Bộ y tế Số: /bc-byt cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 0.72 Mb.
trang1/5
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích0.72 Mb.
  1   2   3   4   5




BỘ Y TẾ

Số: /BC-BYT



CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Hà Nội, ngày tháng năm 2019


BÁO CÁO

Tổng kết công tác y tế năm 2018 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2019


Phần thứ nhất

TỔNG KẾT CÔNG TÁC NĂM 2018

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018, dưới sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự phối hợp của các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW; toàn ngành y tế từ trung ương đến địa phương đã nỗ lực phấn đấu và cơ bản hoàn thành toàn diện các lĩnh vực y tế, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.



I. VỀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Hoàn thành vượt 2 chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ giao là: (i) Số giường bệnh/vạn dân đạt 26,5 (giao 26,0); (ii) Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 87,7% (giao 85,2%). Đạt và vượt 9/11 các chỉ tiêu y tế cơ bản năm 2018 (chi tiết tại Phụ lục kèm theo).

Triển khai thực hiện và đã hoàn thành một số nhiệm vụ của Nghị quyết Trung ương số 20-NQ/TW và 21-NQ/TW về công tác y tế, dân số. Chủ động phòng chống dịch bệnh, không để dịch lớn xảy ra, xây dựng mô hình trạm y tế xã hoạt động theo nguyên lý y học gia đình, lập hồ sơ quản lý sức khỏe. Thực hiện đồng bộ các giải pháp giảm quá tải, nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, mở rộng mạng lưới bệnh viện vệ tinh, liên thông kết quả xét nghiệm, chẩn đoán, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển giao kỹ thuật. Mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế ngày càng tăng. Đẩy mạnh thực hiện lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế, giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập, giảm ngân sách cấp trực tiếp cho các bệnh viện, giảm số biên chế hưởng lương từ ngân sách, tăng số đơn vị tự bảo đảm toàn bộ. Quản lý chất lượng, giá thuốc, đẩy mạnh đấu thầu tập trung theo hướng công khai, minh bạch, bảo đảm lợi ích người bệnh; triển khai kết nối các cơ sở cung ứng thuốc trên toàn quốc. Công tác quản lý an toàn thực phẩm có nhiều tiến bộ, tiếp tục thực hiện thí điểm mô hình thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm; đơn giản hóa thủ tục hành chính phù hợp với yêu cầu thực tiễn và thông lệ quốc tế. Tiếp tục sắp xếp, tinh giản bộ máy các đơn vị sự nghiệp y tế.

Một số kết quả nổi bật của năm 2018 cụ thể như sau:



1. Công tác xây dựng đề án, văn bản quy phạm pháp luật

1.1. Bộ Y tế đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, 21-NQ/TW về công tác y tế, dân số trong tình hình mới và các Nghị quyết của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ, đặc biệt là Nghị quyết 01/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018.

1.2. Xây dựng luật, pháp lệnh:

- Dự án Luật phòng chống tác hại của rượu bia: Đã trình Chính phủ, Quốc hội khóa XIV tại Kỳ họp thứ 6, hiện nay đang hoàn thiện dự thảo Luật, dự kiến trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 7 vào tháng 5/2019.

- Dự án Luật sửa đổi Luật Khám bệnh, chữa bệnh: Đã xây dựng Đề cương Báo cáo đánh giá tác động của chính sách và Đề cương chi tiết dự thảo Luật; đã trình và được Chính phủ đồng ý lùi thời gian trình sang tháng 10/2019.

- Dự án Luật Dân số: Đã trình Chính phủ1, đang tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện theo ý kiến của Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội để trình khi đủ điều kiện.

- Dự án Luật chuyển đổi giới tính: Đã hoàn thành việc xây dựng Tờ trình Chính phủ, báo cáo tiếp thu ý kiến của Hội đồng thẩm định – Bộ Tư pháp đối với hồ sơ dự án Luật, tổ chức các hội thảo xin ý kiến rộng rãi các đối tượng chịu sự tác động cả hai miền Nam và Bắc.

- Dự án Luật Phòng chống HIV/AIDS: Đang hoàn thiện hồ sơ dự án Luật theo ý kiến của Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội.

1.3. Xây dựng các đề án, văn bản trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ:

a) Đã trình và được ban hành 17 đề án/văn bản, gồm có:

- 07 Nghị định của Chính phủ:

+ Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm (thay thế Nghị định 38/2012/NĐ-CP);

+ Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25/6/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm về kiểm dịch y tế biên giới (thay thế Nghị định số 103/2010/NĐ-CP);

+ Nghị định 115/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm;

+ Nghị định 118/2018/NĐ-CP ngày 12/9/2018 quy định về công tác kết hợp quân dân y;

+ Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế;

+ Nghị định số 155/2018/NĐ-CP ngày 12/11/2018 sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế.

+ Nghị định số 169/2018/NĐ-CP ngày 31/12/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 36/2016/NĐ-CP về quản lý trang thiết bị y tế.

- 02 Nghị quyết của Chính phủ:

+ Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 12/01/2018 của Chính phủ (NQ mật về vắc xin).

+ Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 23/3/2018 về việc thí điểm thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm tại huyện, quận, thị xã và xã, phường, thị trấn của 07 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

- 04 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, gồm 03 Quyết định quy phạm pháp luật và 01 Quyết định cá biệt:

+ Quyết định số 33/2018/QĐ-TTg ngày 06/8/2018 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực y tế thuộc thẩm quyền ban hành của Thủ tướng Chính phủ;

+ Quyết định số 47/2018/QĐ-TTg ngày 26/11/2018 về Thí điểm triển khai thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị trận thuộc huyện, quận, thị xã, thành phố của 09 tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Đồng Nai, Gia Lai;

+ Quyết định số 48/2018/QĐ-TTg ngày 29/11/2018 bãi bỏ Quyết định số 54/2014/QĐ-TTg ngày 19/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn thuế nhập khẩu đối với linh kiện nhập khẩu để sản xuất, lắp ráp sản phẩm trang thiết bị y tế cần được ưu tiên nghiên cứu, chế tạo;

+ Quyết định số 1092/QĐ-TTg ngày 02/9/2018 phê duyệt Chương trình sức khỏe Việt Nam;

- 01 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ:

+ Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 23/8/2018 về việc tăng cường quản lý, kết nối các cơ sở cung ứng thuốc.

- 03 Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội:

+ Báo cáo số 165/BC-CP ngày 10/05/2018: Báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm năm 2017.

+ Báo cáo 540/BC-CP ngày 06/11/2018: Báo cáo Kết quả thực hiện Nghị quyết số 43/2017/QH14 về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020.

+ Báo cáo số 447/BC-CP ngày 08/10/2018: Báo cáo tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế và quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm y tế năm 2017.

b) Đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đề nghị phê duyệt 06 đề án/văn bản, đang tiếp tục hoàn thiện theo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ và các Thành viên Chính phủ:

- Nghị định của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực y tế - dân số thay thế Nghị định số 85/2012/NĐ-CP;

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập và hoạt động của Hội đồng Y khoa quốc gia.

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp giữa Trung tâm pháp y cấp tỉnh và Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh trong việc trưng cầu và thực hiện giám định pháp y.

- Đề án thí điểm giao quyền tự chủ toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và đầu tư cho 04 đơn vị2.

- Nhiệm vụ lập quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030.

1.3. Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo thẩm quyền 42 Thông tư hướng dẫn các lĩnh vực chuyên môn y tế.

1.4. Đã hoàn thành việc thực hiện chế độ tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; rà soát các văn bản thuộc phạm vi hệ thống hóa kỳ 2014-2018 với 1.045 văn bản; ban hành 15 văn bản hợp nhất. Tổ chức phổ biến, triển khai các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành; hỗ trợ, giải đáp thắc mắc cho doanh nghiệp.

2. Đổi mới, sắp xếp bộ máy, tinh gọn đầu mối, biên chế.

Tại Bộ Y tế: Ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế, cơ bản giải quyết các chồng chéo chức năng, nhiệm vụ và giảm được 35 phòng trong các Vụ, Cục (từ 94 xuống còn 59 phòng). Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ danh sách đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ. Thực hiện đề án thi tuyển cạnh tranh chức danh lãnh đạo Trường Đại học Y Dược Hải Phòng và xây dựng đề án thi tuyển Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo.

Tại các địa phương: Tiếp tục đẩy nhanh việc thống nhất mô hình trung tâm y tế huyện đa chức năng, trực tiếp quản lý trạm y tế xã, đến nay đã có 52/63 tỉnh, TP thực hiện (21 tỉnh, TP thực hiện từ trước Thông tư liên tịch số 51/2015/TTLT-BYT-BNV), tăng 8 tỉnh, thành phố so với năm 2017. Nếu thực hiện trong toàn quốc sẽ giảm được 437 đầu mối đơn vị, giảm khoảng 1.748 vị trí chức danh lãnh đạo, 10.899 viên chức gián tiếp; do trạm y tế không phải là đơn vị sự nghiệp hoàn chỉnh nên không cần bố trí viên chức gián tiếp (khoảng 10 nghìn nhân viên). Sáp nhập các trung tâm làm nhiệm vụ dự phòng tuyến tỉnh thành Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, đến nay 57 tỉnh, thành phố đã có quy định thành lập3 (tăng 5 tỉnh, thành phố so với năm 2017), trong đó đã chính thức thành lập, đi vào hoạt động 43 trung tâm (tăng 27 trung tâm so với năm 2017). Thực hiện trong toàn quốc sẽ giảm 278 đơn vị tuyến tỉnh, giảm khoảng 1.364 vị trí lãnh đạo, 2.140 viên chức gián tiếp.

3. Tích cực triển khai các hoạt động cải cách thủ tục hành chính

Trong năm 2018, Bộ Y tế đã ban hành 07 văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính. Thực hiện việc công bố mới 75 thủ tục hành chính và bãi bỏ 46 thủ tục hành chính theo đúng quy định của pháp luật (hiện có 575 thủ tục). Rà soát, cập nhật, chỉnh sửa, công khai lại gần 400 thủ tục hành chính. Bộ Y tế đã ký thoả thuận với Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam về tiếp nhận hồ sơ trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích. Bộ Y tế đã chính thức thực hiện cơ chế một cửa quốc gia với việc kết nối 7/23 thủ tục hành chính vào tháng 11/2018 (dự kiến sẽ hoàn thành trong kết nối các thủ tục hành chính còn lại trong tháng 01/2019). Bộ Y tế đã cắt giảm 1.363/1871 điều kiện đầu tư, kinh doanh (đạt 72,85%) và 169/234 thủ tục hành chính (đạt 72,22%).

Trong năm 2018, Bộ Y tế đã xây dựng mới 24 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 và 02 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 thuộc lĩnh vực an toàn thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm. Tính đến thời điểm hiện nay, Bộ Y tế cung cấp 38 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 và 6 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 (giảm 14 dịch vụ công trực tuyến do thay đổi quy trình thủ tục hành chính các lĩnh vực môi trường y tế, an toàn thực phẩm).

Tiếp tục cải cách thủ tục; rà soát, cắt giảm điều kiện kinh doanh; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, nhất là về thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế, triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN. Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm; Nghị định số 155/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế về cơ bản đã chuyển tiền kiểm thành hậu kiểm; Nghị định số 169/2018/NĐ-CP ngày 31/12/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 36/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 về quản lý trang thiết bị y tế. Tổng ước tính sau khi cắt giảm điều điện kinh doanh, thủ tục hành chính và danh mục hàng hóa kiểm tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế đã tiết kiệm cho doanh nghiệp và người dân hơn 8,5 triệu ngày công/năm, khoảng 3.332,5 tỷ đồng/năm (chưa tính các lợi ích khác từ cơ hội kinh doanh).



4. Đẩy mạnh triển khai Đề án xây dựng và phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới4

Đã có khoảng 90% trạm y tế xã có bác sĩ làm việc, 95% trạm y tế xã có bác y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh, 99,7% xã có cơ sở trạm (0,3% phải nhờ cơ sở khác), 99% thôn, bản, ấp có nhân viên y tế hoạt động, 76% xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã.

Số lượng các dịch vụ thực hiện theo phân tuyến kỹ thuật của trung tâm y tế huyện, trạm y tế xã ngày càng tăng, một số đơn vị đã thực hiện được một số kỹ thuật của tuyến trên. Trên 70% người có thẻ BHYT đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại y tế cơ sở. Gần 90% trạm y tế xã thực hiện khám chữa bệnh BHYT. Số lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại y tế cơ sở chiếm khoảng 70% (xã khoảng 20%, huyện khoảng 50%).

Xây dựng và thực hiện mô hình 26 trạm y tế xã điểm theo nguyên lý y học gia đình. Phát triển mô hình phòng khám bác sỹ gia đình ở các nơi có điều kiện, đã có 240 phòng khám bác sỹ gia đình tại 7 tỉnh/TP5. Một số địa phương như Hà Nội, Hà Tĩnh … đã thực hiện quản lý hồ sơ sức khỏe cá nhân cho khoảng 80% dân số. Xây dựng và triển khai hệ thống kết nối y tế từ xa (telemedicine) của 26 trạm y tế xã điểm với các trung tâm y tế, bệnh viện tuyến trên, Sở Y tế và Bộ Y tế.

Ban hành Kế hoạch tăng cường thực hiện điều trị, quản lý tăng huyết áp và đái tháo đường theo nguyên lý y học gia đình tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn giai đoạn 2018-2020. Tổ chức các lớp đào tạo nâng cao chất lượng chăm sóc, quản lý sức khỏe nhân dân và các bệnh mạn tính, không lây nhiễm tại y tế xã, phường. Triển khai gói dịch vụ y tế cơ bản tại tuyến y tế cơ sở.

Xây dựng một số dự án ODA vay vốn WB, ADB đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực cho y tế cơ sở. Hoàn thành phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi và đàm phán đối với 2 dự án vay vốn ADB: “Phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2” với số vốn 110,6 triệu USD và “Chương trình đầu tư phát triển mạng lưới y tế cơ sở vùng khó khăn” với số vốn 93,5 triệu USD. Đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề xuất dự án, đang hoàn thiện Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đối với Dự án vay vốn WB “Đổi mới cung ứng dịch vụ y tế” với số vốn 110 triệu USD.



5. Tăng cường tính chủ động và hiệu quả công tác y tế dự phòng

5.1. Phòng chống dịch bệnh, bệnh không lây nhiễm

Thường xuyên theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên cả nước, đặc biệt tại các khu vực trọng điểm, thiên tai, bão lũ để có chỉ đạo, hỗ trợ kịp thời, ngăn chặn dịch bệnh mới nổi xâm nhập vào Việt Nam. Hầu hết các dịch bệnh truyền nhiễm có số mắc, tử vong giảm đáng kể so với cùng kỳ 20176 (Sốt xuất huyết có số mắc giảm 30% so với năm 2017), mặc dù Tay Chân Miệng và Sởi có số mắc tăng so với cùng kỳ năm 2017, tuy vậy vẫn thấp hơn so với giai đoạn 5 năm vừa qua. Việt Nam được WHO công nhận loại trừ bệnh giun chỉ bạch huyết7. Tiếp tục duy trì tỷ lệ tiêm chủng trên 90%, giữ vững thành quả thanh toán bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh, nhiều bệnh có vắc xin tiêm chủng đã giảm hàng trăm tới hàng nghìn lần so với trước khi có chương trình tiêm chủng mở rộng. Tiếp tục triển khai một số vắc xin mới trong chương trình TCMR như tiêm IPV, uống bOPV phòng bại liệt, chuyển đổi vắc xin Combe Five thay thế vắc xin Quinvaxem.

Tăng cường triển khai chiến lược phòng chống bệnh không lây nhiễm. Tăng cường quản lý bệnh KLN tại tuyến y tế cơ sở đảm bảo phát hiện sớm, dự phòng, tư vấn quản lý người bệnh một cách liên tục, suốt đời, hạn chế tàn tật. Tham gia chỉ đạo tăng cường các hoạt động tuyến tuyến y tế cơ sở. Tập trung phòng chống các yếu tố nguy cơ , thừa cân béo phì, thói quen ăn uống hợp lý để phòng chống các bệnh tiểu đường, ăn giảm muối phòng chống cao huyết áp ... Trong năm 2018, Việt Nam đã được vinh danh và nhận giải thưởng toàn cầu của Quỹ Bloomberg vì những nỗ lực và thành tích trong theo dõi, giám sát sử dụng thuốc lá và các chính sách phòng, chống tác hại của thuốc lá8.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong thống kê báo cáo quản lý dịch bệnh, tiêm chủng, phòng chống bệnh không lây nhiễm nhằm báo cáo chính xác, kịp thời, hiệu quả.



5.2. Tăng cường quản lý môi trường y tế

Ban hành Đề án truyền thông về cải thiện vệ sinh cá nhân, tăng cường tiếp cận với nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2018-2025 và tầm nhìn đến năm 2030; Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành y tế giai đoạn 2019-2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Ban hành các danh mục, quy chuẩn, hướng dẫn chuyên môn về quản lý môi trường y tế9.

Tăng cường công tác quản lý hóa chất, phòng chống bệnh nghề nghiệp, tai nạn thương tích, y tế học đường, môi trường cơ sở y tế. Tiếp nhận, giải quyết 1.506 lượt hồ sơ đăng ký lưu hành, quảng cáo về hóa chất. Số mẫu quan trắc môi trường lao động không đạt tiêu chuẩn vệ sinh chiếm 7,92%, giảm 1,7% so với năm 2017. Khoảng 1,71 triệu người lao động được khám sức khỏe định kỳ, tăng 48% so với năm 2017; 30/63 tỉnh/thành phố thực hiện khám phát hiện được 30/34 loại bệnh nghề nghiệp. Tuy nhiên, số cơ sở lao động lập hồ sơ vệ sinh lao động còn thấp: 12,7% (giảm 1,1% so với năm 2017).

Tỷ lệ chất thải y tế tại các bệnh viện được xử lý theo quy định được duy trì: 99% chất thải rắn y tế nguy hại được xử lý; 478/543 bệnh viện (88%) có hệ thống xử lý nước thải y tế hoạt động tốt, 85% lượng nước thải y tế được xử lý. Tổng lượng nước thải y tế được xử lý đạt yêu cầu đạt 90% tại tuyến tỉnh, 89% tại tuyến huyện, 97% tại các bệnh viện tư nhân; 192 bệnh viện có lò đốt để xử lý chất thải rắn y tế, trong đó: tuyến TW có 01 bệnh viện, tuyến tỉnh có 52 bệnh viện, tuyến huyện có 135 bệnh viện và tư nhân có 04 bệnh viện.

Tỷ lệ hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh toàn quốc là 71,9%: Đồng bằng sông Hồng 97,8%, Đông Nam Bộ 97,1%, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung 84%, Trung du và Miền núi phía Bắc 67,6%, Đồng bằng sông Cửu Long 67,3%, và các tỉnh Tây Nguyên 63,3%. Tỷ lệ các cơ sở cấp nước từ 1.000m3/ngày đêm trở lên đạt vệ sinh chung là 88%; Tỷ lệ các cơ sở cấp nước < 1.000m3/ngày đêm trở lên đạt vệ sinh chung là 76,5%.

Tình hình mắc và tử vong do tai nạn thương tích có xu hướng giảm so với năm 2017: 576.949 trường hợp mắc tai nạn thương tích với tỷ suất là 630,4 trên 100 nghìn dân (giảm 8,3%); 4.739 trường hợp tử vong chiếm tỉ lệ 0,82% (giảm 5,1%); số mắc tai nạn giao thông giảm 8,7%, số tử vong do tai nạn giao thông giảm 0,5%; số mắc đuối nước giảm 22,1%, số tử vong do đuối nước tăng 9,1%.

Triển khai các hoạt động truyền thông về quản lý chất thải y tế, xây dựng cơ sở y tế Xanh – Sạch – Đẹp; thí điểm mô hình cơ sở y tế xanh sạch đẹp tại 5 bệnh viện thuộc tỉnh Hà Giang, Hà Tĩnh và Hưng Yên. Tiến hành rà soát tổ chức và năng lực phòng khám bệnh nghề nghiệp và đơn vị thực hiện quan trắc môi trường lao động tại tuyến tỉnh. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường, nước sạch, hóa chất, an toàn và vệ sinh lao động, chất thải y tế10.

5.3. Phòng chống HIV/AIDS

Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng được kiểm soát ở mức dưới 0,3%. Năm 2018 phát hiện mới khoảng 10 nghìn người nhiễm HIV, 2 nghìn trường hợp tử vong, không thay đổi đáng kể so với năm 2017. Tính đến nay, tổng số người nhiễm HIV còn sống là 208,8 nghìn người, trong đó 94,9 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS; số người tử vong do HIV/AIDS là 98,5 nghìn người.

Các hoạt động truyền thông về HIV/AIDS được đẩy mạnh, ước tính có 713.343 lượt truyền thông được triển khai trên toàn quốc, hàng trăm bài báo đưa tin về công tác điều trị, xét nghiệm HIV, thực hiện các mục tiêu 90-90-90 vào năm 2020 và hướng tới kết thúc AIDS vào năm 2030, sử dụng bảo hiểm y tế cho người nhiễm HIV. Phân phát bơm kim tiêm sạch cho khoảng 105.819 người nghiện chích ma túy; phân phát bao cao su cho hơn 62.380 người nghiện chích ma túy, 35.519 phụ nữ bán dâm, 67.648 nam quan hệ tình dục đồng giới và 16.475 vợ, bạn tình của người nhiễm HIV tại 52 tỉnh, TP.

Đẩy mạnh điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone (số bệnh nhân do ngành Y tế điều trị là 93,54%, ngành Lao động-thương binh và xã hội là 6,44%, ngành Công an là 0,02%). Mở rộng số cơ sở điều trị Methadone từ 294 cơ sở năm 2017 lên 314 cơ sở năm 2018 ở tất cả 63 tỉnh, TP với 54.255 bệnh nhân, tăng 2.919 bệnh nhân so với năm 2017. Bộ Y tế cũng đang xây dựng Đề án điều trị nghiện các chất dang thuốc phiện bằng Burpronorphine.

Toàn quốc có 1.345 cơ sở y tế cung cấp dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV, 144 phòng xét nghiệm HIV được phép khẳng định các trường hợp HIV dương tính (tăng 9 phòng so với năm 2017) và khoảng 1.300 phòng xét nghiệm sàng lọc HIV ở tất cả 100% số huyện trên toàn quốc. Điều trị ARV được triển khai tại tất cả 63 tỉnh/thành phố, số phòng khám điều trị ARV tăng từ 401 phòng năm 2017 lên 429 phòng năm 2018, triển khai cấp phát thuốc ARV tại 652 trạm y tế (tăng 90 TYT so với năm 2017), 32 trại giam và 02 trại tạm giam.

Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS tham gia bảo hiểm y tế tăng đáng kể, từ 50% vào tháng 10/201611 lên khoảng 90% hiện nay. Nhiều tỉnh/TP đạt tỷ lệ 100% bệnh nhân đang điều trị ARV có thẻ BHYT như Ninh Thuận, Lai Châu, Cao Bằng, Cà Mau. Hoàn thành đấu thầu tập trung mua thuốc ARV năm 2019 sử dụng nguồn quỹ khám bệnh, chữa bệnh BHYT để có thể triển khai ngay từ đầu năm 2019.



6. Bảo đảm an toàn thực phẩm

Chất lượng, hiệu quả sự phối hợp liên ngành nông nghiệp, công thương, công an, y tế trong kiểm soát chất cấm, kiểm soát lạm dụng hóa chất công nghiệp, kiểm soát tạp chất trong nguyên liệu thủy sản... được nâng cao. Công tác giám sát, phân tích nguy cơ tiếp tục được duy trì, triển khai bài bản, đã kịp thời đưa ra cảnh báo, xử lý các trường hợp, sự cố mất an toàn thực phẩm, thông tin kịp thời đến người tiêu dùng.

Công tác phòng, chống ngộ độc thực phẩm được triển khai quyết liệt, đồng bộ (số vụ, số người mắc, số đi viện, số người tử vong đều giảm), bảo đảm an toàn thực phẩm phục vụ 08 hoạt động và sự kiện lớn quốc gia12. Toàn quốc đã xảy ra 97 vụ ngộ độc thực phẩm với với 3.340 người mắc, 2.944 người đi viện, 16 người tử vong. So với năm 2017, tình hình ngộ độc thực phẩm được kiểm soát: giảm 44 vụ (31,2%), giảm 560 người mắc (14,4%), giảm 783 người đi viện (21,0%), giảm 8 người tử vong (33,3%).

Công tác kiểm nghiệm, giám sát an toàn thực phẩm lưu thông trong nước được đặc biệt quan tâm: Các Viện chuyên ngành của Bộ Y tế và Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc, Mỹ phẩm, Thực phẩm Thừa Thiên Huế đã giám sát được 9.338 mẫu, trong đó đã phát hiện 1.229 mẫu có kết quả giám sát không đạt (13,1%). Các tỉnh, thành phố đã giám sát 11.382 mẫu thực phẩm, trong đó 811 mẫu không đạt (7,13%).

Năm 2018 công tác thanh, kiểm tra an toàn thực phẩm đã được triển khai đồng bộ, quyết liệt từ trung ương đến địa phương, có sự vào cuộc của các cấp, ngành chức năng liên quan, việc xử lý vi phạm trở nên nghiêm minh hơn, số tiền xử phạt tăng nhiều lần so với trước. Bộ Y tế và 63 tỉnh, thành phố đã xử phạt vi phạm hành chính gần 89 tỷ đồng, tăng 1,4 lần so với cùng kỳ năm 2017.

7. Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển dân số bền vững, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em.

Dân số trung bình năm 2018 của cả nước ước tính 94,67 triệu người, tỷ lệ tăng dân số là 1,07. Tiếp tục đạt được mức sinh thay thế, tổng tỷ suất sinh ước tính đạt 2,05 con/phụ nữ. Tỷ suất tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi trên 1.000 trẻ sinh ra sống là 14,24‰ (giảm so với năm 2017: 14,35‰) . Tỷ suất tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi trên 1.000 trẻ sinh ra sống là 21,38‰ (giảm so với năm 2017: 21,55‰). Tuy nhiên, tuổi thọ trung bình không tăng so với năm 2017: 73,5 năm, trong đó nam là 70,9 năm và nữ là 76,2 năm; tỷ số giới tính khi sinh tăng hơn so với năm 2017: 115,1 bé trai/100 bé gái (năm 2017: 112,4).



Triển khai các hoạt động về nâng cao chất lượng dân số: mở rộng sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh, tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân, chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi. Cung cấp đầy đủ, kịp thời các phương tiện tránh thai theo nhu cầu của 63 tỉnh, thành phố và các bộ ngành. Xây dựng Chiến lược Dân số đến năm 2030, Đề án truyền thông dân số đến năm 2030 trình Chính phủ trong tháng 12/2018; trình Thủ tướng Chính phủ báo cáo sơ kết tình hình thực hiện Nghị định số 39/2015/NĐ-CP ngày 27/4/2015 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số.

Xây dựng Đề án chăm sóc dinh dưỡng 1000 ngày đầu đời góp phần nâng cao tầm vóc, thể lực của người Việt Nam; phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xây dựng Đề án “Cung ứng và truyền thông, tư vấn trực tiếp cho công nhân lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất về chăm sóc sức khỏe sinh sản", dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ vào Quý II/2019. Ban hành “Kế hoạch hành động quốc gia tiến tới loại trừ HIV, viêm gan B và giang mai lây truyền từ mẹ sang con giai đoạn 2018-2030”.

Tiếp tục thực hiện các hoạt động tăng khả năng tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lượng, triển khai các giải pháp nhằm hạn chế tai biến sản khoa, giảm tử vong bà mẹ và trẻ em. Tăng cường công tác truyền thông nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em; xử lý việc truyền bá qua mạng xã hội các hành vi phản khoa học gây nguy hại tính mạng sản phụ và trẻ sơ sinh (quảng bá việc sinh con thuận theo tự nhiên). Tổ chức đào tạo sàng lọc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung tại cộng đồng. Triển khai mở rộng sổ theo dõi sức khoẻ bà mẹ và trẻ em tại các cơ sở y tế.




Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương