Báo cáo kết quả học tập tại Australia



tải về 42.71 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu30.12.2018
Kích42.71 Kb.

Báo cáo kết quả học tập tại Australia

Đinh Thị Bảo Hương, M.A

Khoa Tiếng Anh-Đại học Hà nội

Lời mở đầu

Vào cuối năm 2004, tôi đệ đơn xin Học bổng Phát triển của Chính phủ Australia (gọi tắt là Học bổng ADS), và đã được chấp thuận. Vào tháng 6 năm 2005, sau khi hoàn tất mọi thủ tục, tôi bắt đầu khóa học Khóa học Thạc sỹ tại Khoa Giáo dục, trường Đại học Monash, Melbourne, Australia. Khóa học mà tôi theo học kéo dài 1 năm rưỡi, và vì nhóm ngành tôi được cấp học bổng là Giáo dục Đào tạo Từ xa, khóa học Thạc sỹ của tôi là Thạc sỹ Giáo dục (Ứng dụng Công nghệ thông tin và Truyền thông trong Giáo dục).

Trước khi bắt đầu khóa học, thời gian còn ở Việt nam chuẩn bị cho khóa học ở bên Úc, tôi rất băn khoăn không rõ là với một giáo viên tiếng Anh như tôi, tôi sẽ làm thế nào để theo học được, hướng nghiên cứu của tôi sẽ là gì, liệu tôi có phải học lập trình hay không, liệu tôi có thể từ một giáo viên tiếng Anh chuyển thành một lập trình viên hay không, và nếu phải như vậy thì tôi sẽ phải làm gì trong khi kiến thức về công nghệ thông tin của tôi cũng chỉ là biết cách sử dụng một số ứng dụng của công nghệ thông tin như check mail, tìm kiếm thông tin trên mạng, sử dụng một số phần mềm thông dụng để soạn thảo văn bản, v.v…

Khi tôi bắt đầu khóa học, trong lớp tôi cũng có một số lập trình viên, và rất nhiều các bạn sinh viên quốc tế có những nghề khác nhau, cũng có một số là giáo viên tiếng Anh đến từ Trung Quốc, và các bạn cũng có cùng băn khoăn như tôi. Nhưng ngay từ học kỳ đầu tiên, chúng tôi đã được hướng dẫn chọn hướng nghiên cứu của mình. Chúng tôi hiểu rằng, chúng tôi sẽ được học nguyên tắc ứng dụng công nghệ thông tin vào giáo dục nói chung, và chúng tôi với tư cách là giáo viên, sẽ làm việc chặt chẽ với một đội ngũ lập trình viên để cùng ứng dụng thông tin vào giảng dạy. Lý do của nguyên tắc cơ bản này là giáo viên là những người nắm vững lý thuyết về học tập (learning theories), giáo viên sẽ viết nội dung các phần mềm giảng dạy; còn các lập trình viên là những người nắm vững về công nghệ và ngôn ngữ để có thể cụ thể hóa những nội dung do giáo viên “đặt hàng”. Tất nhiên ở đây không thể thiếu vai trò của nhà lãnh đạo, những nhà hoạch định chính sách cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục. Tuy nhiên, với tư cách là một giáo viên, tôi sẽ chỉ đề cập đến vai trò của giáo viên trong bài viết này.



Các nội dung chính của khóa học và khả năng ứng dụng ( nếu có thể) của những kiến thức mà tôi được học vào bối cảnh trường Đại học Hà nội và khoa tiếng Anh
Như đã đề cập đến ở trên, do tôi là giáo viên tiếng Anh và theo học khóa học về Ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông, tôi đã quyết định tập trung nghiên cứu theo hướng Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào giảng dạy tiếng Anh. Trong thời điểm hiện tại, khi nói đến công nghệ là nói đến máy tính, và trong lĩnh vực nghiên cứu của mình, tôi cũng chọn sử dụng máy tính trong học Ngoại ngữ ( tiếng Anh là Computer-Assisted-Language-Learning - CALL). Dưới đây là một số nội dung chính của khóa học.


  1. Đánh giá các phần mềm giảng dạy (educational software evaluation)

1.1. Cách đánh giá phần mềm giảng dạy

Có hai cách chính để đánh giá các phần mềm giảng dạy, đó là đánh giá các phần mềm trong quá trình phát triển các phần mềm đó (tiếng Anh gọi là formative evaluation), và đánh giá các phần mềm trong quá trình giảng dạy (tiếng Anh gọi là summative evaluation). Formative evaluation tương đương với quá trình chạy thử các phần mềm trước khi chúng được đưa ra thị trường bằng cách lấy ý kiến của các lập trình viên, các giáo viên và các đối tượng sử dụng thử phần mềm đó, rồi sau đó có những điều chỉnh thích hợp cho đến khi sản phẩm hoàn thiện nhất. Còn formative evaluation là khi phần mềm đã được đưa vào giảng dạy, có thể thu thập số liệu từ giáo viên và học viên, những người trực tiếp sử dụng phần mềm nhất định để đánh giá hiệu quả của phần mềm đó, từ đó đưa ra những điều chỉnh thích hơp để có thể khai thác tối đa những ưu thế của phần mềm đó trong giảng dạy, hoặc có thể loại bỏ phần mềm đó ra khỏi chương trình giảng dạy để thay bằng phần mềm khác có hiệu quả hơn.

Các hình thức đánh giá phần mềm giảng dạy phổ biến có các hình thức như dùng số (numerial ratings), dùng bản câu hỏi (questionnaire), phương pháp quan sát và phỏng vấn hoặc dùng checklist (Hanewald, 2006 & Reeder et al., 2004). Tuy nhiên, hình thức đánh giá phần mềm thông dụng nhất là sử dụng checklist (Heller, 1991 & Reeder et al., 2004). Checklist này có thể được làm theo mẫu sẵn, hoặc do những ngưòi có trách nhiệm đảm nhận thiết kế. Dưới đây là ví dụ minh họa của một checklist trong việc đánh giá phần mềm giảng dạy tiếng Anh do một giáo viên tiếng Anh thiết kế.
EVALUATION CHECKLIST
Software title……………………… Producer………………….

Topics: Business performances

Required hardware: Microsoft PCs, headphones, speakers and microphones

Evaluator:……………………. Position: EFL teacher

Purpose: to adjust learning

where applicable Date: ……………………

Target learners: 2nd year students

Age: mostly 20

Characteristics: young and dynamic, no fear of mistake

English: intermediate

Language development: integrated English language skills

Skill development: problem solving skills

--------------------------------------------------------------------------------------------

Please tick appropriate items:


A. Learning objectives

 1. The software offers business English.

 2. The software develops problem solving skills.

(If no tick, proceed to other software)
B. Content

B1. Language skills

 1. Authentic communication is provided.

 2. Various business contexts are offered.


B2. Tutorials

 1. New language and knowledge are manageable by students.



  • 2. Student comprehension is checked frequently.

B3. Drills and practice

 1. Language items are program generated.


  • 2. The software can check student grasp of language principles and forms.

B4. Problem solving skills

 1. Students can think creatively.

 2. The software facilitates student’s decision making skills.

 3. Student’s problem solving approach can be tracked.

 4. Simulations and hypothesis testing are included.

 5. A variety of business contexts are provided.

 6. Several solutions are presented to a particular problem.


C. Presentation

 1. Topics are business related.

 2. English language taught is formal.

 3. Knowledge presentation conforms to Bloom’s taxonomy.

 4. Screen layout is clear.

 5. Colors and sounds are used to explain business concepts.

 6. Colors and sounds are not used to discourage students.

 7. Students can understand different types of diagrams.

 8. Students can use common types of diagram in English.

 9. Spelling is correct.

 10. Grammar is correct.


  • 11. Students can practise vocabulary in different contexts.

  • 12. Students can practise grammar in various business situations.



D. Feedback

 1. Feedback is positive and constructive.

 2. Feedback language is prompting.

 3. Responses are clear and immediate.

 4. Timer is always on.

 5. Feedback clearly explains why student responses are correct or incorrect.



E. Navigation

 1. Help options are easy to navigate.

 2. Students can control sequence of instructions

 3. Students can move quickly or slowly.

 4. Students can skip materials already mastered.

 5. Students have access to record keeping system



F. Documentation

 1. Hardware requirements are included in manual guide.

 2. The manual guide does not have technical terms.

1.2.Tính ứng dụng của việc đánh giá phần mềm giảng dạy vào bối cảnh của khoa Tiếng Anh nói riêng và trường Đại học Hà nội nói chung
Trường Đại học Hà nội hiện tại đang sử dụng phần mềm dạy học tiếng Anh English Discovery (ED) and English Discovery On line (EDO) cho sinh viên chính quy kỳ 1 và kỳ 2 (Lịch trình giảng dạy khoa Tiếng Anh, 2006), cho sinh viên hệ Tại chức và sinh viên hệ Đào tạo từ xa. Tại Khoa tiếng Anh, Tổ Thực hành tiếng đảm nhận việc dạy tiếng với ED cho sinh viên năm thứ nhất. Việc giảng dạy này được bắt đầu từ tháng 9/2006 và đã kéo dài được hai kỳ. Cuối kỳ hai năm học 2006-2007 đã có một số thông tin phản hồi về phần mềm này từ sinh viên qua phiếu đánh giá toàn kỳ. Tuy nhiên, thông tin phản hồi về riêng phần mềm ED còn lẻ tẻ vì đánh giá của sinh viên nằm trong đánh giá chung về tất cả các kỹ năng.

Trong tương lai gần, trong quá trình sử dụng phần mềm ED, có thể đánh giá hiệu quả của ED theo hai phía, phía giáo viên và phía học viên. Ví dụ, đối với giáo viên, có thể dùng checklist (xem phần trên) với các mục để giáo viên đánh dấu vào. Đối với sinh viên, có thể dùng experimental research (nghiên cứu thực nghiệm), trong đó một nhóm sinh viên thí nghiệm (experimental group) sẽ sử dụng sách New Headway và học nghe trên lớp, một nhóm sinh viên khác (control group) sẽ học ED và nghe trên lớp. Sau khi hết một học kỳ, có thể so sánh điểm bình quân của hai nhóm sinh viên (mean scores) của các môn, từ đó có thể đưa ra kết luận ban đầu về tính hiệu quả của phần mềm này, từ đó có những điều chỉnh phù hợp.

Nếu việc đánh giá có hiệu quả, mô hình đánh giá ở khoa tiếng Anh có thể được phổ biến cho các cơ sở Đào tạo Tại chức và Từ xa, có cân nhắc đến đặc điểm riêng của người học tại các cơ sở này.


  1. Cách thiết kế một phần mềm giảng dạy đứng từ góc độ giáo viên

2.1. Những điều cần cân nhắc chung

Trong việc thiết kế một phần mềm để dạy học, cần phải cân nhắc đến đặc điểm của người học, những vấn đề về môi trường học tập của những đối tượng đó (Holkner, 2006). Sau đó, người thiết kế phải tính đến lý thuyết học tập phù hợp với nội dung học của phần mềm này.



2.2. Thiết kế về nội dung của một phần mềm giảng dạy

Khi thiết kế nội dung của phần mềm, phải chú ý đầu tiên đến nội dung học. Ví dụ đối với phần mềm dạy tiếng Anh cho sinh viên học tiếng Anh như là một Ngoại ngữ, yếu tố Tình huống thực (Authentic context) phải được đặt lên hàng đầu (Egbert, Chao & Hanson-Smith,1999). Cùng với nó, những bài tập cho sinh viên cũng phải có ý nghĩa thực tiễn.

Đánh giá/chấm điểm sinh viên cũng là một yếu tố người thiết kế cần quan tâm (Boyle, 1997). Tuy nhiên, hiện tại đang có sự tranh luận về phương pháp đánh giá bởi theo một số chuyên gia “việc đánh giá có thể nằm trong bản thân việc học viên hoàn thành bài tập trong toàn bộ phần mềm” (Cunningham, 1991, trang.112, được trích trong sách của Boyle, 1997, trang.98).

Thiết kế chung của một phần mềm bao gồm cách trình bày, giao diện với người học cũng phải được người thiết kế lưu tâm, cũng như việc người sử dụng có thể di chuyển (navigate) dễ dàng giữa các phần của phần mềm hay không.


2.3. Tính ứng dụng của thiết kế phần mềm giảng dạy vào bối cảnh Khoa tiếng Anh và trường Đại học Hà nội nói chung

Hiện tại, trường Đại học Hà Nội và Khoa tiếng Anh có một đội ngũ giáo viên được đào tạo cơ bản, và có sự hợp tác của các chuyên gia nước ngoài là người bản xứ. Hơn thế nữa, trường cũng có một đội ngũ nhân viên kỹ thuật, có thể làm việc chặt chẽ với giáo viên. Nếu được quan tâm,trong tương lai, một số dự án nhỏ như thiết kế CD ROM tự học phát âm, hoặc kỹ năng Nghe, Nói cho sinh viên có thể được triển khai. Nếu thành công, có thể thương mại hóa việc sản xuất CD dạy tiếng Anh để nâng cao thu nhập cho giáo viên và nhân viên trong trường.



Kết luận
Trên đây là một số nội dung chính của khóa học Thạc sỹ Giáo dục tôi theo học tại Khoa Giáo dục, trường Đại học Tổng hợp Monash, Melbourne, Australia. Tôi rất mong trong tương lai có được cơ hội để sử dụng những kiến thức mà tôi học được để phục vụ cho sự nghiệp giảng dạy của khoa tiếng Anh và trường Đại học Hà nội.


Tài liệu tham khảo
Boyle, T (1997). Design for multimedia learning. New York: Prentice Hall

Hanewald, R. (2006). EDF 6444: Lecture Notes. Melbourne: Monash University.

Heller, R., S. (1991). Evaluating software: a review of options. Computers and Education, 17(4).

Holkner, B. (2006). EDF 6441: Study Guide. Melbourne: Monash University



Reeder, K., Heift, T., Roche, J., Tabyanian, S., Schlickau, S., & Gloelz, P. (2004). Toward a theory of e/valuation for second language learning media. In S. Fotos & C. Browne, M. (Eds.), New Perspectives on CALL for Second Language Classrooms. New Jersey: Lawrence Erlbraum Associates Publishers.





Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương