trong thế giới tiềm thức liên tục phát sáng của nhân vật Tôi. Nó ám vào sự miêu tả lãng đãng khói sương và thê thiết bi thảm trong cuộc đi tìm và gọi hồn cha mẹ của Mai Trừng. Nó đích thị là những biến điệu tinh vi trong tâm hồn Mai Trừng, cô làm điều ác với đầy mặc cảm vô thức, để rồi, từ chỗ là người trừng phạt cái ác, lại muốn được trở thành người bình thường, không vướng bận bất cứ một quyền năng nào khác, ngoài quyền năng một người bình thường sống trong cõi người.

Cái cách mà Mai Trừng hoảng hốt cuống quýt xin cha mẹ tha cho mình một sứ mạng, để trở về kiếp người bình thường, cái cách mà nhân vật Tôi sám hối, để hòa nhập vào cuộc hành hương của Mai Trừng, rốt ráo đã cùng mang chung một hàm nghĩa: cả hai nhân vật đều phải đi tìm bản thể của chính mình.

Bất ngờ, ta biết được nhân vật Tôi và Mai Trừng không hoàn toàn có ý định đi tìm nhau để nhập hòa thành một theo cách thông thường, mà họ chỉ mải miết đi tìm gặp hình ảnh cốt lõi của mình. Nhưng họ đã được hơn thế! Họ đã gặp được nhau, cùng lúc với gặp chính mình. Cuộc gặp gỡ tình thế này tất đẩy họ đi tiếp trong nhiều đoạn văn trong vắt được tác giả viết vào chương cuối:

"Chúng tôi hỏa táng hài cốt cha mẹ Mai Trừng ở trong vườn chùa. Hai chiếc chảo gang to đựng hai bộ hài cốt ngập trong dầu hỏa. Dầu hỏa cháy, thiêu hủy dần chỗ hài cốt thành tro. Phải rót thêm mấy lít dầu cho đầy chảo. Đêm xuống rồi mà xương vẫn chưa rục ra hết! Mai Trừng và tôi phải ngồi canh hai cái chảo bốc lửa.

Rồi ít ngày nữa chúng tôi sẽ rời chùa Bảo Sơn. Mai Trừng sẽ trở về với cõi người. Tôi sẽ trở về với biển. Cũng có thể dự định sẽ thay đổi. Chẳng có điều gì dám chắc. Cả hai nơi ấy đều có sóng ngầm, sóng dữ, sóng thần. Cả hơi nơi đều đầy bất trắc. Cả hai nơi đều có những kẻ chán làm người, và những kẻ sung sướng vì được làm người bình thường"... (Trang 254).

Như thế, với tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái đã gây hấn cõi người đọc bằng một hồi chuông cảnh báo đa thanh, lúc khoan, lúc nhặt, lúc tức tưởi, lúc ngạt ngào, đanh thép, lúc du dương, dịu dàng... để khuyên nhủ con người hãy dè chừng, hãy tránh xa cái Ác như tránh xa ngày phán xử cuối cùng. Tránh xa cái Ác, chỉ có cách neo tựa vào cái Đẹp, như ai đó từng nói:



Cái Đẹp sẽ cứu chuộc thế giới.

Vì vậy, trong giọng tiểu thuyết đa thanh vang ngân nhiều cung bậc của Cõi người rung chuông tận thế vẫn nhận ra thanh điệu chủ đạo của nhà văn Hồ Anh Thái với giọng điệu trữ tình kiểu phương Đông đặc trưng. Và đó chính là nét riêng trong phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái, dù có biến hình đến đâu cũng không đi ra ngoài những căn nguyên nền tảng văn chương riêng của mình. Bởi vì "chạy trời không khỏi nắng". Vẫn cứ là phong cách riêng vừa quen thuộc vừa lạ lùng của nhà văn Hồ Anh Thái, mà bạn đọc đã từng yêu mến đấy thôi.



15-12-2002

Thế giới mới, số 529, 31-3-2003

Mạch truyện chuyển động nhanh, rất hiện đại, đi vào quỹ đạo của xã hội người hôm nay. Khi đọc Hồ Anh Thái, tôi cứ nhớ Moravia - một nhà văn ý mà tôi rất thích. Không phải vì Thái giống ông ấy, tôi chỉ liên tưởng, bởi vì cái hiện đại của Thái có nội dung và dáng dấp Việt Nam hôm nay nhưng cái hôm nay lại vẫn nằm trong triết lý và tư tưởng Việt Nam.

Tô Hoài


Vọng vang nhân quả


... Bên cạnh ba cái chết được xem như “quả báo”, còn cái chết của cô Giềng – một trong hai cô gái Trường Sơn đã nuôi Mai Trừng từ nhỏ – lại rất bất công. Cô Giềng chết vì bác sĩ chẩn đoán đau ruột thừa thành viêm túi mật và không đủ viện phí để nhập viện. Sức nặng câu chuyện không chỉ nằm ở ba cái chết kia, mà trĩu lòng người trong một cái chết này. Giọng văn Hồ Anh Thái đau hơn những tác phẩm trước đây. Và nỗi đau đọng lại ở một cậu bé không cha, mười hai tuổi, con của cô Giềng: “Mạ cháu chỉ bị ruột thừa, có tiền thì mạ cháu không chết”. Nếu cậu bé tin vào nhân quả, cậu sẽ tin rằng rồi có lúc những người bác sĩ thiếu trách nhiệm kia nhận “quả báo”. Nhưng biết đâu, cậu bé mười hai tuổi này lại nuôi lòng thù hận?

Những bất công vẫn tồn tại, lòng thù hận vẫn tồn tại, cả cái ngớ ngẩn và vô lý như bác sĩ chẩn đoán sai cũng tồn tại. Trong khi đó, hành trình của Đông - nhân vật chính - đi tìm bí ẩn ba cái chết đã làm triệt tiêu lòng hận thù trong anh. Con người, dẫu có một thứ quyền năng cho phép, cũng không thể “nhúng tay” vào quy luật nhân quả để làm theo ý mình được. Đó là trường hợp giả định như Mai Trừng. Cô không hiểu nổi tại sao người yêu cô cũng không được phép yêu, lẽ nào những hành động như thế cũng bị xếp vào loại phải chịu trừng phạt. Mai Trừng đã tìm đến ngôi mộ của cha và mẹ ở Trường Sơn để cầu xin cởi bỏ lời nguyền ghê gớm nọ và đưa hài cốt của cha mẹ về. Cái ác được tự thanh lọc và hận thù được gỡ bỏ khi con người hướng thiện. Khi đó, người gieo nhân lành sẽ nhận quả lành và con người cũng không cần thiết phải can thiệp vào quy luật nhân quả nữa. Có điều, liệu có tiếng chuông nào rung lên để cho mọi người trong cõi nhân gian này nhận ra điều ấy không, hay khối người vẫn cứ ao ước có được một khả năng trừng phạt tương tự Mai Trừng?




  1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương