ChưƠng : TỔng quan về chất thải nguy hại giới thiệu chung



tải về 270.05 Kb.
trang4/8
Chuyển đổi dữ liệu31.10.2017
Kích270.05 Kb.
1   2   3   4   5   6   7   8

2.2. Các loại hình công nghiệp chính.


Quận Hà Đông là nơi tập trung nhiều cơ sở sản xuất của nhiều ngành công nghiệp khác nhau với quy mô sản xuất vừa và nhỏ, chỉ một số công ty nhà nước, công ty liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài có quy mô sản xuất lớn dây chuyền công nghệ hiên đại, khép kín. Các cơ sở sản xuất này được các cấp lãnh đạo của tỉnh Thành phố Hà Nội tạo điều kiện hoạt động và phát triển. Nó giúp cho địa phương giải quyết một lượng lớn lao động tại chỗ, cải thiện nhiều mặt trong đời sống kinh tế xã hội, đóng góp vào ngân sách nhà nước một nguồn thu quan trọng.

Sau đây là một số loại hình sản xuất đang hoạt động trên địa bàn Quận Hà Đông và các vùng phụ cận:

- Ngành XNCN cơ khí, chế tạo máy.

- Ngành XNCN phân bón, hóa chất, dược phẩm.

- Ngành XNCN da, giày và dệt nhuộm.

- Ngành XNCN sản xuất vật liệu xây dựng.

- Ngành XNCN giấy và các sản phẩm giấy.

- Ngành XNCN chế biến lương thực thực phẩm.

- Ngành chế biến gỗ.

- Nhóm XNCN điện và điện tử.


2.3. Các ngành công nghiệp sản sinh chất thải nguy hại.


Sau khi khảo sát sơ bộ tình hình hoạt động công nghiệp của một số ngành sản xuất công nghiệp của Quận Hà Đông chúng tôi lựa chọn lại trong các ngành sản xuất kể trên chỉ có một số ngành có tiềm năng phát sinh chất thải nguy hại lớn. Các cơ sở của các ngành còn lại ít có khả năng phát sinh CTNH nên chúng tôi loại khỏi đối tượng phát sinh chất thải nguy hại. Tuy nhiên đối với ngành chế biến lương thực thực phẩm nói chung là ít phát sinh chất thải nguy hại trừ những công ty lớn như Cocacola, Liên hợp Thực Phẩm Thàn phố Hà Nội.... do đó các công ty này vẫn trong danh sách những đơn vị phát sinh CTNH. Sau đây là những ngành công nghiệp phát sinh chất thải nguy hại:

- Nhóm ngành XNCN cơ khí, chế tạo máy.

- Nhóm ngành XNCN dệt nhuôm và giầy da

- Nhóm ngành XNCN hoá chất, dược phẩm, pôlime.

- Nhóm ngành XNCN Giấy và các sản phẩm của giấy.

- Nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm.

- Nhóm ngành VLXD.

2.3.1 Nhóm ngành cơ khí:


Ngành cơ khí Thành phố Hà Nội có quy mô rất đa dạng có nhiều xí nghiệp cơ khí quốc doanh và nhiều xí nghiệp ngoài quốc doanh, ngoài ra còn có các hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp cơ khí. Gần đây có thêm các cơ sở sản xuất cơ khí vốn đầu tư nước ngoài. Các sản phẩm cơ khí chế tạo máy bao gồm: thiết bị ngành cơ khí chế tạo máy, thiết bị gia công công nghiệp, thiết bị chế biến nông nghiệp, thiết bị chế biến công nghiệp, thiết bị chế biến nông sản, thiết bị chế biến nông sản, thiết bị giao thông vận tải, thiết bị luyện kim, dầu mỏ và thiết bị điện. Công nghệ chế tạo cơ khí Thành phố Hà Nội được đánh giá là đơn giản và lạc hậu. Hầu hết là các công nghệ từ những năm 1960-1970 và không có sự thay đổi hay nâng cấp.

Ngành cơ khí và luyện kim của nói chung là ít chất thải nguy hại. Chủ yếu là khâu công nghệ mạ xử lý bề mặt. Ngành mạ điện sử dụng nhiều loại hoá chất dạng muối kim loại độc tính cao như :CrO3, CdCl2, MnCl2, NaCN… Nước thải từ khâu mạ điện và xử lý bề mặt noi chung có chứa kim loại nặng như : Cr, Ni, Zn và các độ tố như CN-, dầu khoáng và độ acid hoặc kiềm cao. Do các cơ sở mạ không có sự phân doang tốt khí từ công đoạn mạ sẽ bay vào không khí gây ại trực tiếp đến sức khoẻ người lao động. Tại một số cơ sở nghiên cứu việc trang bị quạt máy chưa được quan tâm nên nồng độ hơi acid như HCl, H2CrO4, hơi xút từ các bể xử lý, đánh bóng điện hoá và các bể mạ là vượt tiêu chuẩn quy định.

Các công đoạn mạ trong khu vực mạ chủ yếu tác động đến người công nhân qua da. Riêng trường hợp mạ Crôm hơi dung dịnh Crom có nồng độ cao sẽ thông qua đường hô hấp tác động xấu đến người lao động. (Crom là chất độc gây hại đến thần kinh và mang đặc tính gây ung thư. Hơi Kẽm hay muối Kẽm gây triệu chứng đau dầu, sốt… Công đoạn xử lý bề mặt khác như sơn, nhuộm tại các cơ sở cơ khí còng là nguồn gây ô nhiễm. Công nghệ nhuộm trong công nghiệp cơ khí về bản chất còng giống như công nghệ mạ điện, tuy nhiên có điểm khác là có sử dụng hóa chất màu công nghiệp. Vật liệu sơn về bản chất hoá học là các hợp chất cao phân tử và figment (màu). Vật liệu sơn màu sẽ được pha thành dung dịch sơn có độ nhớt nhất định bằng dung môi. Dung môi phổ biến là xăng công nghiệp , white spirit, Toluen, Xylen, TCE (trichloroethylene), MEK ( methyl ethyl ketone), DOP (dyoctyl phthalate), Ethyl acetate. Như vậy vật liệu sơn hay dung môi đều độc hại cho môi trường.

Ngành cơ khí, chế tạo máy là nơi sử dụng nhiều công đoạn hàn kim loại. Hàn điện là quá trình làm nóng chảy kim loại và các chất trợ dung hàn. Chất trợ dung bao gồm những chất ôxit kim loại như ZnO, MnO, PbO các ôxyt kim loại này trong quá trình hàn sẽ bay hơi vào không khí gây tác hại đến sức khoẻ người lao động. Ngành luyện kim đáng chú ý là khâu công nghệ luyện bằng hoá chất (chủ yếu là cyanua).Cyanua sử dụng chủ yếu là NaCN hay KCN đây là chất độc cho môi trường , sức khoẻ của người lao động đặc biệt là hệ thuỷ sinh. Do trình độ quản lý là kem hiệu quả nên các chất gây hại này có nồng độ vượt tiêu chuẩn ở những nơi sản xuất. Trong công nghệ khai thác và chế biến kim loại màu cần lưu ý đến bụi kim loại trong quá trình nghiền. Đặc biệt là quặng Asen sẽ rất độc hại.

Trong ngành luyện kim một công đoạn quan trọng trong công nghệ là luyện cốc. Than cần phải luyện cốc để có chất lượng tốt hơn trong quá trình luyên kim. Trong quá trình cốc tạo ra các hydrôcarbon mạch vòng : phênol, benzen, xylen, cyanua.

2.3.2 Nhóm ngành giày da và dệt nhuộm.


Công nghiệp sản xuất gày dép là một hướng sản xuất mới trong cơ cấu công nghiệp của tỉnh Thàn phố Hà Nội. Để sản xuất các loại giầy (vải, thể thao, thời trang) các cơ sở phải dùng đến rất nhiều loại nguyên liệu độc tính cao đối với sức khỏe người công nhân (ví du: dung môi hữu cơ, keo dán). Lượng chất thải nguy hại này thuộc dạng khó phân hủy, kích thước lớn ví dụ như đế cao su, cao su phế liệu, mảnh vụn, ba via, xốp, bụi hữu cơ (khâu mài đế, keo dán đóng cục.

Ngành dệt nhuộm sử dụng hoá chất chủ yếu ở công đoạn nhuộm sợi vải. Thuốc nhuộm thường có những loại sau: lưu hoá, trực tiếp, bazơ, axit, hoạt tính hoàn nguyên. Thuốc nhuộm là những hợp chất hữu cơ mạch vòng khá phức tạp (cơ bản là những hợp chất thuộc dãy polyaromatic). Một số loại thuốc nhuộm không tan trong nước nên cần phải có thêm những loại dung môi để hoà tan làm tăng nguy cơ nhiễm hoá chất cho công nhân.

Về bản chất quá trình nhuộm là thực hiện những phản ứng hoá học giữa vật liệu nhuộm và vật liệu in trên hoặc trong lỗ xốp của sợi vải. Các hoá chất nhuộm có tính phân tán cao trong nước. Do mức độ gắn kết giữa vải in và mực in không cao nên thất thoát chất nhuộm in vào môi trường lao động là rất lớn. Điều này có thể thấy qua chỉ số COD rất cao từ nước thải của công ty nhuộm ( 600 – 1200 mg/l). Trong dây chuyền nhuộm , tẩy còn có khả năng phát sinh từ các quá trình chuẩn bị thuốc nhuộm hay mực in.

2.3.3 Nhóm ngành hoá chất và sản phẩm hoá chất


Các loại hình công nghiệp phổ biến:

  • Hoá chất vô cơ cơ bản

  • Phân bón hoá học

  • Ngành sơn, véc ni

  • Cao su, nhựa

  • Chất tẩy rửa và đồ Mỹ Nghệ

  • Acquy và pin

  • Thuốc trừ sâu

  • Khí công nghiệp

  • Dược

Ngành sản xuất sơn, Véc ni và dầu bóng:

Các loại chất nguy hại:

- Các loại nhựa gốc ankin resine, epxy, uretan

- Các loại bột mầu: tytan, ôxit sắt…

- Các loại chất độn: CaCO3,Talc, BaSO4…

Các loại chất phụ gia Các chất trên là những chất hữu cơ phức tạp và người sản xuất chưa hiểu biết được hết tính năng của nó.

Sản xuất sơn dù là sơn từ thực vật hay sơn tổng hợp đều có thể gây dị ứng rất lớn. Dung môi của Sơn là những dung môi mạnh mới có khả năng hoà tan chất hữu cơ phức tạp.

Các loại chất độc ở nhiều dạng:



  • Hơi dung môi ở nhiệt độ thường.

  • Các hạt phân tán kích thước nhỏ.

  • Các hơi dầu thực vật có tính ki chs thích hay dị ứng cao. Các dung môi mạnh đặc biệt nguy hiểm do chủ yếu là ở dạng benzen như Benzen, ylen, Toluen, Dibutyl.. có tính cấp tính và lâu dài.

Ngành sản phẩm Cao Su:

Các cơ sở sản xuất cao su, chất thải nguy hại phát sinh từ trong quá trình lưu hóa cao su , gia công ... Những hoá chất và phụ gia trong quá trình hình thành sản phẩm bao gồm:



  • Lưu huỳnh : là á kim tồn tại dưới dạng bột không tan trong nước, dễ bốc cháy dễ thăng hoa trong điều kiện tự nhiên.

  • Các chất làm tăng tốc độ lưu hoá (chiếm khoảng 0,62-0,64% lượng cao su) về cơ bản là những chất có dạng amin hay carbamat hữu cơ mạch vòng. Các hợp chất này tồn tại ở dạng bột rắn và có mùi đặc trưng.

  • Các chất độn và dầu hoá dẻo, chất làm mềm axit Stiaric, chát chống tự lưu( chiếm khoảng 20% lượng cao su). Chất độn quan trọng sử dụng với khối lượng lớn và tác động lên sức khỏe của môi trường nhiều nhất là muội than đen. Muội than có đặc trưng rất mịn và nhẹ nên gây ô nhiễm môi trường không khí.

  • Nguyên liệu hoá chất ở dạng lỏng là xăng công nghệ (chiếm 2,5% so với tổng lượng cao su).

  • Hiện nay ở các công ty sản xuất sản phẩm cao su khâu tháo và lắp khuôn còn ở mức thủ công do đó người công nhân phải tiếp xúc trực tiếp với khí thoát ra từ quá trình lưu hoá. Toàn bộ lượng dung môi sẽ thoát vào môi trường lao động nếu không có một kiến trúc công trình hợp lý thì lượng dung môi tác động trực tiếp đến người lao động.

  • Do lượng sử dụng hoá chất này cao nên khả năng ô nhiễm với công nhân là rất lớn.

2.3.4 Nhóm ngành giấy và bột giấy:


Công nghệ sản xuất giấy và bột giấy Thành phố Hà Nội ở trình độ thấp và chậm phát triển. Trong công nghiệp giấy thì nước thải là nguồn ô nhiễm chủ yếu. Hầu hết sự ô nhiễm của các chất đều xuất phát từ chất thải.

Công nghệ Kraft là công nghệ được áp dụng hầu hết các cơ sở sản xuất bột giấy ở Việt Nam. Trong công nghệ này sản sinh ra dung dịc đen là dung dịch chứa hoá chất nấu, các h/c hữu cơ hoà tan trong môi trường nấu, xút, muối sunfit hay sunfat vòng dẫn xuất của lignin.


2.3.5 Ngành chế biến lương thực:


Ngành chế biến lương thực thực phẩm, nước giải khát hầu như không phát sinh ra chất thải nguy hại. Tuy nhiên nhiều quá trình phụ trợ để phục vụ dây chuyền sản xuất có phát từ chất thải

sinh chất thải nguy hại như nồi hơi, trạm biến thế, máy lạnh ... thải ra các dầu bôi trơn, dầu biến thế, dầu khoáng thải... do đó phải quản lý CTNH ngành này. Hình


2.3.6 Ngành sản xuất vật liệu xây dựng và các ngành khác:


Ngành vật liệu xây dựng ở Thành phố Hà Nội chủ yếu có các nhóm sản phẩm đáng quan tâm về hoá chất như sau: Sứ vệ sinh và trang trí, chủ yếu sử dụng nguyên liệu SiO2 và felsfat được nghiền rất nhỏ là nguồn phát tán bụi vào phổi; vật liệu màu rất đa dạng, và chủ yếu là màu vô cơ, thí dụu : oxyt của Zn, Zr, Se, Pb… là nguồn phát tán chất ô nhiễm vào trong không khí.

Vật liệu tấm lợp hiện nay một số còn sử dụng amiăng dưới dạng sợi crisotin là loại bị cám sử dụng. Công nghệ amiăng rất đơn giản (trôn hở) nên rất dễ phân tán vào môi trường.




1   2   3   4   5   6   7   8


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương