BàI 1: CÁc khái niệm cơ BẢn về MÁy tíNH



tải về 186.3 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu20.01.2019
Kích186.3 Kb.
  1   2   3

1.ĐỀ MỤC 1: Khái niệm về mạng, giới thiệu mạng Internet.


Sau khi hoàn thành nội dung này, người sử dụng nắm được:

  • Các khái niệm về mạng: Mạng cục bộ (LAN); Mạng diện rộng; Mạng Internet; Mạng Intranet; Mạng Extranet.

  • Tổng quan về Internet.

  • Trình duyệt Internet Explorer (IE).
    1. Khái niệm về mạng.


Mạng máy tính hay hệ thống mạng (computer network hay network system), được thiết lập khi có từ 2 máy vi tính trở lên kết nối với nhau bằng cáp truyền dữ liệu hoặc 3G, 4G, Wimax để chia sẻ tài nguyên qua mạng như máy in, thiết bị lưu trữ, chương trình ứng dụng. Tăng tính hiệu quả, an toàn, tin cậy khi khai thác dữ liệu lưu trữ trên máy tính như hình 1.



Hình 1: Mô hình mạng máy tính.
      1. Mạng cục bộ (LAN).


Mạng khởi đầu với quy mô rất nhỏ, với khoảng 10 máy tính và một máy in được kết nối với nhau. Khi công nghệ mạng còn hạn chế, thì số lượng máy tính cũng như khoảng cách vật lý mà mạng bao phủ cũng còn bị hạn chế. Chẳng hạn, ở những năm đầu thập kỷ 80, phương pháp lắp đặt cáp phổ biến nhất nên chỉ cho phép chừng 30 máy, với chiều dài cáp tối đa khoảng 183m như hình 2.


Hình 2: Mô hình mạng cục bộ (Lan).

Mạng cục bộ (LAN- Local Area Network) là một loại mạng máy tính được cài đặt trong phạm vi địa lý nhỏ, chẳng hạn một toà nhà, trường học, công sở v.v. Khoảng cách lớn nhất giữa các máy tính trong mạng khoảng trên dưới 100m. Mạng cục bộ được chia làm 2 loại:

- Mạng ngang hàng (Peer-to-Peer) còn gọi là mạng đồng đẳng, là một mạng máy tính trong đó hoạt động của mạng chủ yếu dựa vào khả năng tính toán và băng thông của các máy tham gia, chứ không tập trung vào một số nhỏ các máy chủ trung tâm như các mạng thông thường. Mạng đồng đẳng thường được sử dụng để kết nối các máy thông qua một lượng kết nối dạng tuỳ biến. Mạng đồng đẳng có nhiều ứng dụng, ứng dụng thường xuyên gặp nhất là chia sẻ tệp tin, tất cả các dạng như âm thanh, hình ảnh, dữ liệu,... hoặc để truyền dữ liệu thời gian thực như điện thoại VoIP như hình 3.



Hình 3: Mô hình mạng ngang hàng (Peer-to-Peer).

- Mạng dựa trên máy chủ (Server-Based) bao gồm các máy khách và các máy chủ chuyên dụng. Máy chủ chuyên dụng là máy chỉ hoạt động như một máy chủ, không kiêm luôn vai trò máy khách hay trạm làm việc. Các máy khách nhận được các dịch vụ khác nhau do máy chủ cung cấp.

Việc truyền thông trong hệ thống này chủ yếu được tiến hành giữa nhiều máy khách và một vài máy chủ, do vậy lượng thông tin vào/ra các máy chủ rất lớn như hình 4.



Hình 4: Mô hình mạng khách \ chủ (Server\ Client).

Sự phân biệt giữa 2 loại mạng nói trên là rất quan trọng, do mỗi loại có những khả năng khác nhau. Lựa chọn loại mạng nào để lắp đặt cho phù hợp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố:



  • Quy mô tổ chức (công ty, văn phòng).

  • Mức độ bảo mật cần có.

  • Loại hình công việc.

  • Mức độ hỗ trợ sẵn có trong công tác quản trị.

  • Nhu cầu của người sử dụng.

  • Ngân sách mạng.
      1. Mạng diện rộng (kết nối LAN to LAN).


Mạng diện rộng WAN (wide area network) là mạng dữ liệu được thiết kế để kết nối giữa các mạng đô thị (mạng MAN), giữa các khu vực địa lý cách xa nhau. Xét về quy mô địa lý, mạng GAN (global area network) có quy mô lớn nhất, sau đó đến mạng WAN và mạng LAN như hình 5.



Hình 5: Mô hình mạng diện rộng (Wan).

Các mạng cục bộ hoạt động tốt trong một phạm vi địa lý nhỏ. Khi số lượng người dùng tăng, phạm vi mạng tăng, mở rộng các mạng cục bộ bằng cách sử dụng các thiết bị kết nối như bộ lặp, cầu nối, bộ định tuyến, cùng các phương tiện truyền dẫn mạng cục bộ thích hợp. Tuy nhiên các khoảng cách này cũng bị hạn chế, chẳng hạn đối với cáp đồng, khoảng cách giới hạn tối đa khoảng 500m, còn đối với cáp quang khoảng cách cũng chỉ khoảng 2km.

Để mở rộng hơn nữa, cần thay thế phương tiện truyền dẫn mạng cục bộ bằng các kênh truyền được cung cấp bởi các nhà cung cấp dịch vụ truyền thông. Khi đó, mở rộng mạng cục bộ từ một mạng chỉ có khả năng phục vụ một vùng cục bộ, trở thành mạng truyền dữ liệu qua một thành phố, đất nước, khu vực và thậm chí toàn cầu, và mạng như vậy được gọi là mạng diện rộng (Wide Area Network - WAN).

Như vậy, mạng diện rộng là một mạng truyền số liệu, bao phủ một vùng địa lý tương đối rộng và thường sử dụng các phương tiện truyền dẫn được cung cấp bởi các nhà khai thác mạng. Cụ thể là các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, các công ty điện thoại. Các công nghệ mạng diện rộng hoạt động ở 3 tầng thấp nhất trong mô hình tham chiếu OSI, tầng vật lý, tầng liên kết dữ liệu và tầng mạng.


      1. Mạng Internet.


Mạng Internet là liên mạng máy tính toàn cầu bao gồm các mạng LAN, WAN của cả thế giới kết nối với nhau thông qua giao thức TCP / IP. Hiểu TCP / IP như là ngôn ngữ chung cho các máy tính thuộc Internet như hình 6.



Hình 6: Mô hình mạng toàn cầu (Internet).

Sơ lược lịch sử của Internet: Năm 1969, theo dự án của Bộ Quốc phòng Mỹ, mạng máy tính ARPANET ra đời. Năm 1983, ARPANET sử dụng bộ giao thức TCP/IP và sau đó tổ chức Khoa học Quốc gia của Mỹ (National Science Foundation - NSF) tài trợ cho việc xây dựng NSFNET thay thế cho ARPANET. Năm 1986, NSFNET liên kết 60 trường đại học Mỹ và 3 trường đại học Châu Âu. Điểm quan trọng của NSFNET là mạng này cho phép mọi người cùng sử dụng. Năm 1989, tại Trung tâm nghiên cứu nguyên tử châu Âu CERN, Tim Berners Lee triển khai thành công dịch vụ World Wide Web (WWW).

Năm 1990, EmailWeb làm cho Internet trở thành công cụ làm việc không thể thiếu của hàng triệu người trên thế giới.

Tháng 12 năm 1997, Việt Nam chính thức tham gia vào Internet, qua hơn 10 năm tham gia vào hệ thống Internet toàn cầu, Việt Nam hiện nay đã có khoảng 20 triệu thuê bao và nói là đã phủ toàn đất nước bằng hệ thống có dây và không dây.

Các dịch vụ cơ bản của Internet gồm:


  • WWW (World Wide Web) - Trang tin toàn cầu Website.

  • Email (Electronic mail) - Thư điện tử.

  • FTP (File Transfer Protocol) - Truyền tệp tin, hỗ trợ truyền dữ liệu có dung lượng lớn.
      1. Mạng Intranet.




Hình 7: Mô hình mạng Intranet.

Mạng Intranet là một mạng Internet thu nhỏ vào trong một cơ quan, công ty, tổ chức hay một Bộ, ngành,... giới hạn phạm vi người sử dụng, có sử dụng các công nghệ kiểm soát truy cập và bảo mật thông tin. Được phát triển từ các mạng LAN, WAN dùng công nghệ Internet như hình 7.


      1. Mạng Extranet.


Trên cơ sở hạ tầng mạng Intranet, cùng với các dịch vụ chạy trên mạng, nếu nối mạng Intranet vào mạng Internet và khai thác các dịch vụ thì mạng trở thành mạng Extranet như hình 8.



Hình 8: Mô hình mạng Extranet.
    1. Tổng quan về Internet (Giới thiệu, một số khái niệm, kết nối máy tính với Internet, các dịch vụ thông dụng của Internet).

      1. Giới thiệu.


Nguồn gốc và sự hình thành INTERNET.

Internet được xem như là một mạng của các mạng, được hình thành bằng việc nối kết các máy tính và các mạng máy tính riêng lẻ với nhau, tạo ra một mạng chung có tính chất toàn cầu.

Tiền thân của InternetARPANET, là mạng do Bộ Quốc phòng Mỹ phát minh năm 1969, nhằm mục đích hỗ trợ truyền thông trong trường hợp bị tấn công hạt nhân. Đến năm 1974 khái niệm Internet chính thức ra đời và thay thế ARPANET, nó được sử dụng cho tới ngày nay.


      1. Một số khái niệm.


HTTP là viết tắt của Hyper Text Transfer Protocol, có ý nghĩa là giao thức truyền tệp tin siêu văn bản. Trình duyệt Web sử dụng giao thức này để kết nối với máy phục vụ Web và tải các tệp Web về máy người dùng. Chính vì vậy, ở địa chỉ Web nào cũng mở đầu bằng http. Ví dụ: http://www.moha.gov.vn.

Website, khu vực chứa website, là nơi các trang web được lưu trên máy phục vụ Web. Trong số các trang web thuộc website này, có một trang gọi là trang chủ (Home Page). Từ trang chủ, người sử dụng sẽ đi đến các trang web khác qua các siêu liên kết được thiết lập trên trang web. URL là viết tắt của Uniform Resource Locator có khuôn dạng gồm: Tên của giao thức, địa chỉ trang web kết nối đến. Ví dụ: http://www.moha.gov.vn/Plus.aspx/vi/1 để mở một trang web.

Trong địa chỉ web http://www.moha.gov.vn là một tên miền Internet. Nhóm chữ này là duy nhất trên Internet dùng để định danh cho một điểm kết nối.

Mỗi nước tham gia vào Internet phải có một tổ chức chịu trách nhiệm quản lý tên miền của các điểm kết nối Internet tại nước mình. Tại Việt Nam cơ quan quản lý tên miền là VNNIC. Để tham gia, các cá nhân, tổ chức phải đăng ký tên miền và đóng lệ phí để duy trì tên miền. Các tên miền được xây dựng như sau:

- Nhóm chữ đầu tiên bên phải gồm hai từ quy định cho nước tham gia Internet như vn-Việt Nam; jp- Japan; uk-United Kingdom...

(Riêng nước Mỹ thì bỏ qua phần này vì Internet đầu tiên xuất phát ở Mỹ).

- Nhóm chữ thứ hai theo chiều từ phải sang trái sẽ là một trong các từ edu; com; gov; net - để chỉ ra nhóm nghề nghiệp, công việc.

- Các nhóm chữ tiếp theo sẽ do người đăng ký nêu lên và các tổ chức quản lý tên miền quốc gia đồng ý khi xác định được tên miền đặt ra là duy nhất.

      1. Kết nối máy tính với Internet.




Hình 9: Mô hình kết nối máy tính với Internet.

Để kết nối với Internet cần có một số yêu cầu về phần cứng và phần mềm sau:

Phần cứng: Máy tính kết nối với modem modem được kết nối với các nhà cung cấp dịch vụ mạng như Viettel, VNPT, FPT, CMC thông qua đường dây điện thoại là cáp đồng hoặc kết nối qua đường cáp quang.

Phần mềm: Kết nối Internet, hệ điều hành, giao thức TCP / IP, trình duyệt web, địa chỉ URL (Uniform Resource Locator) có khuôn dạng: Tên của giao thức, địa chỉ trang web kết nối đến.

Các yêu cầu thiết yếu khi kết nối với Internet: Kết nối với Internet thông qua một trong các nhà cung cấp mạng Internet (Internet Service Provider) như Viettel, VNPT, FPT, CMC như hình 9.

      1. Các dịch vụ thông dụng của Internet.


  • Dịch vụ Web (WWW): Là dịch vụ quan trọng nhất trên Internet ngày nay. Dịch vụ này cho phép người sử dụng dùng các trình duyệt (Web Browser) để truy cập thông tin từ bất cứ nơi nào trên thế giới, sao cho người sử dụng được phép xem thông tin đó. Thông tin trả về trong trình duyệt (Web Browser) dưới dạng Web bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh và một số loại đoạn phim theo ngôn ngữ định dạng văn bản HTML.

  • Dịch vụ thư điện tử (E-mail): Cho phép người sử dụng, sử dụng các chương trình gửi và nhận thư (Mail Client) điện tử trên mạng. Đây là dịch vụ ra đời sớm nhất và lâu đời nhất.

  • Dịch vụ truyền tập tin FTP (File Transfer Protocol): Cho phép dùng các FTP Client để truyền và nhận các tập tin trên mạng. Đây là dịch vụ chính trong việc chia sẻ chương trình, tập tin trên mạng.

  • Dịch vụ trao đổi thông tin trên Internet (Chat): Là hình thức hộp thoại trực tiếp trên mạng. Thông qua dịch vụ này, hai hay nhiều người cùng lúc trao đổi thông tin trực tiếp.

  • Diễn đàn (Forum): Cho phép người sử dụng trao đổi thông tin giữa mọi người với nhau. Lưu ý: Người sử dụng phải có UserName, Password thì mới được tham gia.

  • Dịch vụ tìm kiếm (Search Engine): Thông qua từ khoá người sử dụng nhập từ bàn phím.
    1. Trình duyệt Internet Explorer (IE).

      1. Mở \ đóng trình duyệt.


Có rất nhiều cách để khởi động Internet Explorer, người sử dụng lựa chọn một trong những cách sau:

Cách 1: Nháy chuột trái vào biểu tượng Start \ Programs \ Internet Explorer (hoặc nhấn Ctrl + ESC) như hình 10.





Hình 10: Mở trình duyệt (Internet Explorer).

Giao diện chính của trình duyệt Internet Explorer như hình 11.




Nội dung trang Web


Hình 11: Giao diện chính của trình duyệt (Internet Explorer).

Cách 2: Nhìn thấy biểu tượng của Internet Explorer trên thanh khởi động nhanh (Quick launch) ở phía dưới màn hình, gần nút Start. Nháy chuột vào biểu tượng đó để khởi động chương trình Internet Explorer.

Cách 3: Nháy đúp chuột vào biểu tượng Internet Explorer trên màn hình nền (desktop).

Để đóng trình duyệt, người sử dụng lựa chọn một trong những cách sau:

Cách 1: Nháy chuột trái vào biểu tượng đóng ứng dụng (dấu X ở góc trên bên phải của cửa sổ).

Cách 2: Nháy chuột trái vào thực đơn File, chọn Exit.

Cách 3: Sử dụng phím tắt, người sử dụng nhấn tổ hợp phím Alt+F4.

      1. Thanh thực đơn (MenuBar).




Hình 12: Thanh thực đơn (MenuBar).

Chứa các lệnh thực thi chương trình, tuỳ theo chức năng mà chúng được thiết kế theo từng nhóm như hình 12.


      1. Thanh công cụ (Toolbar).




Hình 13: Thanh công cụ (Toolbar).

Là thanh chứa các nút lệnh thường xuyên sử dụng nhất như hình 13.

Bao gồm các chức năng sau:

- Quay về trang trước đó (Alt + ß)

- Đi tới trang sau (Alt + à)

- Cập nhật trang hiện hành - làm tươi (F5)

- Xem danh sách các trang vừa truy cập (Ctrl + H)

- Ngưng tải xuống trang hiện tại (Esc)

- Xem danh sách địa chỉ ưa thích (Ctrl +I)

- Trở về trang chủ (Alt + Home)

- Tìm kiếm thông tin

      1. Trường địa chỉ (Address).


Là nơi mà người sử dụng sẽ nhập địa chỉ website, đồng thời nó cũng cho biết địa chỉ của trang đang được xem. Người sử dụng dùng phím F4 hoặc Alt + D để truy xuất đến thanh này như hình 14.



Hình 14: Gõ địa chỉ website.
      1. Lưu lại các địa chỉ yêu thích.


Nháy chuột trái vào nút Favorites như hình 15.



Hình 15: Nhấn nút Favorites trên thanh (Menubar).

Trên thanh Favorites, chọn mục Add Favorites sẽ xuất hiện cửa sổ như hình 16.





Hình 16: Lưu lại địa chỉ yêu thích.

Nhập tên trang web cần lưu vào mục Name (mặc định sẽ lấy trang hiện tại) Check vào mục Make available offline nếu muốn trình duyệt trang web sau này mà không cần vào mạng.

Chọn Folder chứa địa chỉ trang web ưa thích trong bảng Create in (sử dụng New Folder nếu muốn tạo folder mới). Nhấn OK.

Lưu ý: Muốn thay đổi tên hoặc xóa trang web ra khỏi danh sách ưa thích, người sử dụng chọn mục Organize, sau đó thực hiện tương tự như trong Windows như hình 17.





Hình 17: Đổi tên hoặc xóa trang web ra khỏi danh sách ưa thích.
      1. Lưu lại trang web hiện hành.


Để lưu lại trang web hiện hành người sử dụng sẽ tiến hành theo 2 bước sau:

Bước 1: Vào Files \ Save As.

Bước 2: Trong hộp thoại chọn Save Web Page, sau đó chọn ổ đĩa, thư mục và đặt tên cần lưu trang web.

      1. In trang web ra giấy.


  • Xem trang web trước khi in

Thông thường, trước khi tiến hành in ấn, cần kiểm tra xem tài liệu đó trước khi in (preview). Để thực hiện chức năng này, nhấn chuột vào thực đơn Files \ Print Preview. Trang web sẽ hiển thị trên màn hình như khi được in ra như hình 18.



Hình 18: Xem trang web trước khi in (preview).

  • Người sử dụng dùng chức năng phóng to, thu nhỏ hoặc các chức năng hiển thị kích thước theo tỷ lệ phần trăm.

  • Nhiều trang web có nội dung dài, nhiều trang nên nhấn vào mũi tên di chuyển để chuyển đến các trang kế tiếp.

  • Sau khi xem trước khi in, người sử dụng quyết định in (Print) hoặc thoát (Close).

  • Thiết lập trang in

Các chức năng thiết lập trang in hoàn toàn giống như công việc thiết lập trang in trong các ứng dụng khác. Sử dụng Internet Explorer, nháy chuột vào Files và chọn Page setup như hình 19.



Hình 19: Thiết lập trang in (Page Setup).

Đặt lề của trang web, trong phần Margins của hộp thoại Page Setup, chọn các tham số phù hợp với trang web định in, bao gồm các khoảng cách trái (Left), phải (Right), trên (Top) và dưới (Bottom).



  • In toàn bộ trang web

Để in toàn bộ trang web đang hiển thị trên trình duyệt, chỉ cần nháy chuột vào biểu tượng Print trên thanh công cụ. Lệnh này sẽ in trang web đang hiển thị trên màn hình mà không cần phải yêu cầu thiết lập bất kỳ tham số hay giá trị nào. Như vậy, trước khi lựa chọn chức năng này, phải chắc chắn rằng số trang web in ra sẽ như ý muốn. Để in toàn bộ trang web đang hiển thị theo các tham số, nên chọn chức năng File \ Print, phần mềm trình duyệt cho phép chọn các chức năng như số lượng bản in, loại máy in, chế độ in đậm, nhạt khác nhau.

In vùng đánh dấu lựa chọn, vào Files \ Print, chọn phần Print Range, chọn Selection rồi nhấn OK để hoàn tất như hình 20.





Hình 20: In toàn bộ trang web.



Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương