Bộ y tế Số: /bc-byt cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam


Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, giảm quá tải bệnh viện



tải về 0.72 Mb.
trang2/5
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích0.72 Mb.
1   2   3   4   5

8. Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, giảm quá tải bệnh viện

Số lần khám bệnh đạt gần 230 triệu lượt, trong đó khoảng 178 triệu lượt khám chữa bệnh BHYT, số lần khám bệnh bình quân đạt 2,4 lần/người dân.

Phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh; chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới; thực hiện nghĩa vụ luân phiên; ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục trong khám chữa bệnh. Đến nay đã hình thành 23 bệnh viện hạt nhân và 138 bệnh viện vệ tinh (tăng 1 bệnh viện hạt nhân và 21 bệnh viện vệ tinh so với năm 2017); các bệnh viện hạt nhân đã chuyển giao gần 2.000 kỹ thuật cao cho các bệnh viện vệ tinh; khoảng 85% số bệnh viện vệ tinh có xu hưởng gỉảm chuyển tuyến.

Xây dựng và bước đầu triển khai hiệu quả Đề án 5168/QĐ-BYT ngày 24/8/2018 về việc "Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trung ương, bệnh viện tuyến cuối của TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh về hỗ trợ các trạm y tế xã, phường, thị trấn nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh giai đoạn 2018-2020".

Năm 2018, số người đăng ký hiến tạng tăng nhanh, đến cuối tháng 11/2018 cả nước có 19.300 người đăng ký hiến tạng, bằng một phần ba tổng số người đăng ký trong cả 5 năm qua. Nhiều bệnh nhân nghèo, hoàn cảnh khó khăn, không đủ chi phí trang trải ca ghép hàng trăm triệu đồng... được ghép tạng. Ngân hàng mô Bệnh viện Việt Đức là ngân hàng mô đầu tiên tại Việt Nam được cấp phép và hoạt động vào giữa tháng 10/201813.

Tiếp tục tăng cường chỉ đạo thực hiện cải tiến nâng cao chất lượng khám chữa bệnh thực hiện mục tiêu Chương trình hành động Quốc gia về nâng cao năng lực quản lý chất lượng khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn từ nay đến năm 2025. Xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn, quy định về quản lý chất lượng như phòng ngừa sự cố y khoa; hoàn thiện bổ sung các Bộ chuẩn chất lượng về an toàn phẫu thuật, Bộ chỉ số đo lường chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, Bộ chuẩn chất lượng lâm sàng trong lĩnh vực chăm sóc mắt; trong công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, tổ chức kiểm tra giám sát việc thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng và kiểm soát lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ gây dịch, đặc biệt kiểm soát xử lý dụng cụ nội soi, kiểm soát nhiễm khuẩn tiết niệu do đặt catheter, giám sát nhiễm khuẩn, vệ sinh môi trường bệnh viện, kiểm soát nhiễm khuẩn khoa gây mê hồi sức và Hướng dẫn vệ sinh tay.

Về công tác quản lý chất lượng xét nghiệm, trong năm đã có hơn 4.309 phòng xét nghiệm và các trung tâm kiểm chuẩn xét nghiệm thực hiện ngoại kiểm tra, tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm 2016 và tăng gần 19 lần so với năm 2009. Về công tác chăm sóc điều dưỡng tiến hành cập nhật, chỉnh sửa quy trình kỹ thuật chăm sóc người bệnh chuyên ngành ngoại khoa, nhi khoa và Hồi sức tích cực. Nghiên cứu chỉnh sửa Chuẩn năng lực điều dưỡng Việt Nam và cách tính nhân lực điều dưỡng trên người bệnh theo từng chuyên khoa. Trong năm đã xây dựng, thẩm định và ban hành được 645 quy trình kỹ thuật thuộc các chuyên ngành Nội tiết; Hóa sinh; Vi sinh; Nhi khoa; Ung bướu.

Tiếp tục thực hiện Bộ 83 tiêu chí chất lượng; đổi mới phong cách phục vụ, nâng cao y đức; xây dựng cơ sở y tế “Xanh - Sạch - Đẹp” hướng tới sự hài lòng của người bệnh. Triển khai liên thông kết quả xét nghiệm, chẩn đoán đối với các phòng xét nghiệm đã đạt ISO 15189 tại 28 bệnh viện trực thuộc Bộ. Tích cực nâng cao chất lượng lâm sàng, xét nghiệm, ban hành hướng dẫn quy trình kỹ thuật chẩn đoán, điều trị; rà soát sửa đổi quy chế bệnh viện. Chất lượng khám, chữa bệnh trong thời gian gần đây đã có sự tiến bộ rõ rệt. Bộ mặt chung của nhiều bệnh viện đã thay đổi, chỉ dẫn, đón tiếp tốt hơn, môi trường bệnh viện đang xanh hơn, nhà vệ sinh, cảnh quan sạch hơn, đẹp hơn. Chất lượng lâm sàng đang dần được nâng lên. Mức chất lượng trung bình toàn quốc năm 2017 đạt 2.81/5, trong đó nhóm các tiêu chí phần Hướng đến người bệnh cao nhất đạt mức 3,18/5. Trung bình các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế đã đạt mức 3,49/5 và kết quả đánh giá năm 2018 đã có một số bệnh viện đã có bước tiến vượt bậc đạt mức 4/5. Kết quả khảo sát cho thấy có sự gia tăng đáng kể về tỷ lệ hài lòng của người bệnh, đạt khoảng 80% ở các loại khảo sát khác nhau14.

Y tế tư nhân phát triển nhanh cả về quy mô và số lượng với 219 bệnh viện (16%), 15.781 giường bệnh (5,2%). Năm 2018 tiếp tục thu hút sự tham gia của khu vực y tế tư nhân, một số cơ sở y tế tư nhân có quy mô được thành lập mới như Bệnh viện Nhi Đức Tâm, Đăk Lăk - 50 giường bệnh, Bệnh viện Mắt Cao Nguyên tại Gia Lai - 100 giường bệnh, Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Hải Phòng – 180 giường bệnh, Bệnh viện Phương Châu Sa Đéc - 50 giường bệnh... Năm 2018 Bộ đã duyệt chủ trương thành lập mới 16 bệnh viện tư nhân. Tổ chức xét phân tuyến và phân hạng tương đương cho 219 bệnh viện tư nhân.

Năm 2018 tại Bộ Y tế đã cấp, cấp lại, cấp bổ sung 3.145 chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh cho người hành nghề của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền của Bộ Y tế, người nước ngoài; 39 giấy phép hoạt động cho các bệnh viện tư nhân, 17 cơ sở công lập (trong đó cấp mới 2.865, cấp lại 139, cấp bổ sung 141 chứng chỉ hành nghề). Tổ chức thẩm định cấp giấy phép hoạt động đối với: Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2, Bệnh viện hữu nghị Việt Đức cơ sở 2, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới cơ sở Kim Chung.



9. Y học cổ truyền

Tiếp tục triển khai Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020 và Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương triển khai tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 24-CT/TW ngày 04/7/2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát triển nền Đông y Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới.

Xây dựng Chương trình phát triển y dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y học hiện đại để trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 9/2019. Báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình trạng kinh doanh dược liệu giả, kém chất lượng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý trong kinh doanh dược liệu.

Hiện cả nước có 63 bệnh viện y học cổ truyền, trong đó có 58 bệnh viện YHCT tuyến tỉnh/56 tỉnh, thành phố (3 tỉnh có 2 bệnh viện), 88,23% trạm y tế xã có tổ chức khám chữa bệnh y học cổ truyền, trong đó tỷ lệ trạm y tế xã triển khai khám chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng y học cổ truyền là 70,18%. Tỷ lệ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền trên tổng số lượt khám, chữa bệnh chung tại tuyến tỉnh 8,86%, tuyến huyện 8,96%, tuyến xã là 28,5%.

10. Quản lý dược

Cung ứng đủ thuốc, vắc xin kịp thời, đảm bảo chất lượng, giá hợp lý, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, thuốc cho nhu cầu đặc biệt, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh mới nổi và diễn biến phức tạp, đặc biệt là nhu cầu vắc xin cho chương trình tiêm chủng mở rộng, vắc xin dại, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, thuốc hiếm.

Triển khai thực hiện Chỉ thị 23/CT-TTg ngày 23/08/2018 cùa Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý, kết nối các cơ sở cung ứng thuốc; Đề án tăng cường kiểm soát kê đơn thuốc và bán thuốc kê đơn giai đoạn 2017-2020. Hiện tất cả 63 tỉnh, thành phố đã triển khai ứng dụng công nghệ thông tin kết nối cơ sở cung ứng thuốc, đã cấp tài khoản phần mềm cho 17.635 cơ sở bán lẻ thuốc; đã có 9.604 cơ sở kết nối liên thông với cơ quan quản lý nhà nước. Hệ thống giúp quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng thuốc từ sản xuất, nhập khẩu, phân phối bán buôn, bán lẻ; kiểm soát thuốc giả, thuốc hết hạn, thuốc kém chất lượng; kiểm soát chặt chẽ kê đơn, bán thuốc theo đơn, hạn chế tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh, kê thêm thuốc không hợp lý, kê tập trung vào một số nhà cung cấp; truy xuất nguồn gốc xuất xứ, tình trạng thuốc tại các cơ sở và trên thị trường, đảm bảo công tác thu hồi thuốc đúng đủ theo quy định.

Thực hiện tốt Nghị định 54/2017/NĐ-CP liên quan đến quyền phân phối của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIE), đây cũng là nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết TƯ 20. Tổ chức thẩm định, đánh giá kho bảo quản thuốc đạt tiêu chuẩn GSP cho 114 cơ sở; cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược cho các cơ sở đáp ứng quy định; cấp phép nhập khẩu thuốc, nguyên liệu dùng làm thuốc cho 4.750 hồ sơ tiếp nhận trong năm; cấp 35.500 số tiếp nhận Phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu theo quy định, thực hiện trên 100% so với kế hoạch năm.

Cấp chứng nhận cho 61 cơ sở GMP, 02 cơ sở GLP; công bố 644 cơ sở tiêu chuẩn GMP-EU, GMP-PIC/S trong tổng số 1.133 hồ sơ, 82 thuốc có chứng minh tương đương sinh học trong tổng số 167 hồ sơ, 46 công ty thuộc danh mục cơ sở sản xuất thuốc phải kiểm tra 100% lô thuốc nhập khẩu. Các cơ sở kiểm nghiệm trong toàn quốc đã tiền kiểm 2.100 lô thuốc nhập khẩu. Ban hành văn bản xử lý thuốc vi phạm chất lượng đối với 79 mẫu thuốc (56 mẫu trong nước và 23 mẫu nhập khẩu), thông báo thu hồi 17 thuốc và văn bản xử lý đối với 14 trường hợp phát hiện thuốc giả hoặc nghi ngờ thuốc giả.

Thực hiện đổi mới toàn diện trong công tác cấp giấy phép đăng ký lưu hành thuốc, tiếp nhận 4.461 hồ sơ đăng ký lần đầu, 8.323 lượt hồ sơ bổ sung, tăng hơn năm 2017 là 1.115 hồ sơ (15,7%), số lượng thuốc được cấp số đăng ký lưu hành trong năm là 3.763 thuốc, tăng 107,5% so với năm 2017. Kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp trong nhập khẩu nguyên liệu làm thuốc với 3.000 thuốc được công bố nguyên liệu trong năm.

Nhiều thuốc sản xuất trong nước đòi hỏi trình độ công nghệ, yêu cầu kỹ thuật cao đã được thẩm định, cấp phép. Vắc xin cúm đầu tiên - cúm mùa “3 trong 1” gồm cúm A/H1N1/09, A/H3N2, cúm B và vắc xin cúm tiền đại dịch A/H5N1 - do Việt Nam sản xuất đã được công bố thử nghiệm thành công ngày 25/9/2018. Việt Nam cũng đã sản xuất thành công vắc xin sởi, vắc xin phối hợp Sởi - Rubella đạt tiêu chuẩn GMP của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), được nhận giải thưởng của Chủ tịch Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA).

Thị trường thuốc tiếp tục bình ổn, không xảy ra tình trạng tăng giá đột biến. Số lượt mặt hàng thuốc đã kê khai, kê khai lại giá thuốc là 5.561 lượt, trong đó 4.558 lượt đã được công bố trên trang thông tin điện tử của Cục Quản lý dược, 1.003 lượt có giá kê khai chưa hợp ký đã có văn bản trả lời doanh nghiệp.



11. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế

Kiểm tra, hướng dẫn, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, đơn vị về điều kiện sản xuất trang thiết bị y tế theo các quy định mới; trong công tác đầu tư xây dựng cơ bản. Phối hợp với Tổng Cục Hải quan về phân loại trang thiết bị, thông quan hàng hóa, nhập khẩu các sản phẩm giáp ranh, nhập khẩu linh kiện phục vụ cho trang thiết bị y tế. Hướng dẫn công tác đầu tư xây dựng cải tạo nâng cấp trạm Cơ sở y tế xã phường thị trấn.

Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cả công lập, tư nhân và hợp tác công tư như: khu khám bệnh thuộc Dự án Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Việt Đức cơ sở 2 tại Hà Nam; Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Long quy mô 800 giường bệnh; Trung tâm Sản – Nhi Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ 500 giường bệnh; Trung tâm điều trị đa khoa chất lượng cao của Bệnh viện Y học cổ truyền T.Ư 500 giường bệnh; Phần mở rộng theo mô hình hợp tác công – tư của Bệnh viện Đa khoa Bình Định quy mô 600 giường bệnh; Bệnh viện Đa khoa Khu vực Tây Bắc tại Nghệ An: 350 giường bệnh; Cơ Sở 2 Bệnh Viện Gò Vấp 300 giường bệnh, Trung tâm Ung bướu của Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển 200 giường bệnh...

Đã hoàn thành cơ bản và phấn đấu đưa vào sử dụng năm 2019 đối với 04 bệnh viện trung ương và tuyến cuối theo Quyết định 125/QĐ-TTg ngày 16/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ: Cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai, Cơ sở 2 Bệnh viện Việt Đức, Cơ sở 2 Bệnh viện Ung bướu TP. Hồ Chí Minh, Viện Chấn thương chỉnh hình – Bệnh viện 175 Bộ Quốc phòng và một số dự án trọng điểm: Khoa khám bệnh và điều trị ngoại trú Bệnh viện E, Nhà khám đa khoa Bệnh viện Hữu Nghị, Bệnh viện Tuệ Tĩnh – Học viện Y học cổ truyền Việt Nam.



12. Tiếp tục đổi mới đào tạo nguồn nhân lực y tế theo hướng hội nhập quốc tế, bảo đảm nguồn nhân lực.

Tích cực tham mưu và được đưa vào Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 các quy định đặc thù trong đào tạo khối ngành sức khỏe và đào tạo chuyên sâu đặc thù của ngành y tế; được Chính phủ giao Bộ Y tế chủ trì xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về đào tạo chuyên khoa đặc thù trong lĩnh vực sức khỏe.

Tiếp tục triển khai xây dựng chuẩn năng lực cơ bản các ngành Y tế công cộng, Dược, Dinh dưỡng. Tích cực hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị định số 111/2017/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe. Thành lập một số trưởng cao đẳng y tế trên cơ sở nâng cấp từ trường trung cấp15: Bộ Y tế có văn bản gửi Văn phòng Chính phủ về việc đổi mới tổ chức, quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các trường cao đẳng y tế theo kiến nghị của Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam.

Tăng cường quản lý công tác đào tạo chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II, bác sĩ nội trú, đào tạo liên tục cán bộ y tế theo hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Bên cạnh đào tạo về chuyên môn, Bộ Y tế tổ chức các lớp đào tạo về quản lý y tế cho các lãnh đạo sở, trung tâm y tế và các bệnh viện.

Thực hiện Dự án 585 “Thí điểm đưa bác sỹ trẻ về công tác tại vùng khó khăn.”, đã tổ chức 13 khoá đào tạo bác sĩ chuyên khoa cấp I với 300 bác sỹ, đã đưa 28 bác sỹ trẻ tốt nghiệp khóa I và II về làm việc tại các huyện nghèo, trong đó năm 2018 đã đưa 14 bác sỹ trẻ về làm việc tại 12 huyện nghèo thuộc 8 tỉnh, TP.

Năm 2018 tiếp tục thực hiện thành công nhiều kỹ thuật khó, tiên tiến trên thế giới. Ngoài các kỹ thuật thường quy về ghép tim, ghép gan, ghép thận, ghép tủy, giác mạc,.. năm 2018 thực hiện thành công ghép phổi, nhiều ca ghép thành công từ đa tạng của người cho chết não cho nhiều bệnh nhân và lưu trữ vào ngân hàng mô: lấy đồng thời 6 tạng để ghép từ cùng một người cho đa tạng chết não và đã tiến hành ghép 5 tạng cùng một thời điểm cho 4 bệnh nhân (1 tim, 2 phổi, 1 gan, 1 thận), và kết hợp điều phối “xuyên Việt” 1 thận cho bệnh nhi ở thành phố Hồ Chí Minh của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức; ca ghép phổi đầu tiên ở Việt Nam từ người cho chết não tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; phẫu thuật mở lồng ngực sử dụng máy tim phổi nhân tạo do Bệnh viện Phổi TƯ phối hợp với Bệnh viện E thực hiện…



13. Đổi mới cơ chế tài chính y tế, thực hiện lộ trình BHYT toàn dân

Tiếp tục thực hiện mức giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh có tiền lương trên phạm vi toàn quốc, điều chỉnh giá một số dịch vụ cho phù hợp, điều chỉnh giá dịch vụ theo mức lương cơ sở 1.390.000 đồng16 nhưng vẫn bảo đảm mục tiêu kiềm chế tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng, góp phần tăng số đơn vị tự chủ được chi thường xuyên, giảm số người hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cả nước đã có khoảng 160 bệnh viện tự bảo đảm chi thường xuyên, giảm số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước tại các bệnh viện này. Riêng các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế đã có 23 bệnh viện tự bảo đảm được toàn bộ chi thường xuyên, giảm được 25.362 người hưởng lương từ ngân sách nhà nước với số tiền khoảng 2.127 tỷ đồng/năm. Theo báo cáo chưa đầy đủ của 51/63 tỉnh, TP, năm 2018 ngân sách cấp cho các bệnh viện giảm 3.194,6 tỷ đồng so với 2017, riêng các bệnh viện thuộc Bộ Y tế năm 2018 giảm 76 tỷ đồng so với 2017. Ban hành và triển khai thực hiện Chỉ thị số 847/CT-BYT ngày 21/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế về các giải pháp để bảo đảm và nâng cao chất lượng dịch vụ khi thực hiện điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.



Xây dựng và ban hành định mức kinh tế kỹ thuật và phương án giá 05 nhóm dịch vụ y tế dự phòng, kiểm dịch y tế; triển khai xây dựng gói dịch vụ y tế dự phòng.

Tích cực huy động và triển khai các dự án xã hội hóa, hợp tác công tư, dự án ODA, viện trợ không hoàn lại, vay ưu đãi nước ngoài để đầu tư phát triển hệ thống y tế. Trong năm 2018 đã tiếp nhận 05 dự án ODA với tổng số vốn 193 triệu USD17; đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư, đề xuất dự án đối với 06 dự án ODA với tổng số vốn khoảng 322 triệu USD18.

Tiếp tục triển khai việc sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, khẩn trương triển khai thực hiện thoái vốn Tổng Công ty Dược Việt Nam – CTCP.



Đề xuất Chính phủ cơ chế đặt hàng các vắc xin sản xuất trong nước dùng trong tiêm chủng mở rộng và phòng, chống dịch. Thực hiện thành công và mở rộng danh mục thuốc đấu thầu tập trung (thêm 25 hoạt chất với 125 thuốc), đàm phán giá cấp quốc gia (4 thuốc giảm được 551 tỷ đồng, tương đương 18,5% so với giá hiện hành), thí điểm đấu thầu tập trung vật tư y tế19 để giảm giá, giảm chi quỹ BHYT.

Tiếp tục thực hiện các hoạt động để tăng tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế. Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, khoảng 82,38 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ 87,7% dân số. Kê khai, lập danh sách hộ gia đình tham gia BHYT trên toàn quốc cho hơn 92 triệu người với trên 24 triệu hộ gia đình, cơ bản hoàn thiện cơ sở dữ liệu hộ gia đình tham gia BHYT. Phối hợp với Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các bộ ngành liên quan để kiểm tra, giám sát, giải quyết các vướng mắc trong xây dựng và thực hiện chính sách BHYT.



14. Hệ thống thông tin y tế tiếp tục được củng cố

Rà soát, cập nhật các chỉ số quan trọng phục vụ báo cáo Chính phủ và đánh giá thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững. Tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thống kê, cấp chứng chỉ cho cán bộ làm công tác thống kê tại các Vụ, Cục và các Sở Y tế. Tổ chức điều tra thống kê các cơ sở y tế và giường bệnh công lập. Biên soạn và xuất bản một số ấn phẩm thống kê: Niên giám thống kê năm 2016, Báo cáo số liệu sơ bộ năm 2017, Tài khoản y tế quốc gia và tài khoản y tế 5 tỉnh thí điểm năm 2014-2015. Phối hợp với Tổng cục thống kê thực hiện Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám bệnh, chữa bệnh và thanh toán BHYT được đẩy mạnh, 97,3% cơ sở khám chữa bệnh kết nối với cổng thông tin giảm định bảo hiểm y tế. Triển khai Đề án thí điểm hệ thống lưu trữ và truyền tải hình ảnh (PACS) không in phim tại 15 bệnh viện; Đề án ứng dụng công nghệ thông tin tại trạm y tế xã, phường giai đoạn 2018-2020; hệ thống thông tin bệnh viện (triển khai thành công phần mềm đăng ký khám bệnh trực tuyến tại Bệnh viện K). Phát triển hệ thống tư vấn khám, chữa bệnh từ xa, bệnh án điện tử. Xây dựng phần mềm quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử, phần mềm thống kê y tế điện tử và triển khai ở 13 tỉnh; phần mềm cổng thông tin y tế và một số hệ thống thông tin khác làm cơ sở hình thành y tế số. Triển khai Hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng Quốc gia; Hệ thống quản lý thông tin bệnh truyền nhiễm bằng phần mềm tại 1.761 xã, phường, thị trấn của 33 tỉnh, thành phố, từng bước tiến tới thay thế hồ sơ sổ sách để giảm bớt gánh nặng cho các trạm Y tế xã.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hiện đại hóa hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử Bộ Y tế. Nâng cấp hạ tầng trung tâm dữ liệu CNTT y tế đạt mức 2+ theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông. Phối hợp với Mạng lưới thông tin y tế điện tử châu Á để xây dựng LAB liên thông cho y tế Việt Nam; ký thoả thuận với Tập đoàn FPT về việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin y tế giai đoạn 2018-2020. Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích nhằm thúc đẩy cải cách hành chính lĩnh vực y tế. Tháng 11 năm 2018 tổ chức thành công cuộc thi "Y tế thông minh năm 2018".



15. Tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động y tế

Triển khai thực hiện Đề án nâng cao năng lực thanh tra y tế đến năm 2020. Tổ chức nhiều lớp tập huấn, đào tạo nghiệp vụ thanh tra, phòng chống tham nhũng trên toàn quốc20.

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động y tế được đẩy mạnh. Các cơ sở vi phạm được công bố công khai trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế.

Thanh tra Bộ Y tế đã triển khai 69 đoàn thanh tra, kiểm tra, xác minh, trong đó 32 đoàn thanh tra, 17 đoàn kiểm tra, 20 đoàn xác minh giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo. Ban hành 27 kết luận thanh tra, 10 Quyết định thu hồi sản phẩm thực phẩm vi phạm về công bố sản phẩm và ghi nhãn sản phẩm, 36 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền xử phạt 1,266 tỷ đồng.

Đối với lĩnh vực y tế dự phòng, Bộ Y tế (Cục Y tế dự phòng) đã triển khai 04 Đoàn thanh tra chuyên ngành công tác quản lý nhà nước về bảo đảm an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm của Sở Y tế Cà Mau; Thanh tra về chế độ thông tin báo cáo và khai báo bệnh truyền nhiễm của Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa; Thanh tra về kiểm dịch y tế biên giới của Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh và Lạng Sơn; Thanh tra về quản lý, sử dụng vắc xin của Sở Y tế tỉnh Hưng Yên. Tổ chức 09 đoàn kiểm tra của Bộ Y tế đi kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống bệnh không lây nhiễm tại 27 tỉnh, thành phố trên toàn quốc.

Đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm, Bộ Y tế (Cục An toàn thực phẩm, Thanh tra Bộ) đã triển khai 19 đoàn thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm theo kế hoạch và 21 đoàn kiểm tra đột xuất theo yêu cầu của công tác quản lý; đã xử phạt vi phạm hành chính 113 cơ sở với 170 hành vi vi phạm, tổng số tiền phạt 6,086 tỷ đồng. So với năm 2017, số cơ sở xử phạt tăng hơn 2 lần, số tiền xử phạt tăng hơn 3 lần. Cùng với phạt tiền, tạm dừng lưu thông 76 lô sản phẩm vi phạm; thu hồi 56 Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm, 08 Giấy xác nhận nội dung quảng cáo và 09 Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; chuyển Cục Phát thanh truyền hình và thông tin điện tử 23 trường hợp; chuyển cơ quan điều tra 10 vụ việc có dấu hiệu sản xuất, kinh doanh hàng giả.

Đối với lĩnh vực dược, mỹ phẩm, Bộ Y tế (Cục Quản lý Dược) đã triển khai 42 đoàn kiểm tra, xử phạt 41/61 cơ sở được kiểm tra, tổng số tiền phạt là 1,956 tỷ đồng; tước giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc đối với 02 cơ sở; ngừng tiếp nhận hồ sơ đăng ký nguyên liệu làm thuốc đối với 07 cơ sở; ngừng tiếp nhận hồ sơ cấp phép nhập khẩu nguyên liệu làm thuốc đối với 04 cơ sở; chuyển hồ sơ 01 trường hợp vi phạm sang C46 – Bộ Công án điều tra, giải quyết.

Các Sở Y tế tỉnh, thành phố đã tích cực triển khai thanh tra, kiểm tra công tác cấp cứu, khám chữa bệnh, hành nghề y dược tư nhân, giá thuốc… Đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm, cả nước đã tiến hành thanh tra, kiểm tra được 673.490 cơ sở, phát hiện 116.258 cơ sở vi phạm chiếm 17,26%; đã xử lý 41.229 cơ sở (chiếm 35,46% số cơ sở vi phạm), trong đó phạt tiền 35.613 cơ sở với số tiền phạt là 82,565 tỷ đồng; đình chỉ lưu hành sản phẩm: 220 cơ sở; số cơ sở có nhãn phải khắc phục 685; số cơ sở bị tiêu hủy sản phẩm: 3.870 cơ sở; tiêu hủy 3.945 loại thực phẩm do không đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm.

Năm 2018 Tổng đài trực đường dây nóng của Bộ Y tế 1900-9095 đã tiếp nhận tổng số 65.702 cuộc gọi đến đường dây nóng, trong đó 11.336 cuộc gọi phản ánh đúng phạm vi (17,25%), ngành Y tế đã xử lý: Cắt thi đua 91 trường hợp, điều chuyển sang bộ phận khác 18, khiển trách 171 trường hợp, xử lý kỷ luật 07 trường hợp, nghỉ việc 04 trường hợp, cải tiến quy trình khám chữa bệnh 590 trường hợp, cải thiện cơ sở vật chất 259 trường hợp, khen thưởng 126 trường hợp. Hầu hết các ý kiến của người dân đều được chuyển đến các cơ quan chức năng để trả lời theo đúng thẩm quyền và kịp thời. Nhiều ý kiến của người dân được lãnh đạo các cơ sở y tế trực tiếp giải thích cặn kẽ, chu đáo,...

16. Tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế

Ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại của Bộ Y tế. Tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế song phương, đa phương. Tích cực tham dự các hội nghị quốc tế và đóng góp ý kiến xây dựng các chính sách, giải quyết các vấn đề y tế khu vực và toàn cầu21. Tổ chức đón các đoàn khách quốc tế đến dự các hội nghị, hội thảo, các hoạt động hợp tác song phương về y tế.

Tổ chức cuộc họp Nhóm đối tác y tế theo Quý để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và xin ý kiến các tổ chức quốc tế ở Việt Nam về các chính sách lớn của ngành: Cơ chế tài chính cho chăm sóc sức khỏe ban đầu để tiến tới bao phủ y tế toàn dân vào tháng 5/2018; Dự thảo Luật phòng chống tác hại rượu bia vào tháng 7/2018; Củng cố phòng chống, kiểm soát các bệnh không lây nhiễm thông qua cải cách y tế vào tháng 10/2018; Chăm sóc sức khỏe ban đầu gắn với đổi mới hệ thống y tế cơ sở tiến tới Bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân và các Mục tiêu phát triển bền vững về y tế vào tháng 12/2018.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương