ChưƠng I cơ SƠ LÍ luậN



tải về 265.78 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu30.10.2017
Kích265.78 Kb.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ HỘI TIÊN (HE HUIXIAN)


ĐẶC ĐIỂM CỦA UYỂN NGỮ TRONG TIẾNG HÁN

(CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu

Mã số: 62 22 01 10

TãM T¾T LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC




Hà Nội - 2014
Công trình được hoàn thành tại:

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS Nguyễn Văn Khang

Viện ngôn ngữ học Viện Khoa học xã hội Viêt Nam



Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Đại học Quốc gia chấm luận án tiến sĩ họp tại Hà Nội

Vào hồi: giờ ngày tháng năm


Có thể tìm hiểu luận án tại:

  • Thư viện Quốc gia Việt Nam

  • Trung tâm thông tin thư viện - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội.

MỞ ĐẦU


1. Lí do chọn đề tài

Uyển ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ có quan hệ mật thiết với xã hội. Trong giao tiếp, uyển ngữ có thể được coi như là một tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá năng lực ngôn ngữ của người sử dụng. Cho đến nay, chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu đối chiếu một cách hệ thống về phép lịch sự trong giao tiếp giữa tiếng Hán và tiếng Việt trong đó có việc sử dụng uyển ngữ. Chính vì thế, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu Đặc điểm của uyển ngữ trong tiếng Hán (có liên hệ với tiếng Việt).



2. Mục đích nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu đặc điểm của uyển ngữ trong tiếng Hán (có liên hệ với tiếng Việt), luận án góp phần vào nghiên cứu lí luận về uyển ngữ; nghiên cứu những đặc trưng ngôn ngữ văn hoá của mỗi dân tộc (Trung Quốc và Việt Nam) nói chung, đặc điểm cấu tạo uyển ngữ, nói kiêng tránh của mỗi dân tộc nói riêng; Tìm hiểu sự hiểu biết của uyển ngữ tiếng Hán về mặt nguồn gốc, cấu tạo và ngữ nghĩa, phong cách và cách dụng; tìm ra các đặc trưng về mặt văn hóa xã hội trong việc sử dụng tiếng Hán và tiếng Việt; Vận dụng thiết thực vào hoạt động dạy học tiếng Hán như một ngoại ngữ; cũng góp phần vào chuyển dịch uyển ngữ sang tiếng Việt.



3. Nhiệm vụ của luận án

- Giới thiệu những lý thuyết cơ bản liên quan đến uyển ngữ.

- Hệ thống hoá những nội dung cơ bản uyển ngữ trong tiếng Hán, có liên hệ với tiếng Việt.

- Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa uyển ngữ trong tiếng Hán, có liên hệ với tiếng Việt.

- Nghiên cứu đặc điểm sử dụng uyển ngữ trong tiếng Hán, có liên hệ với tiếng Việt.

4. Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ tính chất, đối tượng và mục đích nghiên cứu của luận án, các phương pháp chủ yếu được dùng trong luận án này là: Phương pháp phân tích ngữ nghĩa.Phương pháp của ngôn ngữ học đối chiếu.Và các phương pháp, thủ pháp khác như: Phương pháp diễn dịch, quy nạp, thống kê, phân loại.



5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng là các uyển ngữ tiếng Hán và các uyển ngữ tiếng Việt tương đương. Phạm vi của tư liệu:

- Các uyển ngữ được thu thập và giải thích từ hai cuốn từ điển: Từ điển uyển ngữ tiếng Hán (Trương Củng Quý, NXB trường Đại học Ngôn ngữ Văn hóa Bắc Kinh, 1996) và Từ điển thực dụng uyển ngữ tiếng Hán (Vương Nhã Quân, NXBTừ điển Thượng Hải, 2005).

-Các uyển ngữ trong tác phẩm红楼梦Hồng Lâu Mộng(tác giả: Tào Tuyết Cần, Nhà xuất bảng Giáo dụ Hồ Nam, 2011), bao gồm nguyên bản và bản dịch sang tiếng Việt Hồng Lâu Mộng (dịch giả: Bùi Hạnh Cẩn, Ngọc Anh, Kiều Liên, NXBVăn Học, 2011).



6. Những đóng góp mới của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp mới, nghiên cứu một cách hệ thống về uyển ngữ bao gồm những vấn đề lí thuyết về uyển ngữ và đặc điểm của uyển ngữ tiếng Hán trong mối liên hệ với tiếng Việt.



7. Ý nghĩa về lí luận và thực tiễn

Về lí luận: Luận án góp phần làm rõ về mặt lí luận uyển ngữ. Sự nghiên cứu uyển ngữ cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, ngôn ngữ và tâm lý dân tộc, vấn đề giao tiếp ngôn ngữ theo hướng dân tộc học giao tiếp.

Về thực tiễn:Góp phần hiểu rõ đặc điểm uyển ngữ trong tiếng Hán, làm căn cứ đáng tin cậy cho công việc nghiên cứu giảng dạy tiếng Việt và sử dụng chính xác uyển ngữ tiếng Hán. Ứng dụng kết quả nghiên cứu uyển ngữ vào việc dạy học, giúp cho việc nâng cao chất lượng dạy học tiếng Hán và tiếng Việt với tư cách là một ngoại ngữ; công tác đối dịch tiếng Hán – Việt. Kết quả nghiên cứu còn là tư liệu tham khảo cho công tác biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo cho các chương trình giảng dạy tiếng Hán cho người Việt cũng như dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc.

8. Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 04 chương. Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu uyển ngữ; Chương 2. Đặc điểm cấu tạo của uyển ngữ tiếng Hán (có liên hệ với tiếng Việt); Chương 3. Đặc điểm ngữ nghĩa của uyển ngữ tiếng Hán (có liên hệ với tiếng Việt); Chương 4. Đặc điểm sử dụng của uyển ngữ tiếng Hán ( có liên hệ với tiếng Việt).


CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU UYỂN NGỮ




1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU UYỂN NGỮ

1.1.1. Tình hình nghiên cứu uyển ngữ ở Trung Quốc


Cho đến nay, theo thống kê của chúng tôi, có khoảng 865 công trình nghiên cứu về uyển ngữ ở Trung Quốc. Trong đó, những bài viết về uyển ngữ từ góc độ ngoại ngữ (bao gồm Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật,v.v) có khoảng 512 bài, chiếm 59% tổng số bài viết; những bài viết đối chiếu uyển ngữ tiếng nước ngoài với tiếng Hán có khoảng 262 bài, chiếm 30% tổng số bài viết; những bài viết nghiên cứu uyển ngữ tiếng Hán chỉ có 91 bài, chiếm 10% toàn bộ các bài viết.

1.1.2. Tình hình nghiên cứu uyển ngữ ở phương Tây


Có thể nói các học giả phương Tây đã có nhiều đóng góp cho nghiên cứu uyển ngữ. Từ chỗ uyển ngữ luôn được xem là một loại phương thức tu từ đến việc nghiên cứu uyển ngữ từ góc đọ dụng học là một bước phát triển trong nghiên cứ uyển ngữ.

1.1.3. Tình hình nghiên cứu uyển ngữ ở Việt Nam


Về việc nghiên cứu uyển ngữ ở Việt Nam, theo hiểu biết của chúng tôi, cũng chưa nhiều.

1.1.4. Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu uyển ngữ


Từ những tổng quan trên có thể thấy được các nhà nghiên cứu từ trước tới nay đã gặt hái được những thành tựu nhất định trong quá trình nghiên cứu uyển ngữ. Liên quan đến đề tài luận án là nghiên cứu đặc điểm của uyển ngữ tiếng Hán (có liên hệ với tiếng Việt), chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về đối chiếu uyển ngữ tiếng Hán với tiếng Việt.

1.2. CƠ SƠ LÍ LUẬN ĐỂ TRIỂN KHAI ĐỀ TÀI

1.2.1. Quan niệm về uyển ngữ


Chúng tôi cho rằng, cần có những giới hạn khoa học về uyển ngữ, cần thiết xem xét một số nguyên nhân sau: hoàn cảnh ngôn ngữ giao tiếp đặc trưng bao gồm bối cảnh văn hóa xã hội, phong tục tập quán truyền thống, trượng hơp cụ thể, tâm lý của chủ thể giao tiếp; mục đích giao tiếp, đặc trưng của uyển ngữ biểu đạt; các thủ pháp ngôn ngữ và lời nói được vận dụng trong đó gồm có từ ngữ, mẫu câu đồng nghĩa và phương thức biểu đạt đồng nghĩa.

1.2.2. Uyển ngữ từ góc nhìn của phương ngữ xã hội

Với tư cách là một loại phương ngữ xã hội, uyển ngữ tồn tại và hoạt động dưới hình thức là biến thể. Cả những biến thể ngôn ngữ dùng không quy thức, biến thể ngôn ngừ của tầng lớp lao động. Ví dụ: 马大嫂Mã đại tẩu là từ địa phương của Thượng Hải đồng âm với từ 买mua, 汰thải, 烧thiêu, dùng để chỉ埋头做家务的人những người vùi đầu vào làm việc nhà.

1.2.3. Quan niệm của luận án về uyển ngữ


Uyển ngữ là từ hoặc ngữ được sử dụng thay thế những từ, ngữ được coi là chưa nhã, quá trực tiếp, dung tục, chướng tai gai mắt hay thô lậu trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Uyển ngữ là cách sử dụng từ ngữ một cách khéo léo, linh hoạt nhằm nói tránh, nói lái để không nói thẳng vào sự thật mà mình muốn nói, hoặc làm cho ý của mình thêm đẹp, thêm sắc thái. Uyển ngữ được sử dụng như một biện pháp để tránh mất lòng nhau.

1.2.4. Phân biệt uyển ngữ với các khái niệm liên quan

Uyển ngữ và kiêng kị: Uyển ngữ và kiêng kị là hai loại thuật ngữ khác nhau, nhưng do hiện tượng văn hoá tôn giáo, tập tục xã hội và hiện tượng tâm lý xã hội mà chúng có liên quan mật thiết tới nhau, vì vậy chúng có mối liên hệ mật thiết tới nhau. Tiếng Hán hiện đại gọi 犯罪phạm tội là失足 thất túc sa ngã; 避孕套vòng tránh thai gọi là安全套vòng an toàn

Uyển ngữ và tiếng lóng: Tiếng lóng thường không mang ý nghĩa trực tiếp mà mang ý nghĩa tượng trưng, nghĩa bóng. Uyển ngữ bao gồm các từ ngữ được dùng gián tiếp thay cho những từ ngữ chính xác hoặc trực diện với mục đích làm cho cách diễn đạt mềm hơn, không gay gắt để tạo cảm giác vừa ý hơn. Tiếng lóng và uyển ngữ có mối liên hệ khi nói đến một số vấn đề tế nhị của xã hội, nhất là các vấn đề kiêng kị. Có nhiều từ ngữ tiếng lóng được xem như là uyển ngữ. Thật ra đôi khi rất khó để gọi một từ là tiếng lóng hay uyển ngữ. Vì có sự phân vân giữa uyển ngữ và tiếng lóng như thế nên khi sử dụng các từ ngữ này cần phải xem xét kỹ các yếu tố trong tình huống sử dụng.

Uyển ngữ lời nói khiêm tốn: Nhìn từ nội dung, lời nói khiêm tốn đề cập đến nội dung về phong thái lịch sự, quan hệ giao tiếp giữa bạn và tôi mà uyển ngữ thì có nội dung ngữ nghĩa đề cập đến cái người ta cho rằng không lịch sự không may mắt và kích động người khác, mang đến ngữ nghĩa không vui vẻ. Ví dụ: 高徒cao đồ với ý nghĩa tôn trọng có nghĩa là你的门徒môn đồ của anh, 寒舍hàn xá自己的家chỗ ở của mình.


Uyển ngữ và nhã ngữ: Nhã ngữ là một biến thể của uyển ngữ, trong đó, những từ ngữ nhã nhặn, lịch sự được dùng để thay thế những từ ngữ thô lỗ, khó nghe, không đúng mức. Ví dụ: Khi muốn che giấu, làm mờ đi mặt không tốt của thực tế con người hay của thực trạng xã hội, để sự diễn đạt được tế nhị, không xúc phạm đến ai, người ta nói: tình hình chưa có công ăn việc làm(=nạn thất nghiệp); tham ô của công(=ăn cắp tài sản của nhà nước).

Uyển ngữ và ngôn từ cát tường (lời chúc tốt lành): Uyển ngữ dùng để điều chỉnh quan hệ con người, thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, còn ngữ cát tường dùng để diễn đạt tình cảm tốt đẹp của nhân loại. Ngôn từ cát tường diễn đạt sự chúc phúc cho một tương lai tốt đẹp, còn uyển ngữ không có đặc điểm này. Ví dụ: 恭喜发财chúc mừn phát tài, 福如东海phúc như Đông Hải, 寿比南山thọ tỷ Nam Sơn.

1.2. 5. Đặc điểm ngôn ngữ học xã hội của uyển ngữ

Tính dễ chấp nhận: Ví dụ người ta thường dùng: 多喝了几杯uống quá vài ly để thể hiện喝醉了uống say rồi, Những uyển ngữ này tránh việc thể hiện trực tiếp gây áp lực với người nghe. Vì thế, có thể nói uyển ngữ có tính dễ chấp nhận rất lớn.

Tính gián tiếp: Ví dụ:Khi nói đến quan hệ nam nữ người ta thường dùng các từ: 那事chuyện đó, 房事phòng sự (chuyện phòng the), 同房đồng phòng(cùng phòng), 男女关系quan hệ nam nữ. Cách sử dụng từ gián tiếp linh hoạt này chính là ngôn ngữ ngoại giao.

Tính phổ biến: Uyển ngữ tồn tại rộng rãi trong ngôn ngữ của tất cả các quốc gia trên thế giới, phạm vi sử dụng rất rộng, thâm nhập vào tất cả các khía cạnh của đời sống xã hội.

Tính thời đại: Uyển ngữ tiếng Hán thừa hưởng tinh hoa văn hóa của lịch sử dân tộc, nên sẽ mang trên mình những đặc điểm của thời đại mà nó trải qua.

Tính dân tộc: Quốc gia khác nhau, dân tộc khác nhau, môi trường tự nhiên khác nhau, môi trường xã hội khác nhau, phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt hay bối cảnh văn hóa khác nhau thì uyển ngữ cũng sẽ tồn tại khá nhiều khác biệt, sự thể hiện khác nhau này chính là sự thể hiện đặc điểm dân tộc của uyển ngữ. Ví dụ:黄泉suối vàng, 泰山thái sơn, 绿帽子mũ xanh, 闭门羹bế môn canh (từ chối không cho khách vào nhà gọi là cho khách ăn chè bế môn) ....Những từ ngữ mang tính hàm súc sâu sắc, văn hoá dân tộc phong phú. Chỉ có những người sống trong bối cảnh văn hoá dân tộc Hán thì mới có thể vừa nghe đã hiểu được ý nghĩa thực tế của nó.

Tính khu vực: Văn hóa lịch sử của những khu vực khác nhau thì những thói quen cấm kỵ cũng khác nhau. Sự thể hiện khác biện trong ngôn ngữ chính là biểu hiện sự khác nhau về khu vực của ngôn ngữ.

1.2.6. Chức năng của uyển ngữ

Chức năng kiêng kị: Sự sản sinh và phát triển của uyển ngữ có liên quan mật thiết đến từ ngữ cấm kị. Ngôn ngữ kiêng kị là tượng trưng cho sự văn minh trong xã hội mà tuyệt đại bộ phận ngôn ngữ kiêng kị đều là những từ ngữ chỉ giới tính, những hiện tượng sinh lí có liên quan đến hệ bài tiết, những bộ phận cơ thể con người, những từ ngữ chỉ thần linh, ma quái không thể nói tới một cách tùy tiện. Ví dụ: Biểu thị cái chết: 去世khứ thế, 过世qua thế, 谢世tạ thế, 辞世từ thế, 绝世tuyệt thế, 转世chuyển thế để...

Chức năng lịch sự: Lịch sự là giảm nhẹ một số cách biểu đạt mang ý đồ đe dọa trong hành vi giao tiếp, tức là cố gắng giữ thể diện cho mình và người nghe. Ví dụ:有病có bệnh mà bằng từ khác là不舒服không thoải mái, 不大好không tốt lắm, 欠安thân thể chưa được tốt. Chức năng lịch sự là chức năng dùng để tránh sự mạo muội, thất lễ, khiếm nhã trong giao tiếp.

Chức năng xóa bỏ sự thô tục: Chức năng này dùng để che giấu những điều khó nói của con người, tránh những hiện tượng khó xử đường đột trong thực tế. Ví dụ: Mồ hôi của con gái được nói粉汗mồ hôi bột hay香汗mồ hôi thơm

Chức năng che giấu: Uyển ngữ mang màu sắc mờ ảo, mang đậm tính lừa dối, vì vậy nó trở thành công cụ để cho các nhà chính trị, nhà ngoại giao cũng như vài chính khách đạt được mục đích nào đó. Ví dụ:Đi xâm lược nhưng lại nói là维护和平bảo vệ hòa bình, 开发文明khai phá văn minh

Chức năng hài hước: Trong nhiều trường hợp, sử dụng uyển ngữ có thể giúp sưởi ấm ngữ khí hoặc khiến cho ngôn ngữ trở nên nhẹ nhàng, hài hước. Ví dụ:Gọi những người đàn ông sợ vợ là 妻管严thê quản nghiêm( bị vợ quản chặt). Trong trường hợp này dùng những từ ngữ uyển chuyển nhẹ nhàng hài hước, để có thể đạt được hiệu quả tu từ cao.

1.6. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Qua những phần trình bày trên, có thể thấy, uyển ngữ là một trong những hình thức quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ để điều hòa quan hệ giao tiếp. Uyển ngữ là một hiện tượng phổ biến trong ngôn ngữ của nhân loại.


CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA UYỂN NGỮ

TIẾNG HÁN (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)




2.1. NGUYÊN TẮC CẤU TẠO UYỂN NGỮ

2.1.1. Nguyên tắc khoảng cách


Công dụng chủ yếu của uyển ngữ là thay thế một số lời khó nói ra, một cách đơn giản và cơ bản là từ ý nghĩa bên ngoài chỉ ra một khoảng cách để tránh trực tiếp nói thảng vào sự vật, tuy nhiên vẫn khiến đối tượng giao tiếp hiểu được những tín hiệu thực cảu ngôn ngữ. Ví dụ: Dùng 汗颜hãn nhan (toát mồ hôi) để biểu thị 惭愧xấu hổ. 惭愧xấu hổ là trạng thái tâm lý, xấu hổ dữ dội có thể dẫn đến xảy ra hiện tượng sinh lý như出汗toát mồ hôi, do vậy 出汗toát mồ hôi lại ngụ ý ngược lại极为惭愧xấu hổ tột cùng, là quan hệ nhân quả, cũng là một loại khoảng cách thời gian. Cách thay như thế này tạo ra một hiểu quả mang tính uyển chuyển, sẽ đạt được mục đích của uyển ngữ.

2.1.2. Nguyên tắc liên quan


Nguyên tắc liên quan yêu cầu khoảng cách giữa hai bên phải ngắn lại, khống chế trong phạm vi không ảnh hưởng đến giao tiếp.Ví dụ: Người Bắc Kinh dùng八宝山Bát Bảo Sơn (nhà tang lễ lớn nhất của thành phố Bắc Kinh) để chỉ sự tử vong. Từ này đủ để giới hạn tính chỉ hướng mà người ta liên tưởng tới, hàm xúc lại rõ ràng.

2.1.3. Nguyên tắc mơ hồ


Nguyên tắc mơ hồ là những mã số để chỉ sự vật mà người nói tránh né, cố ý dùng một khái niệm khác nhiều ý nghĩa hoặc là dùng một cách thức ngôn ngữ khác để tăng thêm nội hàm mang tính không minh xác, dùng mơ hồ để chỉ chân thực. Ví dụ: 那个đó/cái đó cố ý dùng từ xưng hô không xác định cụ thể, khiến đối tượng bị gọi tên trở lên mơ hồ không xác định, đây là cách cấu tạo thường dùng của uyển ngữ.

2.1.4. Nguyên tắc hài lòng


Từ góc độ hiệu quả xã hội và nguyên tắc hài hài lòng là nguyên tắc quan trọng nhất của cấu tạo uyển ngữ. Nó yêu cầu uyển ngữ được tạo ra trong môi trường giao tiếp lịch sự hữu hảo. Ví dụ: 怀孕mang thai được gọi là有喜 có tin vui, 光杆司令tư lệnh lẻ loi chỉ người chưa có gia đình.

2.2. ĐẶC ĐIỂM THÀNH TỐ CẤU TẠO CỦA UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN ( CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)

2.2.1. Đơn vị loại hình uyển ngữ tiếng Hán


1) Lời khéo léo: Tức là bản thân chúng mang nghĩa uyển ngữ.Ví dụ: 第三者người thứ ba, 待业chờ việc, 老女人 gái già đều là những uyển ngữ thường dùng hiện nay, nghĩa của uyển ngữ chính là nghĩa thường dùng và nghĩa gốc của từ.

2) Đoản ngữ uyển ngữ: Tức là đoản ngữ mang nghĩa uyển ngữ. Ví dụ: 成人电影phim người lớn银色浪潮sóng chiều sắc bạc,打小报告đánh báo cáo nhỏ, 踢皮球đá bóng da.



2.2.2. Phân loại cấu tạo uyển ngữ tiếng Hán ( có liên hệ với tiếng Việt)

Qua kết quả thống kê hai cuốn Từ điển uyển ngữ tiếng HánTừ điển uyển ngữ tiếng Hán thực dụng, tất cả uyển ngữ tiếng Hán có 6824 từ, trong đó, hai thành tố cấu tạo chiếm 45.88%, gần một nửa: 3131 từ; sau đó là bốn thành tố cấu tạo, chiếm 26.29%: 1794 từ; ít nhất là bảy thành tố, chỉ có 75 từ, chiếm 1.10%.



Bảng 2.3 Thống kê số lượng thành tố cấu tạo uyển ngữ tiếng Hán

Số lượng

Từ điển uyển ngữ tiếng Hán

Từ điển uyển ngữ

tiếng Hán thực dùng

Tổng

số

(%)

Một

67

29

96

1.41%

Hai

1846

1285

313

45.88%

Ba

365

238

603

8.84%

Bốn

296

1498

1794

26.29%

Năm

0

141

141

2.07%

Sáu

0

89

89

1.30%

Bẩy

0

75

75

1.10%

Tám

0

600

600

8.79%

Tám trở lên

0

295

295

4.32%

Tổng số

2574

4250

6824

100.00%



2.3. CÁC PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO CỦA UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)

2.3.1. Phương thức ngữ âm

Hài âm. Ví dụ: 杯具bēi jù (chiếc cốc) có đồng âm với từ悲剧bēi jù, nên được dùng thay thế cho từ bi kịch.


Biến âm.Ví dụ: Dân thuyền chài gọi船帆chuán fān(buồm thuyền) 船篷chuán péng, vì tránh từ fān đồng âm với từfān (lật)

2.3.2. Phương thức từ vựng


Sử dụng từ vay mượn.Ví dụ: dùng make love chỉ性生活sinh hoạt tình dục.

Sử dụng thay thế bằng từ trái nghĩa. Ví dụ: Gọi监狱nhà tù thành 福舍phúc xá hay福堂phúc đường, tức là, vào tù giống như đang hưởng phúc chứ không phải gặphọa.

Trong tiếng Việt, về phương thưc từ vựng có dùng từ vay mượn và dùng từ ngữ gần nghĩa, đồng nghĩa. Ví dụ: dùng WC (nhà vệ sinh) thay cho nhà vệ sinh, dùng từ tiếng Pháp cave để thay thế cho gái mại dâm, ngủ thay cho giao cấu; nghỉ mát thay cho đi tù; bị giảm biên chế chay cho mất việc; tình trạng thiếu việc làm thay cho nạn thất nghiệp.


2.3.3. Phương thức ngữ pháp


Sử dụng trợ từ. Ví dụ: 有了có rồi ý là 怀孕了đã có bầu rồi; 没了mất rồi với ý 死了đã chết rồi.

Sử dụng phương thức phủ định. Ví dụ: 信誉不行phẩm chất không đạt,价格不高 giá cả không cao

Sử dụng tỉnh lược. Ví dụ: 进去了đi vào rồi tỉnh lược 监狱nhà tù; 来了tới rồi tỉnh lược例假nghỉ lễ, nghỉ tháng

Trong tiếng Việt, về phương thức ngữ pháp thì có dùng trợ từ phủ định không và dùng đại từ ấy, đó.Ví dụ: không đẹp lắm thay cho xấu, không thông minh lắm thay cho ngu/dốt.


2.3.4 Phương thức tu từ


Tách từ. Ví dụ: Từsao tách ra làm 3 chữ mã thoa chùng để uyển chuyển chỉ người cử chỉ khinh đào, tác phong hạ lưu, là một từ mang nghĩa xấu, để tránh nói ác ý một cách trực tiếp. Tiếng Hán dùng bộ bên cạnh trong chữ Hán để tạo nên uyển ngữ sẽ khó phát hiện, lại rất kín đáo, mức độ uyển chuyển khá cao. Tiếng Hán dùng chữ Hán hình vuông, khác hoàn toàn với tiếng Việt là dùng chữ phiên âm.

Mượn sự vật hiện tượng để thay thế. Ví dụ: 坟墓mộ phần nói là 三尺土ba tấc đất, 一杯土một cốc đất.

Trong tiếng Việt dùng gò bồng đảo, cặp tuyết lê thay cho , dùng cuộc mây mưa thay cho giao hợp. dùng từ Tào Tháo để ám chỉ một người đa nghi, dùng Chí Phèo để hình dung một người coi thường đạo lý, bất cần đời, không biết xấu hổ.



Sử dụng ngạn ngữ, yết hậu ngữ. Ví dụ: 情人眼里出西施đẹp như Tây Thi/ trong mắt người đang yêu ai cũng đẹp như Tây Thi chỉ vợ của người nào không đẹp lắm. 脚踏两条船chân đứng hai thuyền/bắt cá hai tay ý châm biếm người không chung thủy, lá mặt lá trái.

2.3.5. Phương thức ngữ nghĩa

Sử dụng cách trần thuật nâng cao.Ví dụ: Gọi医护人员nhân viên y tá là白衣天使thiên sứ áo trắng sẽ thể hiện được sự tôn trọng, tôn kính và khẳng định tầm quan trọng của người làm công việc y tế cứu người.

Sử dụng cách trần thuật mơ hồ.Ví dụ: 那事việc đấy, 那东西cái gì đó, 那地方nơi đấy, 那个cái đấy đều là những từ có nghĩa tương đối rộng, ý nghĩa không hoàn toàn rõ ràng.

Sử dụng cách trần thuật nói vòng.Ví dụ: 空中打击 tập kích trên không biến thành积极防空tích cực phòng không, 保护性反应phản ứng mang tính bảo vệ, 防范性战争chiến tranh mang tính phòng vệ.

Sử dụng cách trần thuật đảo ngược. Ví dụ:走火tẩu hỏa hoặc失火thất hỏa có thể nói uyển chuyển thành走水tẩu thủy, vì tránh chữ hỏa nên dùng chữ trái nghĩa với nó là水thủy.

Bảng 2.4 Thống kê phương thức cấu tạo uyển ngữ tiếng Hán

Phương thức cấu tạo uyển ngữ tiếng Hán

Số lượng (3478)

%

Phương thức ngữ âm

40

1.2%

Phương thức từ vựng

670

19.2%

Phương thức ngữ pháp

53

1.6%

Phương thức tu từ

2357

68%

Phương thức ngữ nghiã

358

10%

2.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2


Qua nghiên cứu khảo sát cho thấy, cách thức cấu tạo uyển ngữ vô cùng phong phú, chỉ cần có thể thay thế ngôn từ trực tiếp mà tránh làm cho người tiếp chuyện hoặc đối tượng được đề cập đến trong ngôn ngữ cảm thấy đau buồn hay bị xúc phạm thì đều có thể cấu tạo thành uyển ngữ.

CHƯƠNG 3

ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN

( CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)




3.1. ĐẶC ĐIỂM VỀ NGHĨA CỦA UYỂN NGỮ

3.1.1. Đặc điểm nghĩa của uyển ngữ từ sự phân tích nghĩa


1) Tất cả các nghĩa của uyển ngữ đều biểu thị nghĩa uyển chuyển. Ví dụ: 弱智trí kém, 待业 đợi việc/chờ việc làm.

2) Một nghĩa của từ đa nghĩa biểu thị nghĩa uyển ngữ. Ví dụ: 小姐tiểu thư

3) Từ đa nghĩa biểu thị nghĩa uyển ngữ khác nhau. Ví dụ: 二进宫 nhị tiến cung

3.1.2. Nghĩa đánh dấu và nghĩa không đánh dấu của uyển ngữ

Uyển ngữ được đánh dấu. Ví dụ: 黄毒hoàng độc, 扫黄quét hoàng (quét sạch mọi loại sách báo, tranh ảnh, nhạc vàng, đồi trụy), 黄hoàng có ý là淫秽dâm ô, đồi trụy. 黄hoàng là hình vị cấu tạo từ của uyển ngữ được đánh dấu.

Uyển ngữ không được đánh dấu. Ví dụ: 蓝领 công nhân lao động chân tay, 成人电影 phim người lớn, 问题青年 vấn đề thanh niên… Nghĩa của uyển ngữ trên là nghĩa chính của từ ngữ, nhưng không phải là nghĩa tổ hợp của từ, tức là trong thành phần cấu tạo của các từ không bao gồm nghĩa uyển ngữ.

3.1.3. Sắc thái ngữ nghĩa của uyển ngữ

Uyển ngữ có nghĩa tốt. Ví dụ: 城市美容师người làm đẹp thành phố, 发展中国家các nước đang phát triển.

Uyển ngữ trung tính. Ví dụ: 小茶壶bình trà nhỏ, 没有自由的地方nơi không có tự do.

Uyển ngữ có nghĩa xấu. Ví dụ: 踢皮球 đá bóng da (đùn đẩy), 小儿科khoa nhi (chuyện nhỏ).

3.1.4. Sắc thái ngữ thể

Uyển ngữ có sắc thái khẩu ngữ. Ví dụ: 小灶tiểu táo (bếp nhỏ), 小金库tiểu kim khố (kho kim loại nhỏ)

Uyển ngữ có sắc thái văn viết. Ví dụ: 滑坡trượt dốc, 蓝领công nhân, 南北关系quan hệ Nam Bắc

Uyển ngữ có sắc thái trung tính. Ví dụ: 第三者 người thứ ba, 黑道con đường mờ ám, 扫黄truy quét văn hóa đồi trụy.

3.2. PHÂN LOẠI UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN VỀ MẶT NGỮ NGHĨA (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)

Theo các nội dung của uyển ngữ biểu đạt thì uyển ngữ tiếng Hán có thể chia thành rất nhiều loại. Không có khả năng khảo sát hết tất cả các loại, dưới đây chúng tôi xin tập trung vào một số loại thường gặp như sau:



3.2.1. Uyển ngữ liên quan đến sự sống của con người

Uyển ngữ về cái chết, tuổi tác, bài tiết, bệnh tật và tàn tật của con người.



3.2.2. Uyển ngữ liên quan đến đời sống tình dục của con người

Về mặt quan hệ tình dục, tính hành vi trong đời sống của con người là một hành vi rất bình thường, nhưng đa số con người cho rằng việc này là việc riêng tư và giấu kín không thể nói ra. Ví dụ: 行房事chuyện phòng the, 上床lên giường, 发生关系nảy sinh quan hệ, 同房ngủ chung phòng, 那个làm chuyện ấy. Trong Tiếng Việt, dùng quả ớt, chim, con tằm,u để chỉ sinh thực khí bé trai, dùng bướm, cái giống để chỉ của bé gái.



3.2.3. Uyển ngữ liên quan đến nghề nghiệp của con người

Trong cuộc sống có những cách gọi tên nghề nghiệp, nếu không sử dùng uyển ngữ thì sẽ làm tổn thương đến lòng tự trọng của người nghe và sẽ giảm hiệu quả giao tiếp. Ví dụ: 门卫người làm công việc gác cổng được gọi là保安人员nhân viên bảo an; 剃头的người cắt tóc được gọi là美发师người làm đẹp tóc, 形象设计师 nhà tạo mẫu hình tượng.



3.2.4. Uyển ngữ liên quan đến hoạt động kinh tế

Trong xã hội sản phẩm thương mại, quan hệ mật thiết nhất đối với cuộc sống hàng ngày của con người là kinh tế, nhưng vấn đề kinh tế luôn là vấn đề nhạy cảm. Ví dụ: 没钱không có tiền gọi là手头不方便trắng tay, 经济不好 kinh tế không tốt gọi là经济滑坡kinh tế giảm, 涨价tăng giá gọi là调价điều chỉnh giá, 救济cứu trợ gọi là 送温暖 mang đến sự ấm áp.



3.2.5. Uyển ngữ liên quan đến chính trị xã hội

Mỗi người đều sinh sống trong xã hội nhất định, cho dù mình bằng lòng hay không, cũng phải có liên hệ nhất định đến với chính trị, mà những câu phát ngôn trong chính trị, không thể tuỳ tiện nói ra. Nếu nói không khéo, sự việc không những nhẹ đi mà còn làm cho lỡ việc, nếu nặng thì còn gây họa. Ví dụ:开除bị sa thải gọi là炒鱿鱼nướng cá mực, 暴乱bạo loạn gọi là社会动荡xã hội xao động.


3.3. HÀM Ý VĂN HÓA CỦA UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN( CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)


3.3.1. Những đặc trưng văn hóa Trung Hoa được bộc lộ qua uyển ngữ tiếng Hán

Đặc trưng văn hóa tôn ti, thứ bậc; quan niệm sinh sống; quan niệm trung dung hài hòa; tư tưởng tôn giáo đều được bộc lộ qua uyển ngữ tiếng Hán.

3.3.2. Quan niệm giống nhau về văn hóa của uyển ngữ tiếng Hán và tiếng Việt

Uyển ngữ là phép tu từ được truyền tải rất nhiều văn hóa, là cái gương phản ánh văn hóa. Một số quan niệm giống nhau về văn hóa trong uyển ngữ tiếng Hán và tiếng Việt: Quan niệm đẳng cấp cái chết và quan niệm giá trị, quan niệm bệnh tật, quan niệm bài tiết, quan niệm đời sống tình dục, quan niệm nghề nghiệp, quan niệm khác nhau về văn hóa của uyển ngữ tiếng Hán và tiếng Việt



3.3.3. Quan niệm khác biệt về văn hóa của uyển ngữ tiếng Hán và tiếng Việt

Khác biệt của tôn giáo tín ngưỡng: Tôn giáo tín ngưỡng là một phần quan trọng trong sinh hoạt xã hội của con người, đồng thời nó cũng được thể hiện trong ngôn ngữ. Uyển ngữ của quốc gia khác nhau có thể biểu hiện ra sự thừa hưởng và ảnh hưởng của tôn giáo, cũng sẽ luôn luôn xuất hiện các sắc thái tôn giáo khác nhau do các bối cảnh tôn giáo khác nhau.

Khác biệt về nhận thức: Uyển ngữ có nghĩa tương đồng, từ uyển ngữ biểu đạt khác nhau thì cũng tồn tại sự khác biệt về nhận thức trong văn hóa ngôn ngữ Hán Việt. Giống nhau là dùng uyển ngữ chuyển dụ tư duy tạo ra, giống nhau là thay thế cái chết, tình dục, nhưng nhận thức khác nhau đã lựa chọn biểu đạt khác nhau.

Khác biệt của bối cảnh văn hóa: Uyển ngữ tiếng Hán và tiếng Việt khác nhau là vì chúng có mối quan hệ mật thiết với các yếu tố như truyền thống văn hóa dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng.

Khác biệt của tập tục xã hội: Do tiếng Hán và tiếng Việt là ngôn ngữ của hai dân tộc khác nhau nên uyển ngữ của hai nước cũng tồn tại sự khác biệt nhất định. Bản thân ngôn ngữ có dấu ấn văn hóa sâu sắc, cho nên con người của các quốc gia khác nhau cũng có sự khác biệt trên phương diện sử dụng uyển ngữ.

3.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3


Trong chương này chúng tôi tiến hành nghiên cứu khảo sát đặc điểm nghĩa của uyển ngữ, chỉ ra được sự chuyển hóa thành nghĩa uyển ngữ của các từ đa nghĩa; phân loại uyển ngữ theo nội dung ngữ nghĩa và sự phản ánh đặc điểm văn hóa xã hội của uyển ngữ thông qua nghĩ mà chúng thể hiện. Trong chừng mực nhất định, chúng tôi cũng đã đối chiếu với nghĩa của uyển ngữ tiếng Việt. Nhờ đó, có thể chỉ ra được đặc trưng văn hóa dân tộc được phản ánh trong uyển ngữ.

CHƯƠNG 4

ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CỦA UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN

( CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)



4.1. NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG UYỂN NGỮ

4.1.1. Nguyên tắc cộng tác hội thoại

Nguyên tắc cộng tác được tạo thành từ bốn tiêu chuẩn, bốn tiêu chuẩn yêu cầu người nói phải nói thật, ngắn gọn chính xác, không hàm hồ lạc đề.



4.1.2. Nguyên tắc lịch sự

Nguyên tắc lịch sự là một nguyên tắc chủ yếu của con người cần phải tuân thủ thường xuyên trong giao tiếp, vì nó đã thể hiện, giữ gìn được địa vị ngang hàng giữa hai bên giao tiếp và quan hệ hữu hảo giữa họ.



4.1.3. Nguyên tắc tự bảo vệ mình

Nguyên tắc tự bảo vệ mình là trong quá trình giao tiếp ngôn ngữ, chủ thể gioa tiếp để bảo vệ lợi ích của mình, giữ gìn tôn nghiêm của mình, chú ý sỹ diện cho mình nên đã cố gắng ngôn từ tốt đẹp để miêu tả mình hoặc người hoặc sự việc có liên quan đến mình.



4.2. NHÂN TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỬ DỤNG UYỂN NGỮ

4.2.1 Ngữ cảnh

Ngữ cảnh là một nhân tố quan trọng trong việc giải thích uyển ngữ; xa rời ngữ cảnh nhất định để lựa chọn cách biểu đạt uyển ngữ có thể sẽ gây ra sai lầm, làm cho hai bên giao tiếp khó xử.



4.2.2. Giới tính

Sự khác nhau về tâm lý giới tính mặc nhiên cũng là một nhân tố không dễ coi thường ảnh hưởng đến việc sử dụng và lý giải uyển ngữ. Sử dụng uyển ngữ trở thành thủ đoạn trong phong thái tự thể hiện mình và giữ sỹ diện cho người khác của nữ giới.



4.2.3. Tuổi tác

Sử dụng uyển ngữ cũng chịu ảnh hưởng của nhân tố tuổi tác, như: việc sử dụng uyển ngữ của trẻ nhỏ và người lớn không giống nhau; việc sử dụng uyển ngữ của thanh niên và người có tuổi cũng không giống nhau.



4.2.4. Địa vị xã hội

Địa vị xã hội và quan hệ nhận vật của người tham gia giao tiếp cũng đã quyết định có cần sử dụng uyển ngữ hay không. Nhìn chung, người có địa vị quyền thế càng thấp thì càng sử dụng nhiều uyển ngữ.



4.2.5. Hoàn cảnh xã hội

Trong trường hợp chính thức, con người càng nghiêng về việc sử dụng uyển ngữ. Trong giao tiếp bên ngoài, khi con người có ý kiến khác nhau, sẽ không trực tiếp nói ra cách nghĩ của mình.



4.3. TRƯỜNG HỢP SỬ DỤNG UYỂN NGỮ

Khi để thêu dệt khiến người khác ghét hoặc những sự việc đáng sợ; khi có một số từ ngữ mang ý nghĩa phản diện hoặc tiêu cực; khi muốn che giấu chân tướng sự thật hoặc mâu thuẫn xã hội;khi người nói không muốn hứa mà lại không muốn vì thế mà bị trách cứ; khi muốn làm cho một sự việc khiến người khác không vui hoặc khiến họ mất đi tôn nghiêm trở nên tốt đẹp hơn



4.4. MỘT SỐ LĨNH VỰC THƯỜNG SỬ DỤNG UYỂN NGỮ

Trong lĩnh vực sinh hoạt thường ngày, kinh tế xã hội, quan hệ quốc tế và ngoại giao thường sử dụng uyển ngữ.



4.5. Mức độ, phạm vi sử dụng uyển ngữ

Uyển ngữ được sử dụng nhiều trong giao tiếp khác giới, trong giới trí thức, giữa cấp trên và cấp dưới, trong lĩnh vực chính trị và khoa học xã hội.



4.6. Điểm giống nhau và khác nhau về việc sử dụng uyển ngữ tiếng Hán và tiếng Việt

4.6.1. Điểm giống nhau

Trong quá trình tìm hiểu và tiến hành khảo sát sử dụng uyển ngữ tiếng Hán và tiếng Việt trong tác phẩm Hồng Lâu Mộng, chúng tôi đã tìm được những từ uyển ngữ tương đương hoàn toàn về mặt cấu tạo từ cũng như ngữ nghĩa. Trong tổng số 30 từ uyển ngữ trong Hồng Lâu Mộng, chúng tôi tìm được 17 từ, ngữ khi sử dụng uyển ngữ tiếng Hán và tiếng Việt có tìm được từ, và nét nghĩa tương đương, chiếm 57%. Và nó được thể hiện như sau:



Uyển ngữ tiếng Hán

Tương đương trong tiếng Việt

老太太事

việc của cụ

没了

mất rồi

宾天

quy tiên

升仙

thành quả tiên

未必熬得过年去

chưa chắc đã chịu nổi hết năm nay

有喜

tin mừng

咽气

tắt thở

那件东西

cái ấy

云雨

mây mưa

寿终归地府

tuổi già về nơi địa phủ

抱屈夭风流

sớm chết oan vì tội phong lưu

薨逝

đã mất

殉主登太虚

theo chủ lên chầu trời

赴冥曹

xuống âm phủ

仙逝

tạ thế

捐馆

từ trần

夭逝黄泉路

thác xuống cõi Hoàng Tuyền

Uyển ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt trong các phạm vi như cái chết, bệnh tật, giới tính, nghề nghiệp và sinh hoạt của phụ nữ ...tương đối giống nhau. Gần như những cách nói trong tiếng Hán có thì trong tiếng Việt cũng có những từ ngữ, cách nói tương đồng. Sở dĩ có sự tương đồng về uyển ngữ giữa hai ngôn ngữ là vì phần lớn uyển ngữ của tiếng Việt đều có nguồn gốc từ tiếng Hán.

4.6.2. Điểm khác nhau

Do sự khác biệt về phương diện văn hóa, lịch sử ...giữa hai dân tộc Trung Việt, nên uyển ngữ trong hai ngôn ngữ, không tương đồng về số lượng, đối tượng sử dụng, hình tượng so sánh cũng như sắc thái tình cảm.

Trong quá trình tìm hiểu và tiến hành khảo sát việc sử dụng uyển ngữ tiếng Hán và tiếng Việt trong tác phẩm Hồng Lâu Mộng, chúng tôi tìm được những từ ngữ cũng như nghĩa của uyển ngữ tiếng Hán và tiếng Việt không tương đương hoàn toàn. Sự không tương đương đó được thể hiện như sau:


Uyển ngữ tiếng Hán

Không tương đương tiếng Việt

人事

biết mùi đời

后事

đồ làm ma

一疾而终

ốm chết

返元真

trở về cõi lạc

服满

xong tang

小犬

cháu

走了水

bị cháy

起来

đi ngoài

插花惹草

khêu ong gợi bướm

圆房

làm lễ thành hôn

爬灰

ba hôi

见喜

tốt

要有个长短

lỡ có mệnh hệ nào


4.7. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4

Trong quá trình giao tiếp, sử dụng uyển ngữ có thể làm cho người nghe cảm giác thấy thoải mái, thân thiện, lễ toàn chu đáo. Sử dụng uyển ngữ hoàn toàn phù hợp với những chuẩn tắc này, nếu sử dụng uyển ngữ không đúng hoặc sử dụng lời nói quá thẳng thắn không coi trọng uyển ngữ đều vi phạm nguyên tắc lễ phép.


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ


Thông qua những phân tích trong luận án, chúng tôi xin tổng kết một số điều như sau:

-Những kết quả đạt được trong luận án



Trước hết, luận án đã giới thiệu tổng quát về tình hình nghiên cứu uyển ngữ, đã xác định khái niệm của uyển ngữ. Uyển ngữ là một thủ pháp quan trọng trong sử dụng ngôn ngữ làm hài hòa các quan hệ giao tiếp của con người. Uyển ngữ là từ hoặc ngữ được sử dụng thay thế những từ ngữ đươc coi là chưa nhã nhặn, quá trực tiếp, dung tục, chướng tai gai mắt hay thô thiển trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Uyển ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ xuất hiện ở hầu khắp các ngôn ngữ của các dân tộc trong quá trình giao tiếp.

Thứ hai, luận án đã phân tích đặc điểm cấu tạo của uyển ngữ tiếng Hán (có liên hệ với tiếng Việt), nêu ra phương thức cấu tạo uyển ngữ tiếng Hán có đối chiếu với tiếng Việt. Ngôn ngữ là một cách thức biểu hiện, truyền đạt của tư duy, đồng thời cũng là cách chi phối, biến đổi tư duy và hành vi của con người. Tư tưởng, tình cảm … của con người đều phải thông qua ngôn ngữ để nói rõ và truyền đạt, để biểu đạt rõ ràng tư tưởng của mình, phải lựa chọn phương thức thích hợp, thỏa đáng trong vô số hình thức của ngôn ngữ, đó là cách thức rất quan trọng.

Thứ ba, luận án đã phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của uyển ngữ tiêng Hán (có liên hệ với tiếng Việt). Uyển ngữ không chỉ là một loại hiện tượng ngôn ngữ tồn tại phổ biển trong xã hội nhân loại mà còn là một hiện tượng văn hóa, là một biểu hiện của văn hóa trong ngôn ngữ. Gắn với bối cảnh văn hóa, lịch sử, uyển ngữ như một tấm gương, phản ánh ra các tâm lý dân tộc và sự khác biệt văn hóa, phản ánh các quan điểm giá trị, quan điểm đạo đức lý luận của một dân tộc.

Thứ tư, luận án đã phân tích đặc điểm sử dụng uyển ngữ trong tiếng Hán(có liên hệ với tiếng Việt). Uyển ngữ là một phương thức quan trọng sử dụng ngôn ngữ để điều tiết quan hệ giữa con người với con người, là một hiện tượng phổ biến trong ngôn ngữ nhân loại, nó có trách nhiệm “bôi trơn” giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày. Với vai trò là một hiện tượng ngôn ngữ, có nguồn gốc sâu xa từ ngữ cảnh, uyển ngữ được sử dụng rộng rãi ở tất cả các tầng lớp xã hội, do vậy, mỗi người không ít thì nhiều đều sử dụng uyển ngữ.

Thông qua nhưng nghiên cứu của luận án và tiếp thu những thành quả nghiên cứu, chúng tôi muốn khẳng định một số quan điểm như sau:



1. Vai trò của việc sử dụng uyển ngữ đối với một chủ thể.

Con người vốn là tổng hòa các quan hệ xã hội, hết sức phức tạp. Về trình độ kiến thức, học vấn của mỗi con người trong xã hội đều khác nhau, do đó cách tiếp nhận thông tin của họ cũng rất khác nhau, khi một sự kiện, vấn đề chuyển tải đến thì khả năng tiếp nhận của mỗi người cũng khác nhau, có người thích nịnh, thích nghe những lời nói nhẹ nhàng đường mật, họ không thích nghe những lời nói thẳng nói thật (Thuốc đắng giã tật, nói thật mất lòng), cho nên trong những trường hợp này người ta thường phải sử dụng các phương pháp tu từ; một trong những cách đó là uyển ngữ để chuyển tải thông tin mà khi dùng uyển ngữ thì các thông điệp chuyển tải tới ngươì nghe thường có tác dụng hơn, bởi “ Nói ngọt thì lọt đến xương”, nên người nghe cảm thấy dễ chịu, thoải mái, nên tránh được sự phản ứng gay gắt, sinh ra giận dữ từ người nghe. Sẽ không có tác dụng điều chỉnh hành vi, đôi khi hiểu lầm dẫn đến xung đột.

Người việt thường có câu: Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Dùng uyển ngữ chính là đang đáp ứng được yêu cầu này, cho nên, uyển ngữ có tác dụng điểu chỉnh hành vi và nhân cách của người được tiếp nhận thông tin, ví dụ muốn phê bình hay đóng góp ý kiến cho một người cụ thể thì người đóng góp và phê bình thường phải sử dụng phương pháp tu từ hay còn gọi là uyển ngữ để thể hiện các thông điệp muốn đóng góp cho người nghe nhằm thay đổi hành vi, tránh được sự tự ái, cáu bẳn, tức giận.

2. Vai trò của uyển ngữ đối với đời sống báo chí

Như chúng ta đã biết, báo chí có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy xã hội phát triển, báo chí có tác dụng cổ động, tuyên truyền đến toàn thể công chúng, cho nên không thể lúc nào cũng dùng những ngôn ngữ cứng nhắc để biểu đạt thông tin; người làm báo đôi khi cũng cần phải cân nhắc lựa chọn những từ ngữ phù hợp mang tính đại chúng, dễ hiểu, dễ nghe và dễ nhớ - đặc biệt là phù hợp với tầng văn hóa của từng bộ phận công chúng để họ dễ tiếp thu những thông điệp mà nhà báo muốn gửi gắm, cho nên chỉ có thể dùng uyển ngữ thì mới có thể chuyển tải thông điệp đến công chúng một cách hiệu quả. Báo chí muốn phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến nhân dân thì không thể sử dụng ngôn ngữ mang tính chất hành chính, khô cứng mang tính mệnh lệnh mà đòi hỏi mỗi nhà báo phải sử dụng thành thạo uyển ngữ để chuyển tải các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước tới từng công dân, có như vậy mới tạo ra được hiểu quả tiếp nhận thông tin, tạo phản biện dư luận xã hội để mọi công dân sống và làm việc theo pháp luật và phát huy những nhân tố tích cực của bản thân để đóng góp cho sự phát triển xã hội.



3. Vai trò của uyển ngữ với đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội

Xuất phát từ tác dụng to lớn của việc sử dụng uyển ngữ, khi đưa ra các đường lối kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể, các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, các chính khách, các chuyên gia kinh kế, xã hội, các luật sư… cũng cần phải sử dụng uyển ngữ trong phát ngôn cũng như trong các nhận định, phân tích, đánh giá hay khi đưa ra các giải pháp để tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội.



4. Vai trò của uyển ngữ trong đường lối ngoại giao

Trong ngoại giao, uyển ngữ được sử dụng đa dạng, phong phú thể hiện qua giao tiếp, đối thoại trực tiếp, đàm phán, hay gửi công hàm hoặc trong khi gặp gỡ xã giao, tiếp kiến, hội kiến giữa lãnh tụ của các quốc gia với nhau thì không thể dùng những ngôn từ mang tính phổ thông mà phải chú ý đến bản sắc văn hóa của từng quốc gia mà lựa chọn ngôn từ để biểu đạt để đạt được mục đích tối thượng của từng quốc gia, cho nên phải lựa chọn ngôn ngữ đặc trưng, phải dùng đến uyển ngữ để thể hiện, nó phụ thuộc vào từng vấn đề hay từng lĩnh vực mà hai bên đang cần quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay hết sức phức tạp trong việc xâm lấn chủ quyền quốc gia của nhau thì sự không rõ ràng về lịch sử biên giới lãnh thổ cũng như các tranh chấp về biển đông giữa các quốc gia tại các vùng chồng lấn thì bắc buộc phải sử dụng uyển ngữ trong bối cảnh lịch sử cụ thể cũng như diễn tiến cụ thể trong từng giai đoạn để thể hiện quan điểm của mỗi bên, chỉ có thể uyển ngữ mới có thể biểu đạt được tư tưởng của mỗi quốc gia mà vẫn giữ được độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Không làm mất đi tình hữu nghị của các quốc gia dân tộc. Tránh được sự căng thẳng và xung đột leo thang. Nói như vậy uyển ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong đường lối ngoại giao. Tùy vào tình hình cụ thể để biểu đạt cho phù hợp.



5. Vai trò của uyển ngữ đối với giáo dục

Xuất phát từ việc sử dụng linh hoạt uyển ngữ tạo hiệu quả trong cơ chế chuyển tải thông tin cho các đối tượng trong xã hội thì uyển ngữ có tác dụng quan trọng đối với việc giao tiếp trong giáo dục. Bởi trong đời sống xã hội có rất nhiều giai tầng khác nhau với các lứa tuổi và gia đình khác nhau, nhu cầu giao tiếp hay tiếp nhận thông tin cũng rất khác nhau bởi rào cản về tâm sinh lí cũng rất khác nhau, cho nên sử dụng linh hoạt uyển chuyển uyển ngữ là rất quan trọng. Tiếng Việt có câu: “Không dùng dao mổ trâu để giết gà”, cho nên phải thuộc vào trình độ kiến thức của một bộ phận công chúng mà truyền đạt kiến thức hay giáo dục, thuyết phục. Phải sử dụng uyển ngữ để chuyển tải thông tin một cách hiệu quả. Khác với tầng lớp người lao động có trình độ nhận thức hạn chế. Đối với từng lứa tuổi hay giới tính thì khi dùng uyển ngữ cũng phải phù hợp với tâm sinh lý, nếp nghĩ, hay sự tư duy của họ để biểu đạt các thông tin một cách tường minh.

Tóm lại, uyển ngữ là một biện pháp tu từ, một sự lựa chọn trong ngôn ngữ của mỗi quốc gia của mỗi dân tộc, uyển ngữ trong tiếng Hán có liên hệ với tiếng Việt không nằm ngoài qũy đạo đó, cho nên trong bất luận ở mỗi lĩnh vực nào thì người ta đều phải sự dụng một cách linh hoạt và uyển chuyển trong mỗi quan hệ giao tiếp, cũng như văn phong để chuyển tải bất kỳ một thông điệp nào liên quan đến từng lính vực kinh tế chính trị văn hóa xã hội đến đối tượng công chúng để đạt được hiệu quả của thông tin. Trong bất cứ một quốc gia nào thì ngôn ngữ là sự biểu đạt về văn hóa giao tiếp, nó được thể hiện phong phú đa dạng trong tất cả các lĩnh vực về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội.

- Kiến nghị những hướng nghiên cứu tiếp theo

Tuy rằng luận án đã nghiên cứu một cách hệ thống đặc điểm của uyển ngữ trong tiếng Hán(có liên hệ với tiếng Việt), góp phần làm rõ về mặt lí luận uyển ngữ, góp phần vào nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội, có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, ngôn ngữ và tâm lý dân tộc và vấn đề giao tiếp ngôn ngữ theo hướng dân tộc học giao tiếp. Nhưng với khuôn khổ của một luận án tiến sĩ, chắc chắn không thể đề cập đến mọi mặt của vấn đề. Chúng tôi thấy rằng, vẫn có một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu thêm.

Trước hết, tiếp tục nghiên cứu thêm phương pháp cấu tạo uyền ngữ, phân tích động thái của uyển ngữ, chú trọng vào một phương diện nhất định của uyển ngữ, nghiên cứu của những người tiếp xúc trực tiếp với uyển ngữ.

Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu, trọng điểm, thật sự nổi bật, tiến hành nghiên cứu một cách tỉ mỉ về một phương diện nào đó của uyển ngữ.

Thứ ba, cố gắng làm cuốn sách chuyên nghiên cứu về uyển ngữ.

Cuối cùng, chúng tôi xin mạn phép sui nghĩ rằng, nghiên cứu uyển ngữ là những đề tài nghiên cứu đang phát triển. Do trình độ của chúng tôi còn có nhiều hạn chế, luận án chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy những ý kiến đóng góp của các thầy cô, những người đi trước cũng như các đồng nghiệp cho luận án sẽ là vô cùng quý giá để vấn đề nghiên cứu trong luận án càng được hòan thiện, góp phần vào việc xây dựng ngôn ngữ học đối chiếu.



DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Hà Hội Tiên (2013), Phân tích đặc điểm uyển ngữ về cái chết trong tiếng Hán và tiếng Việt,Tạp chí Nghiên cứu giáo dục môn học( 3), tr108.

2. Hà Hội Tiên(2013), Uyển ngữ và chức năng giao tiếp của uyển ngữ, Từ điển học & Bách khoa thư(5), tr88-93.



3. Hà Hội Tiên(2013), Đối chiếu uyển ngữ cái chết và chuyển dịch uyển ngữ tiếng Hán và tiếng Việt,Tạp chí Học viện Hồng Hà(5), tr57-59.





Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương