Bộ y tế Số: /bc-byt cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 0.72 Mb.
trang3/5
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích0.72 Mb.
1   2   3   4   5

17. Tiếp tục củng cố mạng lưới y tế biển đảo, tăng cường kết hợp quân dân y

Tiếp tục triển khai Đề án phát triển y tế biển, đảo đến năm 2020 theo Quyết định số 317/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Chương trình kết hợp quân dân y được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, sẵn sàng đáp ứng các tình huống khẩn cấp; hỗ trợ, củng cố mạng lưới tuyến y tế cơ sở, xây dựng tiềm lực y tế, quốc phòng trong khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố.

Triển khai các hoạt động khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí, tặng quà cho đối tượng chính sách, khu vực vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo kết hợp làm công tác dân vận, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt đối với đồng bào các dân tộc vùng biên giới.

18. Công tác truyền thông y tế

Trong năm 2018, các hoạt động truyền thông về công tác y tế được triển khai thực hiện rộng khắp và bám sát các nội dung trọng tâm của ngành: thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW và Nghị quyết số 21-NQ/TW, tăng cường y tế cơ sở, phòng chống dịch bệnh, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đổi mới phong cách phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh, xây dựng bệnh viện xanh-sạch-đẹp... Xử lý thông tin kịp thời trong các sự cố, tai biến y khoa.

Triển khai các chương trình phối hợp truyền thông, thỏa thuận hợp tác với một số Bộ, ban ngành như: Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Dân vận Trung ương, Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam... Chủ động phối hợp với gần 60 cơ quan báo đài để tuyên truyền về công tác y tế năm 2018, đảm bảo tiến độ và hiệu quả truyền thông. Thường xuyên tổ chức các buổi họp báo, cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí về các nhiệm vụ, hoạt động trọng tâm, sự kiện của ngành. Tổ chức cuộc thi "Y tế cơ sở giỏi năm 2018" tại 03 khu vực Bắc miền Trung, Trung du Bắc Bộ, Đồng bằng Sông Cửu Long và tổ chức Hội thi chung kết tại Hà Nội vào tháng 10/2018.



II. Tình hình thực hiện dự toán NSNN 2018

Thực hiện giao dự toán chi đầu tư, chi thường xuyên cho các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế theo đúng tổng mức được Thủ tướng, Bộ Kế hoạch & Đầu tư và Bộ Tài chính giao, đảm bảo thời gian theo quy định của Luật NSNN22.



1. D toán NSNN toàn ngành năm 2018

Ước thực hiện là 96.263 tỷ đồng, bằng 6,2% tổng chi NSNN, gồm chi đầu tư phát triển là 14.008 tỷ đồng, chi thường xuyên là 82.255 tỷ đồng. Chi từ nguồn thu khác là 125.400 tỷ đồng, trong đó từ viện phí trực tiếp khoảng 27.600 tỷ đồng, từ BHYT thanh toán 89.300 tỷ đồng, thu sự nghiệp khác khoảng 8.500 tỷ đồng.

2. D toán NSNN năm 2018 do B Y tế trc tiếp qun lý

Dự toán được giao là 14.904,95 tỷ đồng (tính cả 1.248,09 tỷ đồng vốn XDCB từ năm 2017 chuyển sang), ước giải ngân là 9.937,8 tỷ đồng (đạt 66,7%), gồm chi đầu tư phát triển là 1.768,8 tỷ đồng (đạt 27%)23, chi thường xuyên là 8.169 tỷ đồng (đạt 97,3%).

Số thu phí được giao: 141,3 tỷ đồng, ước thực hiện năm 2018 là 127,6 tỷ đồng (đạt 90,4%)24; Số nộp NSNN là 31,34 tỷ đồng. Số thu lệ phí được giao 3,15 tỷ đồng, ước thực hiện năm 2018 là 3,15 tỷ đồng, nộp NSNN là 3,15 tỷ đồng, đạt 100% dự toán được giao. Số thu từ nguồn thu dịch vụ y tế (viện phí và BHYT thanh toán), dịch vụ khác giao: 37.127,8 tỷ đồng, ước thực hiện năm 2018 là 40.148,8 tỷ đồng, đạt 108,1% so với dự toán giao, trong đó: Thu dịch vụ y tế (viện phí và BHYT thanh toán): 30.634 tỷ đồng.

III. Tồn tại, hạn chế

1. Y tế cơ sở và chăm sóc sức khỏe ban đầu

- Chất lượng dịch vụ tại y tế cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều trạm y tế xã chưa làm tốt công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, chăm sóc sức khỏe ban đầu, chưa thực hiện quản lý bệnh không lây nhiễm, quản lý sức khỏe cá nhân , chăm sóc sức khỏe cho một số đối tượng theo luật định người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, học sinh, sinh viên, người lao động…

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, năng lực chuyên môn còn hạn chế, cơ chế tài chính, thanh toán BHYT còn vướng mắc.

- Người dân chưa tin tưởng đến khám, chữa bệnh tại trạm y tế. Nhiều người khi bệnh nặng mới đến cơ sở y tế nên tỷ lệ chuyển tuyến, vượt tuyến còn khá phổ biến.



2. Y tế dự phòng, nâng cao sức khỏe

- Một số dịch bệnh lưu hành như sởi, sốt xuất huyết, tay chân miệng, sởi vẫn còn ở mức cao, chưa giảm được như mong muốn do yếu tố khách quan như giao lưu đi lại, di biến động dân cư, biến đổi khí hậu, đời sống kinh tế xã hội khó khăn... Tỷ lệ mắc HIV vẫn cao ở các tỉnh miền núi phía Bắc và các tỉnh, thành phố lớn. Tỷ lệ khám sàng lọc, phát hiện sớm bệnh tật; quản lý các bệnh không lây nhiễm tại cộng đồng còn thấp.

- Nhận thức và ý thức của cộng đồng, sự quan tâm đầu tư của các địa phương về vệ sinh môi trường sống, phòng, chống bệnh nghề nghiệp, tai nạn thương tích còn hạn chế.

3. An toàn thực phẩm

- Việc thực thi pháp luật tại địa phương còn chưa đạt yêu cầu, nhiều địa phương dù tổ chức thanh, kiểm tra nhiều nhưng tỷ lệ xử lý thấp, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, vẫn còn đùn đẩy trách nhiệm giữa các ngành có liên quan. Sự phối hợp giữa các lực lượng trong xử lý vi phạm về ATTP còn chưa chặt chẽ, đặc biệt trong phối hợp trao đổi thông tin.



- Việc xử lý dứt điểm một số tốn tại như lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hóa chất, kháng sinh trong sản xuất nông sản, thủy sản; sử dụng phụ gia thực phẩm trong chế biến thực phẩm; giết mổ không đảm bảo ATTP... còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu đảm bảo ATTP cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

- Tình trạng làm giả giấy tờ của cơ quan tổ chức về lĩnh vực thực phẩm được các đối tượng thực hiện rất tinh vi, các cơ quan chức năng khó kiểm soát.

- Việc quản lý quảng cáo trên các trang mạng xã hội, trang thông tin điện tử có tên miền từ nước ngoài gặp nhiều khó khăn trong quản lý nội dung quảng cáo, không xác định được chủ thể quảng cáo vi phạm và không có cơ sở xử lý vi phạm.

- Tình trạng một số tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ sức khỏe nhưng không đăng ký bản công bố, bán hàng online quảng cáo, tư vấn lừa dối người tiêu dùng còn diễn biến phức tạp.



4. Khám bệnh, chữa bệnh

- Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh được nâng lên nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người dân, có sự chênh lệch lớn giữa các tuyến, các vùng.

- Còn nhiều kỹ thuật chưa tiệm cận được với trình độ y học của các nước tiên tiến trên thế giới, cơ chế giá chưa phù hợp để phát triển các kỹ thuật cao nên nhiều người ra nước ngoài khám, chữa bệnh (khoảng 40 nghìn người với trên 2 tỷ USD chi phí khám chữa bệnh trong năm) và chưa thu hút được người nước ngoài khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế trong nước.

- Hầu hết mới chỉ tập trung vào chữa bệnh mà chưa có đủ điều kiện chăm sóc toàn diện người bệnh. Lợi thế của y dược cổ truyền chưa phát huy tốt. Tình trạng vượt tuyến dẫn đến quá tải ở một số bệnh viện trung ương và thành phố lớn chưa được giải quyết triệt để.

- An ninh, trật tự an toàn tại một số bệnh viện chưa được bảo đảm. Năm 2018 tiếp tục xảy ra nhiều vụ hành hung, tấn công thầy thuốc khi làm nhiệm vụ (tại Bệnh viện Sản Nhi Yên Bái, Bệnh viện đa khoa Bắc Kạn, Bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh, Bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội...).

5. Dân s - KHHGĐ, chăm sóc sc kho bà m - tr em

- Nhu cầu chưa được đáp ứng về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, phương tiện tránh thai, dịch vụ KHHGĐ còn cao ở một số nhóm dân cư yếu thế gồm vị thành niên và thanh niên chưa lập gia đình, người di cư, người có HIV, người tàn tật, người hành nghề mãi dâm, người đồng tính. Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh còn cao, tỷ suất sinh vẫn còn nguy cơ tăng ở một số vùng.

- Sự khác biệt giữa các vùng, miền, giữa các nhóm dân cư về các chỉ số sức khỏe sinh sản còn lớn: Tỷ số tử vong mẹ, tử vong trẻ em ở một số khu vực miền núi cao gấp 3-4 lần so với khu vực đồng bằng, đô thị và gấp gần 2 lần so với mức trung bình toàn quốc. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em vẫn còn cao ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên.

6. Phát triển nguồn nhân lực y tế

- Số lượng và chất lượg nhân lực y tế phân bổ không đồng đều giữa các vùng, các tuyến, giữa khám chữa bệnh và y tế dự phòng. Chưa có chính sách bền vững để thu hút những thầy thuốc có trình độ chuyên môn cao, tay nghề giỏi làm việc lâu dài tại các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.

- Quản lý chất lượng đào tạo nhân lực y tế chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế và tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế, cũng như tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết Trung ương. Nội dung kiểm định chất lượng giáo dục y khoa chưa được triển khai.

- Công tác thử nghiệm lâm sàng là một lĩnh vực tương đối mới, chưa đủ hành lang pháp lý để hướng dẫn các hoạt động, do vậy khó khăn trong việc triển khai các công tác liên quan như chuẩn hóa đồng bộ hệ thống thử nghiệm lâm sàng, cấp phép, thanh kiểm tra.



7. Tài chính y tế

- Định mức nhân lực tính tiền lương trong giá dịch vụ chưa bảo đảm việc chăm sóc toàn diện người bệnh. Việc điều hành, quản lý các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện công còn chậm được đổi mới.



- Tạm ứng, thanh quyết toán chi phí khám chữa bệnh BHYT vẫn còn vướng mắc giữa bệnh viện và cơ quan BHXH. Mức đóng BHYT từ năm 2009 (4,5% tiền lương, mức lương cơ sở) đến nay chưa được điều chỉnh trong khi nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng tăng cao, giá dịch vụ y tế đang điều chỉnh theo hướng tính đúng, tính đủ, điều này gây khó khăn trong việc cân đối quỹ BHYT.

- Chưa hoàn thiện hành lang pháp lý về xã hội hóa; liên doanh, liên kết trang thiết bị y tế; hợp tác đầu tư . Việc liên doanh, liên kết đã góp phần phát triển dịch vụ, đáp ứng nhu cầu nhưng vẫn còn có tình trạng chỉ định quá mức dịch vụ.



8. Quản lý dược, thiết bị y tế, y dược tư nhân

- Số lượng và giá trị thuốc, thiết bị y tế sản xuất trong nước còn thấp. Việc lạm dụng kháng sinh; bán thuốc không cần, không theo đơn vẫn còn phổ biến. Quản lý hành nghề y dược tư nhân, công tác thanh, kiểm tra còn hạn chế.



Phần thứ hai

CÁC NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NĂM 2019

I. MỤC TIÊU CHUNG

Giảm tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh, dịch bệnh, góp phần tăng tuổi thọ, nâng cao các chỉ số sức khỏe cơ bản của người dân. Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế, tạo nền tảng vững chắc để phát triển hệ thống y tế công bằng, hiệu quả, chất lượng và bền vững, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của các tầng lớp nhân dân.



II. CHỈ TIÊU

Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ giao 02 chỉ tiêu: (1) Số giường bệnh trên 10.000 dân là 27,0; (2) Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế là 88,1%. Các chỉ tiêu cơ bản của ngành tại Phụ lục kèm theo.

III. CÁC NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NĂM 2019

1. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước



1.1. Về xây dựng chính sách, pháp luật và hoàn thiện thể chế:

- Hoàn thành các Dự án luật trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019 của Quốc hội; các nhiệm vụ theo Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện các Nghị quyết Trung ương về công tác y tế, dân số trong tình hình mới; các Đề án, văn bản trình Chính phủ, Thủ tướng trong Chương trình công tác của Chính phủ, các Thông tư trong Kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2019 của Bộ.

- Tiếp tục thực hiện công tác tự kiểm tra, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật về y tế theo thẩm quyền; rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất, pháp điển văn bản quy phạm pháp luật; công tác theo dõi thi hành, phổ biến, giáp dục pháp luật. Đẩy mạnh công tác hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp.

1.2. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn bộ máy tổ chức

- Hoàn thành việc xây dựng quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống tổ chức y tế theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và hội nhập quốc tế. Các tỉnh, thành phố tiếp tục đẩy nhanh việc thực hiện mô hình trung tâm kiểm soát bệnh, tật tỉnh, trung tâm y tế huyện đa chức năng và trực tiếp quản lý trạm y tế. Đối với huyện có bệnh viện đa khoa huyện được xếp hạng II trở lên cũng nên thực hiện mô hình trung tâm y tế huyện đa chức năng, trừ trường hợp đặc thù, theo yêu cầu thực tế của địa phương.

- Không xóa bỏ trạm y tế trên địa bàn có cơ sở y tế tuyến huyện, tuyến tỉnh vì trạm y tế xã có nhiệm vụ hết sức quan trọng trong công tác dự phòng, nâng cao sức khỏe, theo dõi, quản lý sức khỏe người dân trên địa bàn. Ở các khu vực có phòng khám đa khoa thì lồng ghép nhiệm vụ của trạm y tế xã và phòng khám đa khoa khu vực vừa làm nhiệm vụ khám chữa bệnh, vừa làm nhiệm vụ dự phòng, nâng cao sức khỏe.

- Nghiên cứu xây dựng đề án hình thành các trung tâm kiểm soát bệnh tật trung ương, vùng; cơ quan kiểm soát dược phẩm, thực phẩm, thiết bị y tế trung ương và vùng trên cơ sở sáp nhập các đơn vị cùng chức năng, nhiệm vụ.

- Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.



1.3. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính

- Tổ chức thực hiện tốt các nội dung của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016-2020 của Chính phủ.

- Tích cực triển khai thực hiện đơn giản hóa các thủ tục hành chính được giao theo Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 02/6/2010 và Nghị quyết số 62/NQ-CP ngày 07/12/2010 của Chính phủ. Tăng cường cập nhật và công khai thủ tục hành chính.

- Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao chất lượng quản lý hành chính nhà nước và đầy mạnh số lượng, chất lượng dịch vụ công trực tuyến ở cấp độ 3 và cấp độ 4.

- Rà soát, cắt giảm điều kiện kinh doanh; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý phục vụ người dân và doanh nghiệp; triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN của Bộ Y tế.

1.4. Nâng cao năng lực và tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát

- Xây dựng và thực hiện tốt Kế hoạch Thanh tra năm 2019. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

- Tiếp tục xây dựng, củng cố nâng cao chất lượng công tác hệ thống thanh tra y tế, cộng tác viên thanh tra y tế và mạng lưới cán bộ làm công tác thanh tra của thủ trưởng, thanh tra nhân dân tại các đơn vị trực thuộc.

- Tổ chức các lớp đào tạo, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật và tập huấn nghiệp vụ thanh tra về các lĩnh vực: khám chữa bệnh, dược, trang thiết bị y tế, y tế dự phòng, bảo hiểm y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình, thanh tra của thủ trưởng, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong ngành y tế.



2. Đẩy mạnh thực hiện Đề án Xây dựng và phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới

- Tất cả các tỉnh, thành phố tập trung nguồn lực để nâng cao năng lực của y tế cơ sở, triển khai mô hình trạm y tế xã theo nguyên lý y học gia đình, quản lý sức khỏe đến từng người dân.

- Thực hiện khám, chữa bệnh theo phân tuyến và theo Thông tư 39/2017/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành gói dịch vụ y tế cơ bản cho tuyến y tế cơ sở. Thực hiện phân loại để quản lý, theo dõi, điều trị các bệnh không lây nhiễm, bệnh mạn tính tại trạm y tế xã.

- Các tỉnh, thành phố thực hiện đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, luân phiên bác sỹ từ trung tâm y tế về trạm y tế xã và ngược lại để nâng cao trình độ chuyên môn cho viên chức y tế xã. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hoạt động của trạm y tế xã, khám chữa bệnh từ xa.

- Đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, khuyến khích y tế tư nhân, các tổ chức xã hội, tôn giáo tham gia các hoạt động tuyên truyền, vận động, dự phòng, nâng cao sức khỏe, khám sáng lọc, phát hiện sớm bệnh tật cho nhân dân ngay tại cộng đồng.

3. Tăng cường hiệu quả công tác truyền thông, giáo dục nâng cao sức khỏe

- Sở Y tế, Trung tâm truyền thông, giáo dục sức khỏe và các cơ quan liên quan tăng cường tuyên truyền vận động để nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi như: chế độ dinh dưỡng hợp lý; bảo đảm an toàn thực phẩm, tăng cường luyện tập thể dục thể thao; vận động toàn dân giữ gìn vệ sinh môi trường, không hút thuốc lá, không lạm dụng rượu bia…

- Triển khai thực hiện Chương trình sức khỏe Việt Nam được phê duyệt tại Quyết định số 1092/QĐ-TTg ngày 02/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ.

4. Chủ động phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm và bệnh không lây nhiễm

- Triển khai công tác phòng chống dịch chủ động, dự báo, phát hiện sớm, khống chế kịp thời dịch bệnh, không để dịch lớn xẩy ra, giảm tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Giám sát chặt chẽ, ngăn chặn kịp thời bệnh dịch truyền nhiễm tại các cửa khẩu quốc tế, không để dịch bệnh xâm nhập.

- Triển khai đồng bộ Chương trình mục tiêu y tế - dân số và các chương trình, đề án liên quan về phòng, chống bệnh không lây nhiễm. Đẩy mạnh các biện pháp để kiểm soát yếu tố nguy cơ, tập trung vào phòng chống tác hại thuốc lá, rượu bia, tăng cường vận động thể lực, giảm tiêu thụ muối, nước ngọt có đường và dinh dưỡng hợp lý. Củng cố, nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng và tăng cường năng lực giám sát bệnh không lây nhiễm. Mở rộng triển khai hoạt động phát hiện sớm, dự phòng, quản lý bệnh không lây nhiễm tại trạm y tế xã và tại cộng đồng.

- Triển khai đồng bộ các hoạt động của Chương trình mục tiêu y tế - dân số, tập trung vào kiểm soát các yếu tố nguy cơ, hạn chế sự gia tăng tỷ lệ người tiền bệnh, mắc bệnh, tàn tật và tử vong sớm tại cộng đồng do bệnh không lây nhiễm; củng cố, nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng và tăng cường năng lực giám sát bệnh không lây nhiễm.

- Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo để nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động y tế trường học, gắn với y tế cơ sở, đẩy mạnh truyền thông, giám sát điều kiện vệ sinh trường học, phòng chống các bệnh tật học đường.

- Tiếp tục nâng cao tỷ lệ và chất lượng tiêm chủng mở rộng, bảo đảm vắc xin cho tiêm chủng mở rộng, phát triển các loại hình tiêm chủng dịch vụ để người dân tiếp cận ngày càng nhiều với các loại vắc xin, đảm bảo tiêm chủng an toàn hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu tỷ lệ tiêm chủng đạt trên 95%.



5. Tăng cường qun lý môi trường y tế

- Triển khai sâu, rộng Phong trào vệ sinh yêu nước nâng cao sức khỏe nhân dân: 75% hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh; 100% trạm y tế xã có nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh; 80% dân số thường xuyên thực hành rửa tay với xà phòng.

- Nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt cho cán bộ y tế các cấp, năng lực đánh giá tác động sức khỏe, ứng phó với biến đổi khí hậu cho cán bộ y tế tuyến trung ương và tuyến tỉnh. 100% các nhà máy nước đô thị, 70% trạm cấp nước nông thôn được kiểm tra, giám sát vệ sinh chất lượng nước ăn uống, nước sinh hoạt theo quy định; trên 86% dân số được sử dụng nước sạch đã được giám sát chất lượng nước.

- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nâng cao nhận thức cho người lao động, nâng cao năng lực khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, giám sát về môi trường lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp. 50% người lao động làm việc tại các cơ sở có nguy cơ bị các bệnh nghề nghiệp phổ biến được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; 70% doanh nghiệp lớn và 30% doanh nghiệp vừa và nhỏ có nguy cơ cao về bệnh nghề nghiệp thực hiện quan trắc môi trường lao động.

- Tăng cường giáo dục, truyền thông về phòng, chống tai nạn, thương tích trên phạm vi toàn quốc. Củng cố, phát triển mạng lưới và năng lực sơ cứu, cấp cứu tai nạn thương tích tại cộng đồng và chăm sóc chấn thương tại các cơ sở y tế. Triển khai, nâng cao chất lượng hệ thống giám sát tử vong, giám sát điểm tai nạn, thương tích tại cộng đồng. Tăng cường triển khai các mô hình an toàn phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng; phòng chống tai nạn giao thông đường bộ, phòng chống đuối nước ở trẻ em,…

6. Phòng, chng HIV/AIDS

- Mở rộng hoạt động xét nghiệm phát hiện người nhiễm HIV chủ động, tập trung xét nghiệm HIV ở các khu vực trọng điểm, các nhóm nguy cơ cao, trong trại giam, khu vực miền núi thông qua hình thức xét nghiệm HIV dựa vào cộng đồng và tự xét nghiệm HIV; phấn đấu năm 2019 phát hiện được khoảng 8.000-10.000 trường hợp nhiễm HIV;

- Mở rộng các hoạt động can thiệp, giảm tác hại, dự phòng lây nhiễm HIV, tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone; thí điểm điều trị nghiện bằng Buprenophine; mở rộng điều trị tiền phơi nhiễm HIV (PrEP); tiếp tục mở rộng cấp phát bơm kiêm tiêm, bao cao su cho các đối tượng nguy cơ cao;

- Mở rộng và nâng cao chất lượng điều trị HIV/AIDS; phấn đấu điều trị ARV cho 140.000 bệnh nhân, mở rộng xét nghiệm tải lượng virus HIV; triển khai cấp phát thuốc ARV tại tuyến y tế cơ sở, cấp phát thuốc ARV nhiều tháng cho các bệnh nhân ổn định;

- Tiếp tục huy động các nguồn tài chính cho công tác phòng, chống HIV/AIDS, nhanh chóng mở rộng điều trị HIV/AIDS thông qua BHYT; tiếp tục huy động các nguồn tài trợ quốc tế cho phòng, chống HIV/AIDS; đảm bảo cung ứng thuốc, sinh phẩm, vật phẩm cho công tác phòng, chống HIV/AIDS.

7. Bảo đảm an toàn thc phm

- Phấn đấu đạt các chỉ tiêu về bảo đảm ATTP: 78% người sản xuất, chế biến, 78% người kinh doanh thực phẩm, 78% người tiêu dùng và 78% người quản lý được cập nhật kiến thức về an toàn thực phẩm; 88% Phòng kiểm nghiệm thực phm ca các tnh có dân s trên 2 triu dân, có nhng khu công nghip có ca khu giao thương hàng hóa và các thành ph trc thuc trung ương đạt chun TCVN ISO /IEC 17025:2005; Gim 4% s v ng độc thc phm tp th t 30 người mc/v năm 2019 so vi trung bình giai đon 2011 – 2015; T l mc ng độc thc phm cp tính trong v ng độc được ghi nhn dưới 7 người/100.000 dân.

- Tăng cường công tác thanh tra, hậu kiểm từ trung ương đến địa phương theo định kỳ, sự kiện, chủ đề hoặc đột xuất bảo đảm tính đồng bộ và hiệu quả. Triển khai thí điểm thanh tra chuyên ngành ATTP tuyến quận/huyện, xã/phường tại 09 tỉnh, thành phố. Phối hợp với các bộ, ngành, địa phương thực hiện thanh, kiểm tra ATTP theo Kế hoạch của Ban Chỉ đạo Liên ngành Trung ương về ATTO và thực hiện Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 09/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP.

- Tiếp tục triển khai Chương trình phối hợp với vận động và giám sát bảo đảm ATTP giai đoạn 2016-2020. Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tiếp tục tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo đảm ATTP cho các nhóm đối tượng. Tổ chức đào tạo, tập huấn cho cán bộ địa phương về chuyên môn nghiệp vụ quản lý và kiểm soát ATTP. Duy trì Tháng hành động vì an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh công tác phối hợp liên ngành về an toàn thực phẩm.

- Triển khai xây dựng và thực hiện Dự án xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu cập nhật về an toàn thực phẩm. Tiếp tục củng cố tổ chức, tăng cường năng lực cho các Chi cục ATTP.

- Theo dõi và xử lý kịp thời các sự cố mất ATTP. Chủ động đánh giá, cung cấp kịp thời thông tin ATTP cho người tiêu dùng, tránh để người dân thiếu thông tin dẫn đến hiểu lầm, hoang mang; hướng dẫn người sản xuất, kinh doanh cải thiện điều kiện đảm bảo ATTP, người tiêu dùng biết cách lựa chọn thực phẩm an toàn.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương