Bộ TÀi chính cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc



tải về 272.47 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu12.08.2018
Kích272.47 Kb.
  1   2   3

BỘ TÀI CHÍNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


BÁO CÁO

Đánh giá tác động dự án Luật thuế tài sản
I. XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ BẤT CẬP TỔNG QUAN

1. Bối cảnh xây dựng chính sách

a) Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính sách tài chính đối với tài sản và thực hiện tái cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước

Tại Nghị quyết 19-NQ/TW (Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đã nêu: Nghiên cứu ban hành thuế bất động sản (đối tượng chịu thuế phải bao gồm cả đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất)”.

Tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững đã đề ra một trong các mục tiêu là: “cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô”; đồng thời đề ra một trong các giải pháp thực hiện là: “tập trung cơ cấu lại nguồn thu; hoàn thiện chính sách thu gắn với cơ cấu lại thu ngân sách nhà nước theo hướng bao quát toàn bộ các nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, nhất là các nguồn thu mới, phù hợp với thông lệ quốc tế;... khai thác tốt thuế thu từ tài sản, tài nguyên, bảo vệ môi trường”.

Tại Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 09/11/2016 của Quốc hội về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020 đã đề ra một trong các mục tiêu là: “tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế và cơ chế tài chính quốc gia; huy động, phân phối, quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, đáp ứng yêu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; từng bước cơ cấu lại thu ngân sách nhà nước”; đồng thời đề ra một trong các giải pháp thực hiện là: “nghiên cứu bổ sung thuế tài sản phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam”.

Tại Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011 có nội dung: ...hoàn thiện chính sách tài chính, thuế liên quan đến đất đai nhằm khuyến khích sử dụng có hiệu quả, khuyến khích hạn chế đầu cơ tài nguyên đất đai, nhà ở”.

Tại Quyết định số 2174/QĐ-TTg ngày 12/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai và tài sản nhà nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2013-2020 có đưa ra nhiệm vụ: “Chủ động nghiên cứu trình Quốc hội ban hành Luật thuế tài sản vào thời điểm thích hợp, trong đó đối tượng chịu thuế tài sản phải bao gồm cả đất và tài sản gắn liền với đất”.

Tại Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ) có nêu:“Nghiên cứu xây dựng chính sách thuế điều tiết với nhà, tài sản có giá trị lớn vào thời điểm thích hợp”.

b) Thực hiện mục tiêu cải cách chính sách thuế, góp phần xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, bao quát nguồn thu, tạo nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, thuế tài sản là một loại thuế ra đời sớm trong hệ thống thuế của đa số các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển. Hiện có 174/193 nước thực hiện thu thuế tài sản (thuế thu hàng năm, trong quá trình sử dụng tài sản) với nhiều tên gọi khác nhau. Đối tượng chịu thuế tài sản ở các nước chủ yếu là đất và nhà.

Thuế tài sản ở các nước thể hiện vai trò quan trọng trong tổng thu ngân sách của các quốc gia, chiếm tỷ lệ trung bình 3-4% so với tổng thu thuế ở các nước phát triển, một số nước tỷ lệ này lên đến 8% như Nhật Bản. Ở các nước đang phát triển và chuyển đổi, tỷ lệ này thấp hơn. Xét trong giai đoạn 2005-2013, tỷ lệ thu thuế tài sản (thuế thu hàng năm, trong quá trình sử dụng tài sản) so với GDP ở các nước phát triển và một số nước đang phát triển ở khu vực Châu Á là khoảng 2% GDP.

Ở Việt Nam, qua đánh giá cho thấy thuế thu hàng năm, trong quá trình sử dụng tài sản (thuế SDĐPNN, thuế SDĐNN) chỉ chiếm khoảng 0,036% GDP và mới chỉ điều tiết đối với đất.

Để bao quát nguồn thu từ tài sản, thực hiện cải cách hệ thống chính sách thuế, góp phần xây dựng hệ thống thuế đồng bộ cần thiết phải nghiên cứu điều chỉnh mức thu thuế trong quá trình sử dụng đối với đất và nghiên cứu bổ sung thu thuế đối với nhà và các tài sản khác cho phù hợp.

c) Góp phần quản lý nhà nước đối với tài sản, phù hợp với thông lệ quốc tế và bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các nước sử dụng thuế tài sản như một công cụ tài chính hữu hiệu để tăng cường quản lý việc sử dụng tài sản của tổ chức, cá nhân, đồng thời có thêm nguồn lực đầu tư trở lại đất đai, điều tiết một phần nhỏ thu nhập của tổ chức, cá nhân có nhiều tài sản nhà, đất góp phần đảm bảo công bằng xã hội.

Để tăng cường quản lý việc sử dụng tài sản của tổ chức, cá nhân, khai thác tốt nguồn thu từ tài sản, một trong những yêu cầu đặt ra là phải đổi mới, hoàn thiện thể chế, trong đó cải cách chính sách thuế nhằm điều chỉnh kịp thời các hoạt động kinh tế đảm bảo phù hợp với định hướng phát triển kinh tế-xã hội và bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tạo thuận lợi và bảo vệ lợi ích quốc gia trong việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.

Như vậy, để thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách thuế đối với tài sản và thực hiện tái cơ cấu nguồn thu NSNN; thực hiện cải cách hệ thống thuế, góp phần xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ; góp phần quản lý nhà nước đối với tài sản, khai thác tốt nguồn thu từ tài sản, phù hợp với thông lệ quốc tế thì việc ban hành Luật thuế tài sản để thay thế cho các sắc thuế trong quá trình sử dụng tài sản hiện hành là cần thiết.

2. Mục tiêu của việc ban hành Luật thuế tài sản

- Thể chế hoá chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về tiếp tục cải cách chính sách thuế đối với tài sản; thực hiện cải cách hệ thống thuế, góp phần xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp với các quy định của Hiến pháp, thống nhất và đồng bộ với các văn bản pháp luật khác có liên quan.

- Đảm bảo mở rộng cơ sở thuế, bao quát nguồn thu từ thuế tài sản, phù hợp với thông lệ quốc tế về thuế tài sản.

- Tăng cường quản lý nhà nước đối với tài sản, đồng thời có thêm nguồn lực đầu tư trở lại đất đai, điều tiết một phần nhỏ thu nhập của tổ chức, cá nhân có nhiều tài sản nhà, đất, góp phần đảm bảo công bằng xã hội.

- Kế thừa, luật hoá các quy định của pháp luật hiện hành về thuế liên quan đến sử dụng đất còn phù hợp.

II. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH

1. Về quy định đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế

a) Xác định vấn đề

- Theo quy định của Luật đất đai 2013, đất đai được phân loại theo mục đích sử dụng như sau: Nhóm đất nông nghiệp; Nhóm đất phi nông nghiệp (gồm đất ở; đất xây dựng trụ sở cơ quan; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất xây dựng công trình sự nghiệp; đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp; đất sử dụng vào mục đích công cộng; đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối, và mặt nước chuyên dùng; đất phi nông nghiệp khác) và Nhóm đất chưa sử dụng (đất chưa xác định mục đích sử dụng).

- Theo quy định của pháp luật về thuế SDĐNN và thuế SDĐPNN hiện hành thì:

+ Đối tượng chịu thuế SDĐNN gồm: đất trồng trọt; đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản; đất rừng trồng. Hiện thuế SDĐNN đang được miễn đến hết năm 2020 theo quy định tại Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 về miễn, giảm thuế SDĐNN đến hết năm 2020 và Nghị quyết số 28/2016/QH14 ngày 11/11/2016 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị quyết số 55/2010/QH12.

+ Đối tượng chịu thuế SDĐPNN gồm: đất ở nông thôn, đất ở đô thị; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp (bao gồm: đất xây dựng khu công nghiệp đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm); và đất phi nông nghiệp khác sử dụng vào mục đích kinh doanh.

- Theo quy định hiện hành của pháp luật về xây dựng và nhà ở1 thì nhà và công trình xây dựng trên đất (tài sản gắn liền với đất) được phân cấp theo mục đích sử dụng nhà và công trình như sau: Nhà ở, nhà và công trình công cộng, nhà và công trình công nghiệp, công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị. Pháp luật về thuế hiện hành chưa quy định đánh thuế trong quá trình sử dụng nhà.

- Pháp luật hiện hành quy định về các loại tài sản khác như sau: Các loại tài sản khác ngoài nhà, đất phải đăng ký quyền sở hữu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (hiện đang thu lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sở hữu tài sản) gồm: Ô tô (ô tô, rơ moóc, sơ mi rơ moóc được kéo bở ô tô, các loại xe tương tự phải đăng ký, gắn biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp); Xe máy (xe mô tô hai bánh, xe mô tô 3 bánh, xe gắn máy, các loại xe tương tự phải đăng ký, gắn biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp); Tàu bay; Tàu thủy, thuyền (bao gồm cả du thuyền); Súng săn, súng dùng để tập luyện, thi đấu thể thao; Vỏ, tổng thành khung, tổng thành máy của ô tô, xe máy, tàu thủy, thuyền, tàu bay. Pháp luật về thuế hiện hành chưa quy định đánh thuế trong quá trình sử dụng các tài sản khác.

- Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hầu hết các nước đánh thuế tài sản đối với đất gồm đất ở, đất sản xuất kinh doanh; Đối với đất nông nghiệp, một số nước đưa vào đối tượng miễn thuế như Bun-ga-ri, Anh, Et-to-ni-a, Ac-me-ni-a..., một số nước không đánh thuế hoặc đưa vào đối tượng không chịu thuế như: In-đô-nê-xi-a, Đài Loan, Thái Lan, hầu hết các nước Châu phi…

Đối với các loại động sản, hiện chỉ có 3 nước đánh thuế tài sản đối với động sản bao gồm máy móc thiết bị, phương tiện (trong đó có ô tô, tàu bay, tàu thuyền) là Hàn Quốc, Ky-zắc-tan và Bô-li-vi-a (Hàn Quốc chỉ đánh thuế đối với tàu bay, du thuyền).

Đối với nhà, nhiều quốc gia đánh thuế nhà, trong đó có nhà sử dụng cho mục đích kinh doanh vì cho rằng người được hưởng lợi từ việc sử dụng kết cấu hạ tầng giao thông, phúc lợi xã hội sẽ phải có nghĩa vụ đối với nhà nước. Một số quốc gia có quy định cụ thể đánh thuế đối với nhà sử dụng cho mục đích kinh doanh như: Hàn Quốc quy định các loại nhà chịu thuế tài sản gồm nhà ở, nhà cho sân golf và các dịch vụ xa xỉ, tòa nhà dùng để làm nhà máy ở khu dân cư và các tòa nhà với mục đích khác; Đài Loan quy định các loại nhà chịu thuế là nhà ở và nhà, công trình xây dựng cho mục đích thương mại; Sing-ga-po quy định thu thuế đối với nhà ở, tòa nhà (trong đó có nhà thương mại, công nghiệp); Phi-lip-pin quy định các loại nhà chịu thuế gồm nhà ở, nhà kinh doanh; Brunei chỉ đánh thuế nhà, trong đó có nhà thương mại; Cam-pu-chia quy định thu thuế đối với nhà ở, tòa nhà và công trình trên đất.

Như vậy, pháp luật về thuế SDĐPNN và thuế SDĐNN đã quy định cụ thể về đối tượng chịu thuế. Tuy nhiên, để bảo quát hết các loại tài sản trên thực tế và đảm bảo tính khả thi trong quá trình thực hiện, phù hợp với thông lệ quốc tế, cần thiết nghiên cứu quy định đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế tài sản cho phù hợp.

b) Mục tiêu giải quyết vấn đề

- Quy định rõ đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế đảm bảo tính khả thi, hiệu quả trong quá trình thực hiện; phù hợp với thông lệ quốc tế.

- Phù hợp với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

- Phù hợp với quy định của Luật đất đai về việc phân loại đất.

- Phù hợp với quy định của pháp luật về xây dựng và nhà ở về việc phân loại nhà và công trình xây dựng trên đất.

- Tránh xáo trộn trong quản lý thuế, kế thừa được hệ thống cơ sở dữ liệu thu thuế SDĐPNN đã có sẵn.



c) Các giải pháp đề xuất để giải quyết vấn đề

(i) Giải pháp 1:

- Đối tượng chịu thuế là nhà ở và đất (đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và đất phi nông nghiệp thuộc đối tượng không chịu thuế nhưng sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc để ở).

- Đối tượng không chịu thuế là các loại đất phi nông nghiệp không sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc để ở, đất nông nghiệp, nhà và tài sản gắn liền với đất không phải là nhà ở.

(ii) Giải pháp 2:

- Đối tượng chịu thuế là nhà ở; nhà và công trình thương mại, dịch vụ; đất (đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và đất phi nông nghiệp thuộc đối tượng không chịu thuế nhưng sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc để ở) và tàu bay, du thuyền, ô tô có giá trị từ 1,5 tỷ đồng trở lên.

- Đối tượng không chịu thuế là các loại đất phi nông nghiệp không sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc để ở, đất nông nghiệp, nhà và tài sản gắn liền với đất không phải là nhà ở, nhà và công trình thương mại để ở; tàu bay, du thuyền, ô tô phục vụ mục đích kinh doanh và tàu bay, du thuyền, ô tô có giá trị dưới 1,5 tỷ đồng.

d) Đánh giá tác động của các giải pháp và kiến nghị lựa chọn

(i) Giải pháp 1:

- Đối tượng chịu thuế là nhà ở và đất (đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và đất phi nông nghiệp thuộc đối tượng không chịu thuế nhưng sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc để ở).

- Đối tượng không chịu thuế là các loại đất phi nông nghiệp không sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc để ở, đất nông nghiệp, nhà và tài sản gắn liền với đất không phải là nhà ở.



* Tác động tích cực:

- Đảm bảo tính kế thừa quy định hiện hành về thuế SDĐPNN: Việc thu thuế SDĐPNN có ý nghĩa trong việc thiết lập cơ sở dữ liệu về đất, tạo hành lang pháp lý để quản lý đất đai, góp phần tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách địa phương. Do đó, việc tiếp tục thực hiện thu thuế trong quá trình SDĐPNN là cần thiết và đảm bảo tính khả thi.

- Phù hợp với thông lệ quốc tế: các nước chủ yếu đánh thuế tài sản đối với nhà và đất. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chỉ có 3 nước đánh thuế tài sản đối với động sản (trong đó có) ô tô, tàu bay, du thuyền là Hàn Quốc, Ky-zắc-tan và Bô-li-vi-a.

- Việc bổ sung đối tượng chịu thuế đối với nhà ở là có tính khả thi, đảm bảo hạn chế đầu cơ nhà ở, khuyến khích sử dụng nhà ở tiết kiệm, có hiệu quả, phù hợp với chính sách phát triển nhà ở, đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế và lợi ích về xã hội. Ngoài ra, việc bổ sung thu thuế đối với nhà ở là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay.

- Việc bổ sung đối tượng không chịu thuế là đất nông nghiệp là phù hợp, góp phần tiếp tục thực hiện các kết quả đạt được của việc miễn thuế SDĐNN. (là giải pháp góp phần thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; khuyến khích tích tụ ruộng đất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng hiện đại hóa, giảm bớt khó khăn cho người nông dân, khuyến khích đầu tư, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển bền vững; và phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế). Để tiếp tục thực hiện các mục tiêu trên thì việc thực hiện thu thuế trong quá trình SDĐNN sau năm 2020 là rất khó khả thi.

* Tác động tiêu cực:

- Việc đánh thuế đối với nhà ở đòi hỏi cơ sở dữ liệu đầy đủ về nhà ở, cần sự phối hợp giữa cơ quan xây dựng, cơ quan tài nguyên và môi trường.

- Có thể nhận được ý kiến trái chiều từ phía người nộp thuế do đây là chính sách mới, cần thiết có kế hoạch thông tin, tuyên truyền và tổ chức thực hiện.

(ii) Giải pháp 2:

- Đối tượng chịu thuế là nhà ở; nhà và công trình thương mại, dịch vụ; đất (đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và đất phi nông nghiệp thuộc đối tượng không chịu thuế nhưng sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc để ở) và tàu bay, du thuyền, ô tô có giá trị từ 1,5 tỷ đồng trở lên.

- Đối tượng không chịu thuế là các loại đất phi nông nghiệp không sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc để ở, đất nông nghiệp, nhà và tài sản gắn liền với đất không phải là nhà ở, nhà và công trình thương mại để ở; tàu bay, du thuyền, ô tô phục vụ mục đích kinh doanh và tàu bay, du thuyền, ô tô có giá trị dưới 1,5 tỷ đồng.



* Tác động tích cực:

- Đảm bảo tính kế thừa quy định hiện hành về thuế SDĐPNN: Việc thu thuế SDĐPNN có ý nghĩa trong việc thiết lập cơ sở dữ liệu về đất, tạo hành lang pháp lý để quản lý đất đai, góp phần tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách địa phương. Do đó, việc tiếp tục thực hiện thu thuế trong quá trình SDĐPNN là cần thiết và đảm bảo tính khả thi.

- Phù hợp với thông lệ quốc tế về việc đánh thuế tài sản đối với nhà và đất.

- Việc bổ sung đối tượng chịu thuế đối với nhà là có tính khả thi, đảm bảo hạn chế đầu cơ nhà, khuyến khích sử dụng nhà ở tiết kiệm, có hiệu quả, phù hợp với chính sách phát triển nhà, đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế và lợi ích về xã hội. Ngoài ra, việc bổ sung thu thuế đối với nhà ở là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay.

- Việc bổ sung đối tượng không chịu thuế là đất nông nghiệp là phù hợp, góp phần tiếp tục thực hiện các kết quả đạt được của việc miễn thuế SDĐNN.

* Tác động tiêu cực:

- Giải pháp này có tác động tiêu cực tương tự giải pháp 1 là việc đánh thuế đối với nhà đòi hỏi cơ sở dữ liệu đầy đủ về nhà; Có thể nhận được ý kiến trái chiều từ phía người nộp thuế.

- Việc đánh thuế đối với nhà và công trình thương mại, dịch vụ sẽ có tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

- Về việc đánh thuế đối với tàu bay, du thuyền, ô tô từ 1,5 tỷ trở lên: Theo số liệu do Bộ GTVT cung cấp thì 100% số lượng tàu bay, du thuyền đăng ký trên toàn quốc đều thuộc sở hữu tổ chức, không có tàu bay, du thuyền nào thuộc sở hữu tư nhân.



2. Về giá tính thuế và thuế suất

a) Xác định vấn đề

Luật thuế tài sản là luật mới, do đó, cần thiết quy định giá tính thuế theo hướng rõ ràng, đảm bảo tính khả thi trong quá trình áp dụng; đồng thời phải quy định mức thuế suất phù hợp với thu nhập người dân, phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần thực hiện mục tiêu khai thác tốt nguồn thu từ thuế tài sản và mục tiêu tái cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước đã được nêu tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 09/11/2016 của Quốc hội.

Qua tổng kết, đánh giá cho thấy mức thuế SDĐPNN còn thấp, chưa đáp ứng là nguồn thu ổn định của ngân sách địa phương để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống người dân tại địa phương.

Qua tổng kết cho thấy thuế thu hàng năm, trong quá trình sử dụng tài sản (thuế SDĐPNN, thuế SDĐNN) chỉ chiếm khoảng 0,036% GDP và mới chỉ điều tiết đối với đất.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, mức thuế suất thuế tài sản một số nước như sau: Hàn Quốc: 0,2% đến 0,5% đối với đất (riêng đất xây dựng khu golf và đất xây dựng khu du lịch hạng sang là 4%); từ 0,1% đến 0,4% đối với nhà ở (riêng villa 0,4%); 0,4% đối với nhà cho sân golf và các dịch vụ xa xỉ; 0,5% đối với tòa nhà dùng để làm nhà máy ở khu dân cư (nhà máy mới xây dựng ở vùng có mật độ dân số lớn thì áp dụng mức 250%); 0,25% đối với các tòa nhà mục đích khác. Ngoài thuế tài sản, Hàn Quốc còn thu thuế bất động sản từ 0,5% đến 2% đối với đất có giá trị vượt ngưỡng quy định. Đài Loan: từ 0,2% đến 5% tùy từng loại đất, diện tích; từ 1,2% đến 2% đối với nhà chung cư; 3% đến 5% đối với nhà, công trình xây dựng cho mục đích thương mại. Sing-ga-po: từ 4% đến 16% theo giá trị nhà, đất vượt ngưỡng (trong đó nhà thương mại, nhà công nghiệp và đất là 10%). Phi-lip-pin: 2% ở Manila, 1% ở tỉnh khác đối với nhà ở, nhà kinh doanh, đất ở, đất xây dựng công trình. Nhật Bản: 1,4% đến 2,1% đối với nhà, đất. Phần Lan: 1,2% đến 2% (riêng đất thương mại, công nghiệp, nhà đất vượt quá mức 29.200USD áp dụng mức 2% +30% của 2%). In-đô-nê-xia: 0,5% đối với nhà, đất có giá trị vượt 8.000.000Rp. Thụy Sỹ: từ 0,5% đến 3%. Hungary: 1,5%. Hy Lạp: 0,3% đến 0,8%. Campuchia quy định mức thuế bất động sản 0,1% đối với đất, nhà ở, tòa nhà và công trình xây dựng trên đất có giá trị trên 100 triệu KhR ở một số thành phố. Brunei không đánh thuế đối với đất, chỉ đánh thuế đối với nhà (trong đó có nhà thương mại) với mức thuế suất 12% giá trị cho thuê.

Ngoài việc quy định mức thuế suất thuế tài sản trong Luật, một số nước còn giao cho chính quyền địa phương quy định mức thuế tài sản cụ thể để áp dụng tại địa phương cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Ví dụ như: Pháp, Nhật Bản, Thụy Sỹ, Canada, Trung Quốc, Đài Loan, Phần Lan...

Đối với nhà, đất không sử dụng, các nước quy định mức thuế suất cao hơn hoặc áp dụng mức thuế suất bổ sung đối với trường hợp đất không sử dụng, như: Sing-ga-po áp dụng mức thuế suất từ 10% đến 20% đối với nhà, đất không sử dụng; Anh đánh thuế tăng thêm 50% mức thuế suất cơ bản nếu để trống từ 2 năm trở lên; Canada thu thêm 1% trên giá trị tài sản nếu nhà, đất không sử dụng trên 6 tháng; Úc áp dụng mức thuế suất bổ sung 1%; Lào áp dụng mức thuế suất bổ sung 2%...

Thuế tài sản là nguồn thu quan trọng, ổn định và bền vững, nhất là cho các cấp chính quyền địa phương, đóng góp từ 20-60% số thu cho NSĐP.



b) Mục tiêu giải quyết vấn đề

- Đảm bảo đơn giản, dễ hiểu và khả thi trong quá trình áp dụng.

- Phù hợp với quy định của Luật đất đai về căn cứ tính thuế sử dụng đất.

- Đảm bảo tính vững chắc của căn cứ tính thuế.

- Phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam, phù hợp với thông lệ quốc tế.

c) Các giải pháp đề xuất để giải quyết vấn đề

c1) Giá 1m2 đất tính thuế:

(i) Giải pháp 1: Giá 1m2 đất tính thuế được xác định theo giá 1m2 đất tại Bảng giá đất do UBND cấp tỉnh công bố tại thời điểm tính thuế.

(ii) Giải pháp 2: Giá 1m2 đất tính thuế được xác định theo giá 1 m2 đất thực tế trên thị trường (giá thị trường) tại thời điểm tính thuế.

c2) Về thuế suất

(i) Giải pháp 1:

- Đối với đất ở (bao gồm cả trường hợp sử dụng để kinh doanh; đất xây dựng nhà chung cư): áp dụng mức thuế suất là 0,3% trên toàn bộ giá trị đất.

- Đối với nhà thuộc đối tượng chịu thuế:



Giải pháp a:

STT

Giá trị nhà tính thuế

Thuế suất

1

Phần giá tính thuế đối với nhà từ 1 tỷ đồng trở xuống

0%

2

Phần giá tính thuế đối với nhà trên 1 tỷ đồng

0,3%

Giải pháp b:

STT

Giá trị nhà tính thuế

Thuế suất

1

Phần giá tính thuế đối với nhà từ 700 triệu đồng trở xuống

0%

2

Phần giá tính thuế đối với nhà trên 700 triệu đồng

0,3%



Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương