Cơ HỌc lý thuyếT



tải về 132.5 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu10.04.2019
Kích132.5 Kb.

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VÀ ĐÁNH GIÁ HỌC PHẦN “CƠ HỌC LÝ THUYẾT”
KS. Dương Đình Hảo

Bộ môn Cơ học - Vật liệu - Khoa Xây dựng

1. Đặt vấn đề

Theo chương trình giáo dục đại học xây dựng cho từng ngành mới được hoàn chỉnh và cách thức đào tạo theo tín chỉ thì các học phần cơ học đã bị cắt giảm rất nhiều về thời gian nhưng nội dung lại không giảm. Hơn nữa, trong năm học này Nhà trường chủ trương cho các cá nhân và Bộ môn tự đánh giá và tổ chức thi cử các học phần do BM quản lý là một trong những việc làm mới và cũng đã gây ra khá nhiều khó khăn trong công tác tổ chức.



Bảng 1: Một số học phần Cơ học đã được rút gọn về số tín chỉ

TT

Tên học phần

Số đvht đào tạo theo niên chế

Số TC đào tạo theo học chế tín chỉ

1

Cơ học lý thuyết

6

3

2

Sức bền vật liệu

6

3

3

Thực hành sức bền vật liệu

1

4

Phương pháp PTHH

3

2

5

Cơ học chất lỏng

4

3

6

Cơ học ứng dụng

4

3

Vấn đề đặt ra là cần bố trí giảng dạy, phương pháp dạy, cách thức đánh giá như thế nào để phù hợp với những thay đổi trên mà vẫn đảm bảo yêu cầu đặt ra cho các học phần trong chương trình giáo dục và đáp ứng tốt nhất chuẩn đầu ra của từng ngành. Báo cáo sẽ đề xuất một số giải pháp cụ thể để thực hiện trong thời gian tới đối với người dạy và người học được áp dụng trong học phần “Cơ học lý thuyết” để thỏa mãn vấn đề này.

2. Giải quyết vấn đề

2.1 Phương pháp giảng dạy

2.1.1 Một số phương pháp giảng dạy tích cực

- Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề: là dạy học dựa trên các vấn đề thực tiễn có liên quan đến người học và liên quan đến nội dung học tập đã được quy định trong “chuẩn kiến thức, kỹ năng”. Trên cơ sở đó, người học tự chiếm lĩnh tri thức và phát triển các năng lực như lập kế hoạch, tự định hướng học tập, hợp tác, các kỹ năng tư duy bậc cao, kỹ năng sống.

- Dạy học theo nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó người học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác lẫn nhau.

- Dạy học thông qua việc làm đồ án môn học là việc xây dựng một vấn đề gần gũi với cuộc sống (nhu cầu, sự thiếu hụt, mâu thuẫn về nhận thức xã hội, mong muốn tìm ra một điều gì mới mẻ,…) hoặc từ người dạy hoặc cũng có thể là từ người học (cá nhân xây dựng hoặc một tập thể).



2.1.2 Lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp

a. Đặc điểm của học phần “Cơ học lý thuyết”:

- Khối lượng kiến thức lý thuyết và bài tập rất nặng.

- Số TC của học phần khá thấp 3TC.

- Một trong những học phần cơ sở ngành rất quan trọng đặc biệt cho nhóm ngành: Xây dựng, Kỹ thuật tàu thủy, Kỹ thuật ô tô, Chế tạo máy.

- Là một trong những môn cơ sở của khối Kỹ thuật nên số lượng sinh viên không nhiều.

- Liên quan đến nhiều vấn đề trong thực tế.



b. Giải quyết vấn đề theo nhóm, một phương pháp giảng dạy thích hợp:

Có nhiều phương pháp giảng dạy tích cực, tuy nhiên việc áp dụng phương pháp Giải quyết vấn đề theo nhóm có nhiều ưu điểm rất phù hợp với những đặc điểm của học phần đã trình bày ở trên:

- Giải quyết được một số hiện tượng trong thực tế: điều này sẽ tạo động lực và sự hứng thú trong lòng người học. Đặc biệt đối với học phần có nhiều kiến thức lý thuyết thì phương pháp này sẽ làm cho người học đỡ nhàm chán hơn.

- Người học được rèn luyện các kỹ năng cần thiết: thông qua hoạt động tìm kiếm thông tin và lý giải vấn đề của cá nhân và tập thể, người học được rèn luyện thói quen/kỹ năng đọc tài liệu, phương pháp tư duy khoa học, tranh luận khoa học, diễn thuyết trước tập thể… Đây là những kỹ năng rất quan trọng cho người học đối với công việc sau này của họ.

- Phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập: để giải quyết được vấn đề, người học phải tự tìm tòi, tư duy và sau đó là hợp tác với nhóm để giải quyết được công việc.

- Giúp người học nhớ kiến thức rất lâu: vì mỗi kiến thức có liên quan đến một hiện tượng nên việc liên hệ giữa kiến thức và hiện tượng là rất dễ nhớ. Sinh viên chỉ cần thấy hiện tượng đó thì có thể nghĩ ngay đến kiến thức mình học trong phần đó là những gì.

- Thực hiện được khối lượng bài tập rất lớn: việc chia nhóm sẽ giúp người học có thể giải quyết được nhiều bài tập mà một người không thể giải quyết hết được bằng cách chia sẻ công việc lẫn nhau trong nhóm.

- Người dạy không ngừng nâng cao kiến thức: để chuẩn bị tốt cho buổi học thì người dạy phải tìm kiếm nhiều hiện tượng có liên quan đến kiến thức và đưa ra những mối liên hệ hợp lý. Vì vậy, người dạy phải luôn tự tìm tòi và nâng cao kiến thức của mình thì mới có khả năng đáp ứng được yêu cầy đặt ra.



c. Áp dụng phương pháp này vào học phần “Cơ học lý thuyết”:

Vào đầu học kỳ, người dạy sẽ cho lớp tự chia nhóm với nhau. Trên cơ sở tự nguyện của mỗi người. Số lượng mỗi nhóm không quá 10 SV. Công việc của mỗi nhóm gồm: thảo luận trên lớp, giải bài tập và hoàn thành một bài tập lớn được giảng viên cho sau mỗi chủ đề. Trong giờ học các nhóm sẽ luôn ngồi với nhau và sẵn sàng thảo luận khi giảng viên đưa ra một vấn đề.

Nội dung của học phần được chia ra làm 11 chủ đề như sau:

1. Các khái niệm cơ bản trong tĩnh học

2. Hệ lực và các phép thu gọn hệ lực

3. Điều kiện cân bằng của hệ lực

4. Ma sát

5. Đặc trưng hình học

6. Động học điểm

7. Động học vật rắn

8. Hợp chuyển động của điểm và vật rắn

9. Các định luật Newton

10. Các định lý tổng quát động lực học

11. Các nguyên lý cơ học

Mỗi một chủ đề, người dạy luôn đưa ra những tình huống trong thực tế có liên quan đến nội dung kiến thức sẽ được học. Nhiệm vụ của người học là tìm hiểu và đưa ra những lý giải hợp lý vận dụng vào những kiến thức đó.

Để làm rõ hơn, tôi xin đưa một ví dụ điển hình như sau: khi dạy đến vấn đề 8: “Hợp chuyển động của điểm và vật rắn”, người dạy đưa ra một số hiện tượng như sau:





Hình 1: Bài toán qua sông

Tại sao khi sang sông từ A đến B trong trường hợp này ta không chèo thuyền theo hướng AB mà phải lệch một góc ? Độ lớn  phải bằng bao nhiêu để nó đến được ở B?





Hình 2: Bài toán nhìn mưa rơi
Tại sao trong lúc đi xe ta thường thấy hạt mưa bị lệch theo phương đứng một góc mặc dù trời không có gió?

Còn khi trời có gió, ta đi theo chiều gió thì ta thấy hạt mưa có phương như thế nào? Còn khi đi ngược gió thì thế nào?





Hình 3: Cơn bão Isabel gây thiệt hại nặng nề nhất về người và của ở Mỹ năm 2003



Hình 4: Cơn bão này được các phi hành gia trên trạm vũ trụ quốc tế ISS chụp lại hôm 27/3/2004 khi nó đổ vào bang Catarina của Brazil.

Tại sao hai cơn bão này có chiều xoáy khác nhau? Vậy lực nào khiến nó có chiều khác nhau như vậy?

Để giải quyết được những hiện tượng này người dạy sẽ cung cấp cho người học một số kiến thức liên quan, sau các nhóm sẽ thảo luận trong khoảng 15 phút trước khi trình bày những quan điểm của nhóm.

Ngoài ra trong giờ giải bài tập, các nhóm cũng sẽ tự trình bày bài giải của mình để cho các nhóm khác nhận xét. Để tránh tình trạng các nhóm ăn theo một người, giảng viên sẽ gọi bất kỳ thành viên nào của nhóm để giải và trình bày. Việc đánh giá cá nhân đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhóm. Do vậy, các nhóm sẽ tự trao đổi và chia sẽ lẫn nhau.

Phương pháp này đã được áp dụng đối với lớp 53NL và kết quả cũng rất khả quan. Sinh viên đều rất hứng thú trong việc học, trong giờ giải bài tập tỏ ra rất sôi động và hiệu quả.

2.2 Phương pháp đánh giá

2.2.1 Mục đích của việc đánh giá học phần

Đánh giá học phần nhằm mục đích khảo sát và ghi nhận mức độ về kiến thức và kĩ năng của SV đạt được đối với môn học. Đánh giá học phần không nhằm tuyển chọn những SV xuất sắc nhất và cũng không nhằm tuyển chọn đủ chỉ tiêu theo yêu cầu đặt ra.



2.2.2 Lựa chọn hình thức đánh giá học phần

Có rất nhiều hình thức để đánh giá như: thi tự luận, vấn đáp, trắc nghiệm, làm tiểu luận, đồ án… Tuy nhiên, để tiết kiệm thời gian cũng như tính chính xác, minh bạch thì việc hỏi vấn đáp mang lại hiệu quả tốt nhất.

Một số ưu điểm của việc thi vấn đáp:

- Có thể kiểm tra được kiến thức toàn diện của sinh viên.

- Sinh viên có thể phản ứng nhanh với các tình huống.

- Giảng viên có thể trực tiếp kiểm tra kiến thức của sinh viên.

- Tạo được sự công bằng trong kì thi tránh được gian lận.

- Tỉ lệ tự đào thải cao.

- Giúp cho sinh viên hiểu bài tốt hơn, tránh tình trạng học thuộc, học tủ.

2.2.3 Áp dụng phương pháp đánh giá vào học phần “Cơ học lý thuyết”

Việc đánh giá được chia ra làm hai cột điểm có trọng số 50% - 50%. Đó là điểm quá trình và điểm thi kết thúc học phần.



a. Cách đánh giá điểm quá trình:

Điểm quá trình là điểm số được tích lũy trong suốt thời gian bắt đầu cho đến khi kết thúc học phần. Do vậy việc đánh giá cũng phải rất tỉ mỉ và được chia ra các trọng số ở bảng sau:



Bảng 2: Đánh giá điểm quá trình (50%)

TT

Các chỉ tiêu đánh giá

Phương pháp đánh giá

Trọng số

(%)

1

Tham gia học trên lớp:

  • Đi học đầy đủ, đúng giờ

  • Chuẩn bị bài tốt

Các nhóm tự điểm danh và báo cáo lại cho giảng viên

5

2

Tự nghiên cứu:

  • Hoàn thiện bài tập lớn theo nhóm gồm 3 bài tập của 3 phần: Tĩnh học, Động học và Động lực học

  • Đọc tài liệu và có trao đổi với giảng viên




  • Chấm bài tập

  • Trao đổi trực tiếp hay trên email điện tử

15

3

Hoạt động nhóm:

  • Tích cực tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến

  • Đặt những câu hỏi hay

  • Giải bài tập trên lớp

  • Dựa vào thảo luận của nhóm

  • Dựa vào kết quả và mức độ hiểu bài

15

4

Kiểm tra bài 1: Tĩnh học

Tự luận

5

5

Kiểm tra bài 2: Động học

Tự luận

5

6

Kiểm tra bài 3: Động lực học

Tự luận

5

Trước khi thi kết thúc học phần, giảng viên sẽ tổng kết lại điểm quá trình mà sinh viên viên đã tích lũy được thông qua một bảng điểm và công bố cho sinh viên biết. Nếu sinh viên nào có khiếu nại thì sẽ khiếu nại công khai tại lớp. Sau đây là bảng trích từ bảng điểm của lớp 53CTM mà tôi đã áp dụng:

Bảng 3: Bảng tổng hợp điểm quá trình

TT

Maõ SV

Hoï Teân SV

Ngaøy sinh

Lôùp

Điểm kiểm tra

Đ.

CC

Ñ. HT

Ñ. Baøi taäp

ĐQT

1

2

3

1

2

3

1

52132091

Nguyeãn Thanh Bình

27/11/1992

52XD-2

8.50

6.50

7.50

10

0.0

8.84

8.27

8.00

7.3

2

53130108

Nguyeãn Troïng Bình

12/02/1992

53.CTM

8.00

6.75

8.00

10

7.0

9.34

8.15

8.50

8.1

3

52132092

Ngoâ Ñình Chaâu

14/05/1992

52XD-2

8.00

7.00

6.50

10

7.0

7.84

7.77

8.50

7.7

4

50130142

Phan Vaên Chaâu

20/11/1990

50NL

6.50

5.50

5.50

8

0.0

6.13

8.19

0.00

5.0

5

53130173

Vöông Minh Chaâu

16/08/1993

53.CTM

3.50

3.50

 0.00

5

0.0

7.76

 0.00

0.00

2.3

6

53130195

Traàn Vaên Chieán

11/06/1993

53.CTM

7.50

3.50

6.00

10

7.0

7.76

8.00

8.00

6.9

7

53130131

Tröông Ñöùc Coâng

06/07/1990

53.CTM

3.50

5.75

6.00

10

7.0

7.92

7.88

8.10

6.6

8

53130133

Voõ Chí Coâng

03/02/1993

53.CTM

3.50

6.25

8.50

10

0.0

7.61

8.38

8.30

6.3

9

53130241

Phaïm Ñaêng Dieän

22/12/1993

53.CTM

7.50

7.50

6.00

10

9.0

9.50

7.42

8.00

7.9

10

52132097

Leâ Quang Döông

07/08/1991

52XD-2

8.00

5.50

4.00

10

0.0

8.26

7.15

7.70

6.0

11

51161008

Buøi Vaên Ñaøn

16/08/1990

CTT51

3.00

6.50

6.00

0

0.0

6.63

6.37

7.60

4.5

12

51132116

Leâ Ñoan

29/07/1990

51DT-1

 0.0

2.00

6.00

8

0.0

 0.0

8.88

8.80

3.9

Trong những cột điểm này, nếu sinh viên nào không thực hiện thì sẽ bị 0 điểm cột đó.

b. Thi kết thúc học phần bằng hình thức thi vấn đáp:

Hiện tại học phần Cơ học lý thuyết có 3 nội dung lớn đó là: Tĩnh học, động học và động lực học. Do vậy cấu trúc của đề thi sẽ có 3 câu tương ứng với 3 phần. Như vậy sinh viên sẽ không thể học tủ được.

Đầu học kỳ giảng viên sẽ đưa ra hình thức thi, cách thi và cách sinh viên trả lời. Vì đây là hình thức vấn đáp nên có một số quy định như sau:


  • Thời gian sinh viên chuẩn bị trước khi trả lời là 15 phút.

  • Thời gian vấn đáp tối đa là 15ph/SV.

  • Sinh viên có thể vấn đáp ngay nếu như cảm thấy mình đã làm được bài.

  • Không cần làm bài đầy đủ như thi tự luận mà chỉ cần đưa ra phương pháp giải, hiểu được bài và nhớ một số công thức để áp dụng tính toán.

  • Nếu trả lời đúng được tất cả 3 câu hỏi trong đề thi thì điểm tối đa là 8.0 và được phép trả lời thêm 2 câu hỏi phụ, mỗi câu 1 điểm. Nếu sai câu đầu tiên thì câu thứ 2 không được phép trả lời.

  • Sinh viên sẽ được biết kết quả thi ngay tại chỗ.

  • Vì điểm quá trình và điểm thi đã biết trước nên sinh viên sẽ phúc khảo ngay tại chỗ nếu có yêu cầu. Không được phúc khảo sau thi, trừ trường hợp giảng viên hoặc giáo vụ vào nhầm điểm.

Những quy định và hình thức thi này tôi đã áp dụng rất thành công ở các khóa K52 và K53. Sinh viên cảm thấy rất phấn khích và theo tôi khảo sát thì sinh viên luôn muốn thi theo hình thức này, đặc biệt là những sinh viên hiểu bài tốt, khả năng viết chữ xấu, kỹ năng trình bày tự luận thấp.

Tuy nhiên, các hình thức trước đây tôi áp dụng là hình thức thi đề đóng. Vì vậy, theo ý kiến của sinh viên thì trong những năm học tới tôi sẽ tổ chức thi với dạng đề mở, để tránh tình trạng sinh viên bị quá tải trong khi ôn thi, đồng thời nâng cao kỹ năng trả lời vấn đáp cũng như sự hiểu bài của sinh viên.



4. Kết luận và đề xuất

4.1 Kết luận

Qua thống kê và theo dõi, tôi nhận thấy rằng khi áp dụng phương pháp giảng dạy và đánh giá trên trên với những lớp K52 và K53 kết quả là phần lớn sinh viên đều hứng thú hơn trong giờ học và thể hiện kết quả học tập cao hơn nhiều năm trước.

Để tăng thêm động lực học tập và ý nghĩa của từng nội dung, tất cả các bài tập mà tôi giao cho sinh viên đều rất thực tế và sinh động. Đó là những kết cấu, máy móc và tình huống diễn ra trong thực tế, nó rất gần gũi với đời sống hàng ngày. Nó không phải là một mô hình tính toán thông thường nên không thể khô khan và khó trừu tượng được. Sinh viên muốn tính toán phải chuyển nó từ mô hình thực tế sang mô hình tính toán, đây là việc làm rất bổ ích mà sinh viên sẽ trải nghiệm sau này với công việc.

4.2 Đề xuất

- Vì đây là một trong những học phần cơ sở ngành rất quan trọng trong khi số lượng kiến thức và bài tập rất lớn nên trong quá trình phân chia học phần, cơ học lý thuyết phải được học trước các học phần như: sức bền vật liệu, cơ học kết cấu… không thể học chung 1 học kỳ. Đặc biệt là chuyên ngành Xây dựng, các lớp thường học chung một học kỳ cả môn cơ học lý thuyết và sức bền vật liệu, điều này dẫn đến sinh viên bị quá tải mà chất lượng lại không có.

- Để áp dụng PP này có hiệu quả, giáo vụ phân chia phòng học nên xem số lượng sinh viên. Những lớp đông thì cho phòng học rộng rãi để dễ dàng tổ chức lớp học.

- Do đây là hình thức đào tạo tín chỉ nên một lớp học nếu đông quá thì có thể tách ra làm hai lớp để có kết quả tốt hơn. Số lượng sinh viên tốt nhất không nên quá 60 SV/lớp.


Tài liệu tham khảo
[1] Lê Văn Hảo, Sổ tay phương pháp giảng dạy và đánh giá, trường Đại học Nha Trang, 2010.

[2] Nguyễn Văn Ba, tham luận “Dạy và học đối với các học phần cơ học cho phù hợp với hệ thống đào tạo theo tín chỉ và chương trình giáo dục đại học mới hoàn chỉnh”, Đại học Nha Trang, 2011.

[3] Trần Hưng Trà, tham luận “Những hạn chế khi giảng dạy theo nhóm các môn cơ học” , Đại học Nha Trang, 2011.

[4] Phan Văn Tiến, tham luận “Đổi mới phương pháp giảng dạy và phương pháp đánh giá phù hợp hiệu quả”, Đại học Nha Trang.



[5] Hibbeler, Engineering Mechanics, Pearson Prentice Hall, 2010.





Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương