Bộ giáo dục và ĐÀo tạo bộ y tế HỌc viện y dưỢc học cổ truyền việt nam


Tính an toàn của linh phụ khang tuệ tĩnh



tải về 2.89 Mb.
trang4/5
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích2.89 Mb.
1   2   3   4   5

4.1. Tính an toàn của linh phụ khang tuệ tĩnh


- Linh phụ khang Tuệ Tĩnh đư­ợc bào chế tại Viện nghiên cứu Y dược cổ truyền Tuệ Tĩnh trực thuộc Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam gồm các dược liệu đạt tiêu chuẩn Dư­ợc điển Việt Nam IV, sản xuất trên quy trình ổn định đạt tiêu chuẩn cơ sở [35].

- Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới, tất các các thuốc có nguồn gốc từ dược liệu đều phải đánh giá độc tính cấp trên động vật thực nghiệm trước khi đưa vào thử nghiệm trên người [98].

- Các chuột uống thuốc với liều tăng dần từ 5g/kg trọng lượng đến 25g/ kg trọng lượng (liều tối đa có thể uống được), theo dõi trong 72 giờ không thấy chuột chết. Chuột ăn uống và hoạt động bình thường trong suốt 72 giờ. Vì chuột không thể uống với khối lượng cao hơn 0,5ml/25g nên không xác định được liều chết 50% (LD50) của thuốc [99].

- Linh phụ khang Tuệ Tĩnh đã được Hội đồng đạo đức Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam cho phép sử dụng trên lâm sàng.

- Theo dõi trên lâm sàng trong 8 tuần điều trị, chúng tôi thấy thuốc không gây buồn nôn và nôn, không gây đau bụng và rối loạn tiêu hóa; không thấy các dấu hiệu chóng mặt, nhức đầu, mất ngủ ... Các bệnh nhân đều cảm thấy giảm bớt các biểu hiện rối loạn tiểu tiện cho nên ăn tốt hơn, ngủ dễ chịu hơn. Không gặp trường hợp nào có biểu hiện dị ứng cũng như phàn nàn về các tác dụng không mong muốn của thuốc. Không có trường hợp nào than phiền có ảnh hưởng đến hoạt động tình dục.

- Như vậy sau 8 tuần điều trị bằng Linh phụ khang Tuệ Tĩnh thuốc không gây tác dụng phụ không mong muốn trên lâm sàng và cận lâm sàng đối với bệnh nhân tăng sản lành tính tuyến tiền liệt.

- Điều này chứng tỏ thuốc có tính an toàn khi sử dụng. Kết quả nghiên cứu cũng phù hợp vì các vị thuốc trong bài thuốc này đều có nguồn gốc từ thảo mộc và đã được nhân dân ta cũng như một số nước Đông Nam Á sử dụng từ lâu đời để làm thuốc uống và không thấy gây độc đối với người sử dụng.

4.2. Một số đặc điểm lâm sàng của tăng sản lành tính tuyến tiền liệt

4.2.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu


* Lứa tuổi

Phần lớn các nghiên cứu đều cho rằng tỷ lệ mắc bệnh TSLTTTL tăng lên theo lứa tuổi. Qua nghiên cứu các bệnh nhân TSLTTTL thấy tuổi trung bình là 66,50  7,40 tuổi (thấp nhất là 42 tuổi và cao nhất là 75 tuổi). Bệnh nhân TSLTTTL gặp nhiều ở độ tuổi 60 - 70 tuổi (56,36%), tiếp đến là lứa tuổi 40 - 59 tuổi (38,18%) và ít nhất là lứa tuổi >70 tuổi (5,45%).

Tuổi bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự như nghiên cứu gần đây nhất là của Lê Thị Hường tại Bệnh viện YHCT Trung ương năm 2015 thấy tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 71,23 ± 8,31 tuổi và gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 70 - 79 (40%); tiếp đến lứa tuổi 60 - 69 (35%); 18,3% ở tuổi ≥ 80 và thấp nhất là 50 - 59 tuổi (6,7%) [86]. Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Trần Lập Công (2011) [85] với tuổi trung bình là 69,3 ± 8,7 tuổi, gặp nhiều ở độ tuổi > 70 (47,0%), tiếp đến là lứa tuổi 60 - 70 (30,8%) và ít nhất là lứa tuổi 50 - 59 (22,2%) và tương đương với các nghiên cứu của Lê Anh Thư [80] cho thấy tuổi trung bình là 69,6 ± 7,1 tuổi, gặp nhiều ở độ tuổi 60 - 69 (46,2%) và độ tuổi 70 - 79 (42,3%), tuổi ≥ 80 chiếm 7,7%, thấp nhất ở độ tuổi 50 - 59 (3,8%); Nguyễn Thị Tân cũng nghiên cứu thấy lứa tuổi từ 70 - 79 chiếm đa số (52,03%) và lứa tuổi từ 50 - 59 chỉ chiếm 4,11% [84].

Theo Nguyễn Thị Tú Anh [82] lứa tuổi 50 - 60 chiếm 23,8%, >60 tuổi chiếm 40,5% và >70 tuổi chiếm 35,7%, tuổi thường gặp là trên 60 tuổi (76,2%). Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ trên 60 là 61,9%. Tuổi cao là một yếu tố phát sinh bệnh, điều này cũng phù hợp với các tác giả trên thế giới.

* Nghề nghiệp

Kết quả nghiên cứu cho thấy số bệnh nhân là viên chức, hưu trí chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 69,09%), tiếp đến là số bệnh nhân có nghề nghiệp buôn bán tự do (chiếm14,54%).

Đặc điểm của đối tượng trong nghiên cứu cũng tương tự như những nghiên cứu trong nước và nước ngoài : tác giả Trần Lập Công (2011) [85], Lê Anh Thư [80], Nguyễn Thị Tân [84]. Tuổi trung bình của đối tượng điều tra, nghiên cứu được tiến hành tại nhiều vùng dân cư. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này có đặc điểm khác so với một số nghiên cứu khác đó là: Nông nghiệp; Nông thôn; Nông dân; Đa số có trình độ văn hoá phổ thông. Đặc thù nghiên cứu của chúng tôi tiến hành lấy bệnh nhân tại địa điểm là thành phố nên tỷ lệ viên chức, hưu trí chiếm tỷ lệ cao.

* Đặc điểm hôn nhân và hoàn cảnh gia đình

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy:

- Về hôn nhân: Tỷ lệ hôn nhân chiếm số đông (87,27%).

- Về hoàn cảnh gia đình: Tỷ lệ sống cùng gia đình chiếm đa số (76,36%).

Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả cao hơn một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Sự khác nhau trên có thể do phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa và quan điểm hôn nhân ở Việt Nam khác so với các nước khác trên thế giới. Có thể trong nghiên cứu của chúng tôi quá nhỏ nên có thể chưa phản ánh đúng tình trạng hôn nhân ở Việt Nam hiện nay. Điều này cần phải có thời gian để kiểm chứng.

* Thời gian xuất hiện các triệu chứng

Qua nghiên cứu thời gian xuất hiện các triệu chứng theo bảng IPSS thông thường là 1  3 năm (58,18%); 21,81% bệnh nhân xuất hiện triệu chứng trên 3 năm và 20,00% số bệnh nhân có xuất hiện triệu chứng dưới 1 năm.

Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bá Quế [83], thời gian xuất hiện các triệu chứng rối loạn tiểu tiện ít nhất là 1 năm và nhiều nhất là 7 năm. Đa số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh 2  3 năm (57,1%), có 22,9% số bệnh nhân có triệu chứng rối loạn tiểu tiện >3 năm và 20,0% số bệnh nhân có triệu chứng rối loạn tiểu tiện ≤ 1 năm. Theo Nguyễn Công Bình [52] thời gian mắc bệnh từ 1  3 năm là (42,1%). Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tú Anh [82] cho thấy 1 - 3 năm là 42,9%; tiếp theo là < 1 năm (33,3%) và >3 năm (23,8%).

Trong nghiên cứu của chúng tôi thời gian xuất hiện triệu chứng dưới 1 năm chiếm tỷ lệ thấp nhất (20,00%) vì bệnh mới mắc trong thời gian ngắn, cơ thể còn khỏe, sự phát triển của TSLTTTL còn nhỏ, nên chèn ép của tiền liệt tuyến chưa nhiều, sự thích nghi, bù trừ đáp ứng trước sự chèn ép, kích thích của TSLTTTL còn tốt, sự rối lọan tiểu tiện dễ bị bỏ qua, nên bệnh nhân ít đi khám và điều trị.


4.2.2. Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân tăng sản lành tính tuyến tiền liệt


4.2.2.1. Triệu chứng chủ quan

Các kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân TSLTTL chiếm tỷ lệ cao là đi tiểu nhiều lần (100,0%), đi tiểu chưa hết (85,45%), đi tiểu yếu (85,45%), đi tiểu ngắt quãng (85,45%).

Tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện đi tiểu nhiều lần trong nghiên cứu của chúng tôi (100,0%) tương tự như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Công Bình [52], Nguyễn Bá Quế [83] đều là 100,0%.

Triệu chứng đi tiểu yếu và đi tiểu chưa hết tương tự như số liệu nghiên cứu của Nguyễn Bá Quế [83]: 85,7% và 82,9% với các biểu hiện dòng nước tiểu xuất hiện chậm, tia nước tiểu yếu, đái phải rặn, kết thúc dòng nước tiểu không rõ ràng.

Triệu chứng đi tiểu ngắt quãng gặp ở 85,45% số bệnh nhân tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Bá Quế [83]: 74,5% với các biểu hiện khó khăn khi bắt đầu dòng nước tiểu, khi đái cần tăng áp lực ổ bụng, phải rặn mới đái được, đái phải mất thời gian dài, dòng nước tiểu nhỏ yếu...

Ngoài ra, chúng tôi cũng gặp các dấu hiệu khác như tiểu gắng sức, tiểu gấp. Tỷ lệ bệnh nhân TSLTTTL mắc các dấu hiệu này cũng tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Bá Quế [83]: tiểu gắng sức (51,4%) và đi tiểu gấp (54,3%).

Triệu chứng đi tiểu nhiều lần (100%), hay triệu chứng đi tiểu khó, tiểu đêm, tiểu ngắt quãng... Đây là những biểu hiện của hội chứng kích thích, hội chứng chèn ép, do sự đáp ứng của bàng quang với chướng ngại vật ở cổ bàng quang do TSLTTTL gây ra, nên bàng quang dễ bị kích thích hơn so với bình thường. Hai triệu chứng hay xuất hiện sớm là đi tiểu nhiều lần, tiểu đêm nhưng vì thường có quan niệm tuổi già nên không đi khám và điều trị sớm.



4.2.2.2. Thể bệnh TSLTTTL theo y học cổ truyền

Chúng tôi dựa vào phân loại của Vũ Quân Ngọc để phân chia các thể bệnh TSLTTTL theo YHCT và chọn 4 thể: Can khí uất trệ, Tỳ khí hư nhược, Thận dương hư và Thận âm hư. Kết quả nghiên cứu cho thấy số người thuộc thể bệnh thận dương hư, thể thận âm hư chiếm tỷ lệ cao nhất (30,91%), Tỳ khí hư nhược (21,81%), còn thể Can khí uất trệ chiếm tỷ lệ 16,36%.

Trong nghiên cứu của Nguyễn Bá Quế [83], bệnh nhân TSLTTTL thể bệnh thấp nhiệt bàng quang chiếm tỷ lệ cao nhất (48,6%), tiếp đến là các thể can khí uất trệ (28,6%) và niệu lộ ứ trở (22,9%).

Nguyễn Thị Tân [84] phân loại thể lâm sàng YHCT theo Mã Vĩnh Giang (2001) thành 7 thể thấy nhiều nhất là thể Thấp nhiệt hạ chú: 39,73 tiếp theo là các thể Bàng quang ứ trở: 13,70%; Thận dương hư suy: 12,33%; Âm hư hoả vượng: 8,22%; Can uất khí trệ: 4,11%; Trung khí bất túc: 2,74% và Đàm nhiệt bế phế: 2,74%.

Nghiên cứu của chúng tôi khác với nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Bá Quế, Nguyễn Thị Tân vì chúng tôi cho rằng đối với thể thấp nhiệt bàng quang thường y học cổ truyền xếp vào phạm trù “lâm chứng”, ứng với chứng viêm nhiễm đường tiết niệu, hoặc giai đoạn biến chứng của “long bế” (thấp nhiệt hạ tiêu): (tiểu buốt dắt, nóng rát niệu đạo, nước tiểu đỏ, đục, miệng khô khát mà không muốn uống, phát sốt, phát rét, lưỡi hồng mạch hoạt sác..). Vì vậy chúng tôi loại trừ thể này, nên trong nghiên cứu của chúng tôi không có thể thấp nhiệt bàng quang, còn các thể khác cũng tương tự...

4.3. Hiệu quả điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt của linh phụ khang tuệ tĩnh

4.3.1. Hiệu quả điều trị rối loạn tiểu tiện của viên nang LPKTT


4.3.1.1. Biến đổi thang điểm IPSS và điểm chất lượng cuộc sống

Thang điểm IPSS (International Prostate Symptom score) do Hội Tiết niệu Hoa Kỳ đề xuất và điểm chất lượng cuộc sống (Quality of life: QoL) đánh giá sự “khó chịu” của các triệu chứng do Barry (1995) đề xuất được nhiều nghiên cứu dùng để đánh giá các triệu chứng chủ quan của bệnh nhân TSLTTTL [31].

Qua nghiên cứu thấy sau 4 tuần điều trị điểm IPSS trung bình giảm 23,14 ± 3,35 điểm xuống còn 15,23 ± 5,97 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01. Sau 8 tuần điều trị điểm IPSS trung bình giảm 23,14 ± 3,35 điểm xuống còn 11,09 ± 2,67 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01.

Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Thị Tú Anh [82] ở bệnh nhân TSLTTTL điều trị bài “Thận khí hoàn gia giảm”: điểm IPSS giảm từ 21,0 xuống 11,71; tỷ lệ bệnh nhân rối loạn tiểu tiện mức độ nặng giảm từ 54,8% xuống 2,4%; mức độ nhẹ và trung bình tăng từ 0% và 45,2% lên 23,8% và 73,8% (p<0,01). Điểm chất lượng cuộc sống loại nhẹ tăng từ 0% lên 59,5%, loại trung bình giảm từ 90,5% xuống 38,1%, loại nặng giảm từ 9,5% xuống 2,4% (p<0,01).

Nghiên cứu của Nguyễn Bá Quế [83] cho thấy sau một tháng điều trị bằng bài thuốc MP05 (Thạch vĩ, Kim ngân hoa, Bạch hoa xà thiệt thảo, Ngưu tất, Vương bất lưu hành, Tam thất, Ngải tượng, Ích trí nhân) tổng số điểm IPSS giảm từ 16,34  5,47 điểm xuống 11,31  5,39 điểm. Tỷ lệ bệnh nhân có rối loạn tiểu tiện theo thang điểm IPSS ở mức độ nặng giảm từ 34,3% xuống 5,7%. Tỷ lệ người có rối loạn tiểu tiện mức độ nhẹ lại tăng từ 0% lên 34,3%, (p<0,001). Điểm chất lượng cuộc sống giảm từ 3,94 0,94 điểm xuống 2,91  1,15 điểm. Tỷ lệ bệnh nhân có điểm chất lượng cuộc sống ở mức độ nặng giảm từ 28,6% xuống 5,7%, điểm chất lượng cuộc sống ở mức độ nhẹ lại tăng từ 0% lên 34,3%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001.

Nguyễn Thị Tân [84] sử dụng cốm tan Tiền liệt thanh giải xuất xứ từ bài cổ phương “Tứ diệu hoàn” gia vị gồm Đan sâm, Vương bất lưu hành, Bạch hoa xà thiệt thảo, Hoàng bá, Hồng hoa, Ngưu tất, Ý dĩ và Thương truật thấy tổng số điểm trung bình IPSS trước điều trị và sau 6 tuần điều trị giảm rõ rệt từ 24,32  5,23 điểm xuống còn 8,84  3,58 điểm, và sau 2 tháng điều trị là 4,67  2,28 điểm (p<0,01).

Lê Anh Thư [80] sử dụng viên nang Trinh nữ hoàng cung điều trị TSLTTTL thấy điểm IPSS trước khi được điều trị là 21,32  5,5 điểm, sau 6 tuần điều trị là 6,82  4,54 điểm và sau 2 tháng điều trị còn 3,48  2,0 điểm.

4.3.1.2. Biến đổi thể tích nước tiểu tồn dư

Do sự phát triển của TTL gây chèn ép cổ bàng quang, ở giai đoạn mất bù, bàng quang phì đại, khả năng co bóp yếu và để lại nước tiểu tồn dư. Lượng nước tiểu tồn dư bình thường từ 0,09 - 2,24ml, có khoảng 78% số nam giới có lượng nước tiểu tồn dư dưới 5ml và 100% dưới 12ml. Nước tiểu tồn dư cũng là nguyên nhân dẫn đến các biến chứng nhiễm khuẩn đường niệu, sỏi bàng quang và suy thận [16]. Kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Sau 4 tuần điều trị thể tích nước tiểu tồn dư của bệnh nhân TSLTTTL giảm từ 46,51 ± 10,62 ml xuống còn 25,34 ± 9,32 ml với độ chênh là 21,17 ± 1,3 sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01.

- Sau 8 tuần điều trị thể tích nước tiểu tồn dư của bệnh nhân TSLTTTL giảm từ 46,51 ± 10,62 ml xuống còn 19,85 ± 9,06 ml với độ chênh là 26,66 ± 0,26 sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01.

- Tỉ lệ bệnh nhân TSLTTTL có thể tích nước tiểu tồn dư >40ml giảm từ 56,36% xuống còn 3,63% và tỉ lệ bệnh nhân không còn nước tiểu tồn dư tăng từ 0% lên đến 34,54%.

Tác dụng làm giảm thể tích nước tiểu tồn dư của viên nang LPKTT cũng tương tự như hiệu quả điều trị của một số thuốc YHCT đã được nghiên cứu trong những năm gần đây.

Lê Anh Thư [80] sử dụng viên nang Trinh nữ hoàng cung thấy tỷ lệ bệnh nhân không có nước tiểu tồn dư tăng từ 32,69% lên 57,7% sau 1 tháng và 61,54% sau 2 tháng điều trị (tăng 28,85%). Nguyễn Thị Tú Anh [82] với bài Thận khí hoàn gia giảm thấy thể tích nước tiểu tồn dư bằng 0ml tăng từ 42,9% trước điều trị lên 66,7% (tăng 23,8%). Nguyễn Bá Quế [83] với bài MP05 thấy sau một tháng điều trị, thể tích nước tiểu tồn dư ở bệnh nhân UTSLTTTL giảm từ 16,14  8,55ml xuống còn 8,74  7,85 ml. Tỷ lệ bệnh nhân có thể tích nước tiểu tồn dư ≥ 30ml và 10 - < 30ml giảm từ 5,7% và 60,0% xuống 0% và 45,8%. Đồng thời có tới 37,1% số bệnh nhân không còn nước tiểu tồn dư, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001.

Như vậy, viên nang LPKTT có tác dụng làm giảm thể tích nước tiểu tồn dư, tăng cường hiệu quả điều trị bệnh lý TSLTTTL.

Giảm rối loạn tiểu tiện, tăng lưu lượng nước tiểu và giảm thể tích nước tiểu tồn dư chứng tỏ viên nang LPKTT đã có tác dụng làm giảm sự co thắt và tắc nghẽn ở cổ bang quang. Hiệu quả này có thể do tác dụng chống viêm và làm giảm thể tích TTL của viên nang LPKTT.

4.3.2. Hiệu quả làm giảm thể tích TTL của viên nang LPKTT


Kích thước TTL lớn là trở ngại cho việc bài xuất nước tiểu. Sự tăng thể tích của TTL phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giảm các hormon sinh dục, tăng các yếu tố tăng trưởng và hiện tượng chết theo chương trình. Do vậy một trong những yêu cầu của thuốc điều trị TSLTTTL là ngoài việc làm giảm các triệu chứng rối loạn tiểu tiện, còn phải có tác dụng làm giảm kích thước của TTL[16]. Kết quả nghiên cứu cho thấy:

  • Qua 4 tuần điều trị, thể tích tuyến tiền liệt của bệnh nhân TSLTTTL giảm 43,69 ± 13,11 cm3 xuống còn 31,12 ± 9,80 cm3 sự thay đổi có ý nghĩa thống kê với < 0,01. Với tỉ lệ ≤ 25cm3 tăng từ 3,63 % lên đến 29,09 %, tỷ lệ nhóm > 45cm3 từ 32,72 % giảm còn 9,68 % sự thay đổi có ý nghĩ thống kê với p< 0,01.

  • Qua 8 tuần điều trị, thể tích tuyến tiền liệt của bệnh nhân TSLTTTL giảm 43,69 ± 13,11cm3 xuống còn 24,45 ± 6,77cm3 sự thay đổi có ý nghĩa thống kê với < 0,01. Với tỉ lệ ≤ 25cm3 tăng từ 3,63 % lên đến 30,9 %, tỷ lệ nhóm > 45cm3 từ 32,72 % giảm còn 5,51 % sự thay đổi có ý nghĩ thống kê với p< 0,01.

Nguyễn Thị Tân [84] điều trị TSLTTTL bằng cốm tan Tiền liệt thanh giải thấy thể tích trung bình TTL qua siêu âm trước điều trị là 43,548,74cm3, sau 1 tháng điều trị giảm còn 35,9 6,18cm3 và sau 2 tháng còn 31,156,59cm3. Trong đó bệnh nhân có thể tích TTL ≤ 25cm3 sau 1 tháng điều trị tăng từ 13,70% lên 27,40% và 42,46% sau 2 tháng điều trị. Thể tích > 45cm3 có xu hướng giảm đi sau 1 tháng và 2 tháng điều trị theo thứ tự là 39,73% ; 20,55%; 9,59%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Nguyễn Bá Quế [83] sử dụng bài thuốc MP05 điều trị TSLTTTL thấy sau một tháng điều trị thể tích TTL của các bệnh nhân TSLTTTL giảm từ 34,99  5,75 cm3 xuống còn 28,13  4,02cm3, p<0,05. Dương Văn Kết [8] điều trị TSLTTTL bằng Blastolysin - Hepaton - Promolan trên 52 bệnh nhân, sau 3 tháng thấy triệu chứng kích thích và tắc nghẽn giảm ở hầu hết bệnh nhân. Thể tích TTL giảm từ 51,3  14,6cm3 xuống 35,95  12,42cm3.

Theo YHCT thì TSLTTTL thuộc về “long bế” và đường niệu tắc trở là nguyên nhân chính của bệnh. Viên nang LPKTT được cấu tạo từ bài thuốc với công dụng chính là: hoạt huyết thông kinh, hành khí khai uất, lợi thuỷ thông tiểu, nhuyễn kiên tán kết nên làm mềm cơ, giảm viêm. Có thể do làm giảm viêm nên viên nang LPKTT cũng góp phần làm giảm trọng lượng tuyến tiền liệt, tăng cường dinh dưỡng cho tuyến tiền liệt vì vậy mà làm cải thiện tiểu tiện, tránh ứ tắc tiểu tiện ở bệnh nhân tăng sản lành tính tuyến tiền liệt trên lâm sàng.

4.3.3. Hiệu quả làm giảm mật độ tuyến TTL của viên nang LPKTT


Kết quả nghiên cứu cho thấy: Qua 4 tuần điều trị, tỉ lệ mật độ chắc giảm từ 49,09% xuống còn 29,09%, mật độ mềm tăng 50,91% lên 70,91% sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01. Qua 8 tuần điều trị, tỉ lệ mật độ chắc giảm từ 49,09% xuống còn 23,63%, mật độ mềm tăng 50,91% lên 76,37% sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01.

Nguyễn Thị Tân [84] so sánh mật độ TTL trước và sau đợt điều trị qua thăm khám trực tràng thấy sau 1 tháng điều trị bằng cốm tan Tiền liệt thanh giải, mật độ chắc của TTL giảm từ 50,68% xuống còn 41,10%, mật độ mềm tăng từ 49,32% lên 53,42%, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Sau 2 tháng điều trị, mật độ chắc của TTL giảm từ 50,68% xuống còn 30,14%, mật độ mềm tăng từ 49,32% lên 61,64%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Lê Anh Thư [80] và Nguyễn Thị Tú Anh [82], khi dùng thuốc nghiên cứu để điều trị TSLTTTL cũng nhận thấy có sự thay đổi mật độ của tuyến từ chắc sang mềm hơn. Theo Lê Anh Thư, sau 2 tháng điều trị mật độ chắc của TTL giảm từ 53,8% xuống 30,8%, mật độ mềm tăng từ 46,2% lên 65,4%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Còn sự thay đổi của triệu chứng mất rãnh giữa không có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Nguyễn Thị Tú Anh cho thấy sau đợt điều trị mật độ chắc của TTL giảm từ 57,1% xuống còn 31,0%, mật độ mềm tăng từ 42,9% lên 69%.

Như vậy, sau 8 tuần điều trị bằng viên nang LPKTT đã làm mềm hay giảm các mô xơ của TTL. Điều này đã góp phần làm giảm các rối loạn tiểu tiện ở bệnh nhân TSLTTTL và đã góp phần làm giảm triệu chứng chèn ép trong bệnh TSLTTTL trên lâm sàng.


4.3.4. Đánh giá hiệu quả chung


Căn cứ vào sự cải thiện của 4 chỉ tiêu: điểm IPSS và QoL, lưu lượng nước tiểu, thể tích nước tiểu tồn dư và thể tích TTL, chúng tôi phân loại các kết quả điều trị. Qua nghiên cứu cho thấy sau 8 tuần điều trị có 47,27 % bệnh nhân đạt kết quả điều trị tốt, 45,45 % đạt kết quả khá, và 7,27 % bệnh nhân đạt kết quả kém. Như vậy, hiệu quả điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt của viên nang LPKTT tương đương so với các công trình nghiên cứu khác về thuốc YHCT điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt.

4.4. Các yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt của viên nang LPKTT

4.4.1. Hiệu quả điều trị theo tuổi


Trong nhóm <65 tuổi hiệu quả điều trị tốt chiếm tỷ lệ cao nhất (56,6%), nhóm ≥ 65 hiệu quả điều trị ở nhóm khá chiếm tỷ lệ cao nhất (52%).

4.4.2. Hiệu quả điều trị theo thời gian mắc bệnh


Trong nhóm <3 năm mắc bệnh hiệu quả điều trị khá chiếm tỷ lệ cao nhất (51,16%), trong nhóm ≥ 3 năm hiệu quả điều trị ở mức tốt chiếm tỷ lệ cao nhất (75%).

4.4.3. Hiệu quả điều trị theo điểm IPSS khi vào viện


Trong nhóm mức độ rối loạn tiểu tiện nhẹ hiệu quả điều trị tốt đạt 100%, mức độ rối loạn tiểu tiện trung bình hiệu quả điều trị tốt cao nhất (76,92%) và mức nặng hiệu quả điều trị khá chiếm tỷ lệ cao nhất (56,41%).

4.4.4. Hiệu quả điều trị theo thể tích nước tiểu tồn dư khi vào viện


Trong nhóm thể tích nước tiểu tồn dư <10ml hiệu quả điều trị tốt chiếm tỷ lệ cao nhất 54,54%. Nhóm 10-40ml hiệu quả khá chiếm tỷ lệ cao nhất (38,48%) và nhóm >40 ml hiệu quả tốt chiếm tỷ lệ cao nhất 51,61%.

4.4.5. Hiệu quả điều trị theo thể tích TTL khi vào viện


Trong nhóm <35 cm3 hiệu quả tốt chiếm tỷ lệ cao nhất 60,87% và nhóm 35 -45 cm3 hiệu quả khá chiếm tỷ lệ cao nhất 71,43%.

4.5. Hiệu quả điều trị của viên nang linh phụ khang tuệ tĩnh theo y học cổ truyền


Dựa vào kết quả nghiên cứu cho thấy: Sau điều trị các triệu chứng tại hệ tiết niệu đều giảm rõ rệt so với trước điều trị. Triệu chứng khó đi tiểu giảm từ 100% xuống 20%. Triệu chứng tia tiểu yếu giảm từ 92,72% xuống 13,36%. Còn cảm giác khi vừa tiểu xong giảm từ 89,09% xuống 12,72%. Cảm giác nóng rát đi tiểu giảm từ 81,81% xuống 9,09%. Số lần đi tiểu trên ngày giảm từ 9,23 ± 1,56 xuống 3,37 ± 1,12. Sự khác biệt giữa trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Sau điều trị các triệu chứng tại toàn thân gồm rêu lưỡi dày, rêu lưỡi mỏng, rêu lưỡi trắng hoặc vàng, mạch trầm tế, mạch hư nhược, mạch huyền đều giảm rõ rệt so với trước điều trị với p<0,05. Các triệu chứng mạch hòa hoãn, ăn uống tốt, ngủ tốt đều tăng so với trước điều trị với p<0,05.

Đánh giá tác dụng của viên nang LPKTT đối với từng thể bệnh theo y học cổ truyền chúng tôi nhận thấy thể thận dương hư gặp 17/55 bệnh nhân (30,9%), trong đó tỷ lệ điều trị viên nang LPKTT tốt và khá là 100%, thể thận âm hư gặp 17/55 bệnh nhân (30,9%), trong đó tỷ lệ điều trị của viên nang LPKTT tốt và khá 76,47%. thể tỳ khí hư nhược gặp 12/55 bệnh nhân (21,81%), trong đó tỷ lệ điều trị của viên nang LPKTT tốt và khá là 100%, thể can khí uất trệ 9/55 bệnh nhân (16,36%), trong đó tỷ lệ điều trị của viên nang LPKTT tốt và khá 88,4% , Qua trên chúng tôi nhận thấy viên nang LPKTT điều trị tốt nhất theo thứ tự , thận dương hư, thận âm hư : tỳ khí hư nhược, can khí uất trệ , điều này phù hợp với cơ chế tác dụng của viên nang LPKTT: ôn thận, kiện tỳ, hoạt huyết hoá ứ, nhuyễn kiên tán kết và thông niệu. Theo y lý của y học cổ truyền, bệnh TSLTTTL gặp ở nam giới tuổi cao. Khi tuổi càng cao, ngũ tạng đều hư, công năng tạng phủ nhất là thận khí càng suy giảm. Tố vấn (Thượng cổ thiên chân luận) nói: “Lục bát dương khí suy kiệt ở trên, mặt võ vàng, râu tóc đều bạc; thất bát, can khí suy, cứng gân thiên quý kiệt, tinh thiểu (tinh dịch ít đi), thận suy, hình thể đều đến đỉnh cùng, bất bát thì răng bắt đầu rụng. Điều này chứng tỏ rằng ở nam giới tuổi càng cao, thận khí càng suy thoái, đó là nhân tố căn bản của bệnh lý TSLTTTL. Nhận xét này phù hợp với lý luận của y học hiện đại: ở nam giới cao tuổi, hàm lượng androgen dần dần giảm xuống và gây nên sự mất cân bằng kích tố giới tính (oestrogen tăng tương đối) nên dẫn đến tăng sinh tiền liệt tuyến.

Với quan điểm này, Vương Kỳ đã căn cứ vào cơ chế bệnh sinh của bệnh: "Khí (dương) hư là bản (gốc), đàm ứ hỗ trợ là tiêu (ngọn)" mà định ra bài thuốc "Kiện tỳ ích thận, hoạt huyết hóa ứ, nhuyễn kiên tán kết, thông lợi niệu" là phép tắc tổ chức phương đơn điều trị TSLTTTL.

Chúng tôi sử dụng thành phần bài thuốc của viên nang LPKTT dựa vào y lý của y học cổ truyền, căn cứ vào tính năng tác dụng của các vị thuốc theo y học cổ truyền và y học hiện đại mà xây dựng nên. Sự phối ngũ các vị thuốc trong bài đã đạt được mục tiêu của nghiên cứu điều trị chứng “Long bế” hay gọi là chứng tăng sản lành tính tuyến tiền liệt. Qua quá trình nghiên cứu hiệu quả điều trị của LPKTT chúng tôi thấy thuốc có tác dụng thông tiểu tiện rất rõ, làm giảm các triệu chứng của hội chứng kích thích cũng như hội chứng tắc nghẽn.

KẾT LUẬN


Linh phụ khang Tuệ Tĩnh được xây dựng dựa trên phương pháp biện chứng luận trị của Y học cổ truyền có tác dụng lợi thủy, tiêu thũng thông lâm, nhuyễn kiên tán kết. Qua nghiên cứu tác dụng điều trị của Linh phụ khang Tuệ Tĩnh trên thực nghiệm và trên 55 bệnh nhân có tăng sản lành tính tuyến tiền liệt chúng tôi có một số kết luận sau.

  1. Linh phụ khang Tuệ Tĩnh không có độc tính cấp trên thực nghiệm

- Thuốc thử LPKTT không có biểu hiện độc tính cấp ở liều 25g/kg. Chưa xác định được LD50 chuột nhắt trắng của thuốc thử LPKTT trên đường uống.

2. Linh phụ khang Tuệ TĩnhTuệ Tĩnh có tác dụng điều trị trên bệnh nhân tăng sản lành tính tuyến tiền liệt

- Sau 8 tuần điều trị điểm IPSS trung bình giảm 23,14 ± 3,35 điểm xuống còn 11,09 ± 2,67 điểm (p< 0,01).

- Điểm chất lượng cuộc sống (QoL) trung bình của bệnh nhân giảm từ 4,67 ± 3,26 điểm xuống còn 2,37 ± 0,45 điểm (p<0,01) sau 8 tuần.



- Thể tích nước tiểu tồn dư sau 8 tuần giảm từ 46,51 ± 10,62ml xuống còn 19,85 ± 9,06ml (p< 0,01).

- Thể tích tuyến tiền liệt giảm từ 43,69 ± 13,11cm3 xuống còn 24,45 ± 6,77cm3.

- Viên nang Linh phụ khang Tuệ Tĩnh không làm biến đổi các xét nghiệm sinh hóa máu, huyết học. Viên nang Linh phụ khang Tuệ Tĩnh không gây ảnh hưởng đến toàn thân, hệ thống tiêu hóa, hệ thống thần kinh, tuần hoàn, các cơ quan khác của người sử dụng.

KIẾN NGHỊ
1. Cho phép sử dụng Linh phụ khang Tuệ Tĩnh để điều trị cho bệnh nhân tăng sản lành tính tuyến tiền liệt

2. Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tác dụng của viên nang LPKTT, đánh giá tác dụng điều trị với số lượng bệnh nhân nghiên cứu lớn hơn, thời gian nghiên cứu dài hơn để cơ cơ sở cho việc đăng ký lưu hành rộng rãi sản phẩm thuốc điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alberto Briganti, Umberto Capitanio, et al. (2009). "Benign prostatic hyperplasia and its aetiology", European urology supplements 8, pp. 865 - 871.

2. Đào Quang Oánh (2017), “Tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt, nhận dạng nguy cơ tiến triển, lựa chọn phương pháp điều trị”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học thường niên lần thứ XI của VUNA-lần thứ XI của Hội Tiết niệu Thận học thừa Thiên Huế, trang 60-7.

3. Hoàng Long (2017), “Lựa chọn phương pháp điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học thường niên lần thứ XI của VUNA-lần thứ XI của Hội Tiết niệu Thận học thừa Thiên Huế, trang 68-80.

4. Trần Đức Thọ, Đỗ Thị Khánh Hỷ (2003). Bệnh u lành tính tuyến tiền liệt, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 9 - 15, 17 - 19, 47 - 95, 97 - 115, 130 - 161 .

5. Nguyễn Bửu Triều (2004), U xơ tuyến tiền liệt, Bách khoa thư bệnh học, Nhà xuất bản từ điển bách khoa, 291 - 294.

6. Nguyễn Bửu Triều, Lê Ngọc Từ (2007). U phì đại lành tính tuyến tiền liệt, Bệnh học tiết niệu, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 419 - 427.

7. Hoàng Bảo Châu (1997). Lâm chứng, di niệu, lung bế, Nội khoa Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 443 - 474.

8. Hồ Nguyễn Anh Tuấn (2011). Giải phẫu học sau đại học, Nhà xuất bản Y học, 670 - 717.

9. Hoàng Văn Cúc, Nguyễn Văn Huy (2006). Giải phẫu học, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, 296 - 303.

10. Trần Xuân Tuấn (2008). Đặc điểm về giải phẫu đường tiết niệu dưới: bàng quang, tiền liệt tuyến ứng dụng trong phẫu thuật, 48 - 55.

11. Franhk H. M. (2009). Atlas giải phẫu người - Vietnamese edition, Nhà xuất bản y học, 128 - 129.

12. Flam T. (2003). Anatomie chirurgical et voies d‟abord de la prostate. EMC, Urology, 3, 41 - 260.

13. Phạm Thị Minh Đức (2011). Sinh lý học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 82 - 90.

14. Vũ Lê Chuyên, Nguyễn Tuấn Vinh, Vũ Anh Tuấn và cs (2008). Kết quả điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt bằng phương pháp TUNA. Y học TP. Hồ Chí Minh. Vol. 12 - Sup- plement of No 1, 295 - 300.

15. Vũ Lê Chuyên và CS (2010). Ảnh hưởng của Durasteride (Avodart) làm giảm chảy máu trong phẫu thuật cắt đốt nội soi (TURP) bướu lành tiền liệt tuyến (BPH). học thành phố H 6(2), 539-542.

16. Vũ Sơn, Phạm Ngọc Khái, Trần Văn Nam, Lê Ngọc Từ (2011). Kết quả phẫu thuật nội soi qua niệu đạo điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt được theo dõi tại cộng đồng dân cư của tỉnh Thái Bình. học Thực hành, 769+770, 154 - 162.

17. Emil A.T., Jack W.M. (2007). Smith's General Urology, 17th, McGraw-Hill Professional Publishing, 312 - 326.

18. Lepor H. (2004). Pathophysiology, epidemiology and natural history of benign prostatic hyperplasia, Rev. Uro., 6 (9), 3 - 10.

19. Roehrborn C. G. (2008). Pathology of benign prostatic hyperplasia. Int. J. Impot. Res., 20 (3), 11 - 18.

20. Claus G., Roehrborn. MD., Campbell Walsh (2011). Benign Prostatic Hyperplasia: Etiology, Pathophysiology, Epidemiology, and Natural History. Urology, 10, 2570 - 2610.

21. Mearini L., Costantini E., Zucchi A. (2008). Testosterone levels in benign prostatic hypertrophy and prostate cancer. Urol Int., 80(2), 134 - 140.

22. Patel D.N. (2014). Epidemiology and etiology of benign prostatic hyperplasia and bladder outlet obstruction. Indian Journal of Urology. 30 (2), 170 - 176.

23. Gallardo F., Mogas T., Barú T. et al (2007), Expression of androgen, oestrogen alpha and beta and progesterone receptors in the canine prostate: differences between normal, inflamed, hyperplastic and neoplastic glands, J. Comp. Pathol., 136(1), 1 - 8.

24. Roehrborn C. G. (2006). Benign prostatic hyperplasia: an overview. Rev Uro, 7 (9), 3 - 14.

25. Tsugaya M., Harada N., Tozawa K. et al. (1996). Aromatase mRNA levels in benign prostatic hyperplasia and prostate cancer. Int. J. Urol, 3(4), 292 - 296.

26. Gu H., Dong Z. X., Wang C. B. et al. (2006). Role of bFGF and TGF-beta1 in primary cultured prostatic stromal cells. Zhonghua Nan Ke Xue, 12(10), 917 - 922.

27. Wang F., Wang H., Qin W. J. et al. (2009). Expression and its significance of b-FGF in human benign prostatic hyperplasia and prostatic carcinoma tissues. Xi Bao Yu Fen Zi Mian Yi Xue Za Zhi, 20(2), 203 - 205.

28. Soulitzis N., Karyotis I., Delakas D. et al. (2006). Expression analysis of peptid growth factors VEGF, FGF2, TGFB1 and IGF in prostate cancer and benign prostatic hyperplasia. Int. J. Oncol, 29(2), 305 - 314.

29. Stachon A., Aweimer A., Stachon T. et al. (2009). Secretion of soluble VEGF receptor 2 by microvascular endothelia cells derived by human benign prostatic hyperplasia. Growth Factor, 27(2), 71 - 78.

30. Cross N. A., Reid S. V., Havey A. J. et al. (2006). Opposing actions of TGFbeta1 and FGF2 on growth, differentiation and extracellular matrix accumulation in prostatic stromal cells. Growth factors, 24(4), 233 - 241.

31. Trần Đức, Trần Đức Hoè (2000). Sử dụng IPSS, QoL và đo lưu lượng nước tiểu trong đánh giá kết quả phẫu thuật u phì đại lành tính tuyến tiền liệt, Tạp chí Y học thực hành, 7, 32 - 35.

32. Hanai T., Matsumoto S., Shimizu N. et al. (2008). Investigation of lower urinary tract symptoms in urological outpatients using original IPSS plus post micturition dribble questionnaire, Nippon Hinyokika Gakkai Zasshi, 99(7), 723 - 8.

33. American Urological Association (2010). Guideline on the Management of Benign Prostatic Hyperplasia, American Urological Association Education and Research, 11 - 16.

34. European Association of Urology (2014). Guidelines on Management of Male Lower Urinary Tract Symptoms (LUTS), incl. Benign Prostatic Obstruction (BPO). European Association of Urology, 15 - 18.

35. Oelke M., Bachmann A. (2012). Guidelines on male lower urinary tract symptoms (LUTS), including benign prostatic obstruction (BPO), European Association of Urology, page 123 - 144.

36. Nguyễn Văn Ân (2003). Đại cương về các phép đo niệu động học. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 7 (2), 68 - 74.

37. Lê Đình Khánh (2003). Sự thay đổi mọ t số chỉ số niệu động học ở bệnh nhân u xơ tiền liệt tuyến. Tạp chí học iẹ t nam, 11, 13-19.

38. Hoàng Phương Liên (2007). Nhận xét một số yếu tố ảnh hưởng tới nồng độ PSA huyết thanh ở bệnh nhân phì đại lành tính tuyến tiền liệt, Trường Đại học y Hà Nội, Hà Nội, 45 - 48.

39. Thomas Anthony Mc Nicholas (2012). Evaluation and nonsurgical management of Benign prostatic hyperplasia, Campbell Walsh Urology, 10th Elsevier, 2611 - 2654.

40. Hội tiết niệu Thận học Việt Nam (2013). Phác đồ hu ớng dẫn và điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt, 12 - 16.

41. Gabuev A., Oelke M. (2011). Aktuelle Aspekte zur Epidemiologie, Diagnostik und Therapie des Be- nignen Prostatasyndroms. Latest Trends and Recommendations on Epidemiology, Diagnosis, and Treatment of Benign Prostatic Hyperplasia (BPH). Aktuel Urol 2011; 42, 167 - 178.

42. Clarke J. C., Clarke H. J., (2008). Combination 5-alpha-reductase inhibitors and alpha-blockers for treatment of lower urinary tract symptoms secondary to benign prostatic hyperplasia, Curr Urol Rep., 9(4), 291-4.

43. Vũ Lê Chuyên (2013). Các khối u đường tiết niệu, NXB Y học, 158 - 234.

44. Đỗ Tất Lợi (2006). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 48 - 49, 215 - 217, 217-218, 441 - 443, 706 - 707, 732 - 734, 844 - 846, 848 - 850, 852 - 853, 857 - 862, 911 - 912.

45. Nguyễn Nhược Kim, Hoàng Minh Chung (2009). Dược học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 38 - 39, 70, 104 - 105, 121, 125, 127, 140-142, 169, 232, 239 - 240.

46. Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi uân Chương và cs (2006), Cây thuốc và động vật dùng làm thuốc ở Việt Nam, tập I, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, 245 - 247, 557 - 560, 743 - 747.

47. Trần Quốc Hùng, Hoàng Văn Tùng, Cao uân Thành và cs (2011). Đánh giá kết quả điều trị u phì đại lành tính tuyến tiền liệt có biến chứng bí tiểu cấp bằng Carduran. học Thực hành, 769+770, 125 - 133.

48. Pisco J. et al. (2013). Prostatic arterial embolization for benign prostatic hyperplasia: Short-and intermediate-term results. Radiology, 226(2), 668 - 77.

49. Golzarian J. et al. (2014). Prostatic artery embolization to treat lower urinary tract symptoms related to benign prostatic hyperplasia. J vasc Interv Radio, 665 - 74.

50. Lê Văn Lóng (2011). Đánh giá hiệu quả điều trị và tác dụng không mong muốn của phác đồ phối hợp thuốc Carduran và Avodar trong điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội, 69 - 71.

51. Nguyễn Trường An (2008). Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt u lành tính tuyến tiền liệt bằng nội soi qua niệu đạo, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 12(4), 187 - 192.

52. Nguyễn Công Bình (2012). Kết quả điều trị u phì đại lành tính tuyến tiền liệt bằng phương pháp cắt đốt nội soi qua niệu đạo tại bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng, Luận văn thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 60 - 63.

53. Lại Xuân Nam (2008). Nghiên cứu biến chứng muộn sau mổ cắt nội soi phì đại lành tính tuyến tiền liệt tại bệnh viện Việt Đức, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội, 54 - 60.

54. Mai Tiến Dũng (2013). Đánh giá kết quả nội soi điều trị u phì đại lành tính tuyến tiền liệt kích thước lớn tại bệnh viện Việt Đức, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 52 - 59.

55. Nguyễn Viết Thành (2007). Đánh giá kết quả điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt bằng laser nội tuyến INDIGO 830E, Luận văn thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 56 - 58.

56. Phan Hoàng Giang (2014). Nghiên cứu hiệu quả điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt bằng phương pháp nút động mạch tuyến tiền liệt. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú bệnh viện, Bệnh viện Bạch Mai, 2014, 38 - 48.

57. Lưu Xuân Võ (2016). Nhận xét kết quả điều trị u phì đại lành tính tuyến tiền liệt bằng phương pháp siêu âm hội tụ cường độ cao (HIFU) tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Y học, 30 - 33, 38 - 39.

58. Nguyễn Tử Siêu (biên dịch) (2009). Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn Toàn Tập. NXB Lao Động, 25 - 36.

59. Vũ Nam (2001). Kim quỹ yếu lược. Nhà xuất bản y học, 247 - 282.

60. 李克光,张永礼 (2008)。金 匮 要 略. 北京, 人 民 卫 生 出 版, 2008, 479 - 482.

Lý Khắc Quang, Trương Vinh Lễ (2008). Kim Quỹ Yếu Lược. Bắc Kinh: Nhà xuất bản Y tế nhân dân, 2008, 479 - 482.

61. Hoàng Bảo Châu (2010). Lâm chứng, Di niệu, Lung bế, Nội khoa Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 407 - 421, 427.

62. Trần Thúy, Vũ Nam (2006). Bệnh lâm, Bí đái, huyên đề Nội khoa Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội , 360 - 379.

63. 巫 君 玉、白 水 波 (2012). 现 代 难 治 病 中 医 诊 治 学,中 医 古 籍 出 版 社2012年304 - 317页

Vũ Quân Ngọc, Bạch Thuỷ Ba (2012). Trung y chẩn trị bệnh khó trị ngày nay, Nhà xuất bản Trung y cổ tịch, 304 - 317.

64. Ducrot R., Joulo et al. (1965). "Turner, screening methods in pharmacology", Academic press, pp. 114 - 115.

65. Hoàng Bảo Châu (1998). Phương thuốc cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 311.

66. Phạm Văn Trịnh (2009). Tế sinh thận khí hoàn, Phương tễ học, Nhà xuất bản Y học, 168 - 169.

67. Đỗ Trung Phấn (2013). Kỹ thuật xét nghiệm huyết học và truyền máu ứng dụng trong lâm sàng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 46 - 49.

68. Đào Xuân Vinh (2008). Hướng dẫn sử dụng các xét nghiệm sinh hóa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 88 - 94, 116 - 119.

69. Trần Quang Minh (2006). Đánh giá hiệu quả điều trị của viên nén Tadimax trên bệnh nhân phì đại lành tính tuyến tiền liệt, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú bệnh viện, Trường Đại học Y Hà Nội, 35 - 41.

70. Nguyễn Văn Hưng, Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009). “Đánh giá hiệu quả điều trị PĐLT-TTL bằng phối hợp thuốc”, Tạp chí Y học Việt Nam 4(1), 52 - 56.

71. Jianteng Wei, et al. (2012). "Oleanolic acid potentiates the antituor activity of 5-flourouracil in pancreatic cancer cells", Oncol Rep, 28 (4), 1339 - 1345

72. Nguyễn Thị Thu Hà (2016). Lâm chứng, Bệnh học nội khoa y học cổ truyền, Nhà xuất bản y học, 144 - 151.

73. Nguyễn Nhược Kim (2012). Phì đại lành tính tuyến tiền liệt, Bệnh học nội khoa Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội,126 - 129.

74. Trần Thúy, Phạm Duy Nhạc, Hoàng Bảo Châu (2011). Tiểu tiện ít, tiểu tiện khó và bí tiểu tiện, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 125 - 126.

75. Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (2008), Hải Thượng Y tông tâm lĩnh, Nhà xuất bản Y học (2008), 33 - 34.

76. Nguyễn Thiên Quyến (2008). Chứng hậu toàn thân, Chẩn đoán phân biệt chứng hậu trong đông y, 449 - 456.

77. Hoàng Bảo Châu (1995). Chức năng sinh lý tạng phủ, Lý luận cơ bản y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, 33 - 44.

78. Nguyễn Xuân Hướng (1998). Kết quả điều trị 158 bệnh nhân u xơ tiền liệt tuyến bằng thuốc dân tộc, Tạp chí Y học thực hành, 225 (9), 100 - 101.

79. Nguyễn Xuân Hướng (2001). Kết quả điều trị u xơ tiền liệt tuyến bằng nước sắc lá Trinh nữ hoàng cung. Đề tài khoa học cấp Bộ, 38 - 44.

80. Lê Anh Thư (2004), Đánh giá tác dụng của viên nang trinh nữ hoàng cung trong điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt, Luận văn thạc sỹ Y học, Trường đại học Y Hà Nội, 40 - 46.

81. Trần Đức Thọ và cộng sự (2005). Đánh giá tác dụng của viên nang Trinh nữ hoàng cung trong điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt. Đề tài cấp Bộ 2005, 38 - 46.

82. Nguyễn Thị Tú Anh (2003). Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Thận khí hoàn gia giảm” trong điều trị u PĐLT-TTL. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa cấp II, Đại học Y Hà Nội, 35 - 44.

83. Nguyễn Bá Quế (2006). Nghiên cứu tác dụng điều trị u PĐLT-TTL của bài thuốc MP05. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa cấp II, Học viện Quân y, 32 - 45.

84. Nguyễn Thị Tân (2008). Nghiên cứu tác dụng của cốm tan Tiền liệt thanh giải trong điều trị bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt, Luận án Tiến sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 69 - 81.

85. Trần Lập Công (2011). Nghiên cứu hiệu quả điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt của trà tan Thủy long, Luận án tiến sĩ học, Trường Đại học Y Hà Nội, 66 - 82.

86. Lê Thị Hường (2014). Đánh giá hiệu quả điều trị của bài thuốc “Tế sinh thận khí thang” trên bệnh nhân tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt. Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.

87. 槳 學 中 (2001). 軟 堅 散 結 化 瘀 降 濁 清 熱 利 濕 法 治 療 前 列 腺 增 生 證 217例. 新 中 醫 - 第 12期,第31卷, 26-27頁.

Tưởng Học Trung (2001). Pháp nhuyễn kiên tán kết hóa ứ giáng trọc thanh nhiệt lợi thấp điều trị 217 bệnh nhân PĐLT-TTL. Tân Trung y - Kỳ 12 quyển 31, trang 26- 27.

88.郭元琪、等(2001).雙澤湯治療慢性前列腺炎60例.新中醫中國自然科學核心期刊. 第3期, 45-46頁.

Quách Nguyên Kỳ và cs (2001). Song trạch thang điều trị 60 bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt mạn tính. Tân Trung y - Tạp chí Trung tâm khoa học tự nhiên Trung Quốc, Kỳ 3, trang 45-46.

89. 聶 志、曾 宏 偉、等 (2003). 尿 淋 膠 囊 治 療 前 列 腺 增 生 證臨 床 觀 察 與 药 學 研 究. 中 國 中 醫 药 信 息 雜 誌, 31頁.

Nhiếp Chí, Tăng Hùng V và cs (2003). Nghiên cứu dược học và quan sát lâm sàng của viên Niệu lâm điều trị PĐLT-TTL. Tạp chí thông tin Trung y dược Trung Quốc, trang 31.

90.黄有龙 (2012). “补阳还五汤加减治疗前列腺增生32例观察”, 临床医学工程, 第19卷第05期 817页.

Hoàng Hữu Long (2012). “Quan sát Bổ dương hoàn ngũ thang gia vị điều trị 32 ca tăng sinh tuyến tiền liệt”, Công trình y học lâm sang, 19(5), 817.

91. 彭世桥,朱立新,程华 (2007)。桂 枝 茯 苓 丸 治 疗 前 列 腺 增 生 症100例 临 床 观 察.中 医 中 药, 2007, 4(8), 115.

Bành Thế Kiều, Chu Lập Tân, Trình Hoa (2007). Quan sát lâm sàng 100 bệnh nhân PĐLT-TTL điều trị bằng Quế chi phục linh hoàn. Trung dược Trung Y, 2007,4(8), 115.

92. 蒋 荣 伟,岳 宗 相,王 久 源,等 (2008)。桂 枝 茯 苓 汤 加 味治 疗 良 性 前 列 腺 增 生 症54例 [J]。新 中 医, 2008, 40 (1), 77 - 78.

Tưởng Vinh Vũ , Nhạc Tôn Tương, Vương Cửu Nguyên và cs (2008). Quế chi phục linh thang gia vị điều trị 54 bệnh nhân PĐLTTTL, Tân Trung y, 2008, 40 (1), 77 - 78.

93. 王 成,范 先 (2009)。桂 枝 茯 苓 丸 治 疗 前 列 腺 增 生 症62例 临 床 报 告. 齐 齐 哈 尔 医 学 医 院 学 报, 2009, (19), 2142.

Vương Thành, Phạm Tiên (2009). Báo cáo lâm sàng 62 bệnh nhân PĐLTTTL điều trị bằng Quế chi phục linh hoàn. Học báo Bệnh viện Tề Tề áp Nhĩ,2009, (19), 2142.

94. 解 品 启,晏 吉 春 (2011)。桂 枝 茯 苓 丸 合 川 芎 嗪 治 疗 前 列 腺 增 生 症120例。实 用 中 医 药 杂 志, 17 (7), 25.

Giải Phẩm Khải, Yến Cát Xuân (2011). Quế chi Phục linh hoàn hợp Hoạt chất Xuyên khung điều trị 120 bệnh nhân TSLT-TTL. Tạp chí thực dụng Trung y dược, 2011, 17 (7), 25.

95. 刘 成,李 磊 (2012)。真 武 汤 合 桂 枝 茯 苓 丸 治 疗 良 性 前 列 腺增 生 。中 国 实 用 医 药,2012,5, 162-163.

Lưu Thành, Lý Lỗi (2012). Chân vũ thang hợp Quế chi phục linh hoàn điều trị PĐLT-TTL . Thực dụng dược Trung Quốc, 2012, 5 (5), 162-163.

96.王勇,孙大林,金保方,张新东,夏国守,徐福松(2015).补肾导浊颗粒治疗良性前列腺增生症65例的临床研究. 中华中医药杂志, 2015 年10 月第30卷第10 期, 75-77.

Vương Dũng, Tôn Đại Lâm, Kim Bảo Phương và cs (2015). Nghiên cứu lâm sàng thuốc Bổ thận đạo trọc điều trị 65 bệnh nhân TSLT-TTL. Tạp chí Trung y dược Trung Hoa, Kỳ 10 quyển 30 tháng 10 năm 2015, trang 75-77.

97. Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương và cs (2006), Cây thuốc và động vật dùng làm thuốc ở Việt Nam, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, 203 - 205, 430 - 435, 545 - 548, 756 - 758, 976 - 978, 1045 - 1049, 1155 - 1158.

98. World Health Organization (2000), Working group on the safety and efficacy of herbal medicine, Report of regional office for the western pacific of the World Health Organization, 36 - 42.

99. Litchfield J T& Wilcoxon F A. (1949). A simplified method of evaluating dose - effect experiments. J. Pharmacol. Exp. Ther, 96, 99 - 113. Ankier, S, J (1974). New hot plate test to quantity anti nociceptive and narcotic antagonist activities. Eur, J. Pharmacol, 27, 1 - 4.

PHỤ LỤC 1


PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA PHỎNG VẤN NGHIÊN CỨU
Bước đầu đánh giá tác dụng viên nang Linh phụ khang Tuệ Tĩnh trên điều trị bệnh nhân tăng sản lành tính tuyến tiền liệt”

Tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (TSLTTTL) là thuật ngữ dùng thay thế cho các tên gọi trước đây như: phì đại lành tính tuyến tiền liệt, u xơ tuyến tiền liệt, bướu lành tuyến tiền liệt... TSLTTTL mặc dù là một bệnh lành tính, ít gây nguy hiểm đến tính mạng, nhưng là bệnh hay gặp nhất ở nam giới trung niên và tăng dần theo tuổi, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Việc nghiên cứu tác dụng điều trị TSLTTTL nhằm mục đích:

- Cung cấp dữ liệu cho người bệnh và bác sĩ về tình trạng sức khỏe để ra quyết định điều trị phù hợp.

- Đánh giá hiệu quả điều trị, chăm sóc.

- Xác định được các biện pháp điều trị hỗ trợ và chăm sóc người bệnh.

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mong muốn đóng góp những dữ liệu làm cơ sở đề xuất những kiến nghị có giá trị cho công tác điều trị và chăm sóc toàn diện cho người bệnh TSLTTTL. Chúng tôi mời Ông /bà tham gia nghiên cứu bước đầu đánh giá tác dụng viên nang Linh phụ khang Tuệ Tĩnh trên điều trị bệnh nhân tăng sản lành tính tuyến tiền liệt.

Chúng tôi xin cam kết các thông tin được Ông/bà cung cấp chỉ được dùng cho mục đích nghiên cứu và sẽ không tiết lộ cho bất kỳ ai khác.

Chúng tôi đánh giá cao sự hợp tác của Ông/bà vào nghiên cứu.



Xin chân thành cảm ơn!

Địa chỉ liên hệ khi cần thiết:

Nếu Ông/bà muốn biết thêm thông tin hoặc có câu hỏi gì liên quan đến nghiên cứu có thể liên hệ theo số điện thoại sau:



Mọi chi tiết xin liên hệ với:

Hội đồng đạo đức Học viện y dược học cổ truyền Việt Nam.

Số 2, Trần Phú, Hà Đông, Thành phố Hà Nội - Điện thoại:



Nhóm nghiên cứu: Lương Thị Thắng

Lớp Cao học 8 khóa 2015-2017. SĐT : 0978825399



Phòng Đào tạo sau đại học Học viện y dược học cổ truyền Việt Nam.

Số 2, Trần Phú, Hà Đông, Thành phố Hà Nội - Điện thoại:



Ông/bà đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn cho nghiên cứu này chứ?

Đồng ý □

Từ chối □

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Người tham gia nghiên cứu


PHỤ LỤC 2

THANG ĐIỂM QUỐC TẾ IPSS

Họ và tên bệnh nhân: ...............................................Tuổi:...............



Ngày đánh giá:...........................................................

Triệu chứng về tiểu tiện
trong một tháng qua


Khoanh tròn điểm t­­ương ứng

Hoàn toàn không có

Có ít hơn 1/5 số lần

Có ít hơn 1/2 số lần

Khoảng 1/2 số lần

Có hơn 1/2 số lần

Hầu như­­ thường xuyên

1. Tiểu chư­­a hết: ông có thư­­ờng cảm thấy bàng quang vẫn còn nư­­ớc tiểu sau khi đi tiểu không?

0

1

2

3

4

5

2. Tiểu nhiều lần: ông có thư­­ờng tiểu lại trong vòng hai giờ không?

0

1

2

3

4

5

3. Tiểu ngắt quãng: ông có thư­­ờng ngừng tiểu đột ngột khi đang đi tiểu rồi lại đi tiếp không?

0

1

2

3

4

5

4. Tiểu gấp: ông có thấy khó nhịn tiểu không?

0

1

2

3

4

5

5. Tiểu yếu: ông có th­­ường thấy tia nư­­ớc tiểu đi ra yếu không?

0

1

2

3

4

5

6. Tiểu gắng sức: ông có th­­ường phải rặn mới bắt đầu đi tiểu đ­­ược không?

0

1

2

3

4

5

7. Tiểu đêm: ban đêm ông thư­ờng dậy đi tiểu mấy lần?

0 đi

1 lần

2 lần

3 lần

4 lần

5 lần

0

1

2

3

4

5


PHỤ LỤC 3

QUY TRÌNH SẢN XUẤT VIÊN NANG

LINH PHỤ KHANG TUỆ TĨNH
1. Đặc điểm thành phẩm

1.1. Công thức điều chế cho 1 viên nang 0,5g:

- Bột alcaloid toàn phần Náng hoa trắng 5,0 mg

- Bột cao cốt khí củ 100,0 mg

- Bột cao bạch hoa xà thiệt thảo 90,0mg

- Bột tam thất 150,0 mg

- Tá dược (avicel aerososil) vừa đủ 1 viên.

1.2. Tính chất: Viên nang cứng, bên trong chứa bột cao thuốc màu đen.

1.3. Tiêu chuẩn: Viên nang Linh phụ khang Tuệ Tĩnh do Viện nghiên cứu Y học cổ truyền Tuệ Tĩnh – Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam cung cấp đạt tiêu chuẩn TCCS XNCB: 20.000/2014/ ATTP-XNCB.

1.4. Công dụng: Nhuyễn kiên, tán kết tiêu u.

1.5. Liều dùng: Ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 viên.

1.6. Chống chỉ định: Phụ nữ có thai không dùng.

1.7. Đóng gói: Lọ 60 viên có gel chống ẩm, in nhãn rõ ràng đúng quy định.

1.8. Bảo quản: Để nơi khô mát.



1.9. Hạn dùng: 24 tháng kể từ ngày sản xuất.


2. Đặc điểm máy móc và trang thiết bị:

Tên máy, dụng cụ

Quy cách

Nội dung sử dụng

Số lượng

Cân đĩa

200g

Cân kiểm tra trọng lượng túi

1 cái

Cân đồng hồ

100kg

Cân bột, cân dược liệu

1 cái

Đèn tử ngoại

TQ

Tiệt khuẩn phòng

6 cái

Hệ thống chiết xuất, cô cao

TQ

Nấu chiết dược liệu, cô cao

1 bộ

Khay inoc

Các cỡ

Sấy dược liệu, sấy cao

20 cái

Máy rửa

TQ

Rửa dược liệu

1 cái

Máy xay

TQ

Xay cao

1 cái

Máy xát hạt

TQ

Làm cốm

1 cái

Máy đóng nang

TQ

Đóng gói

1 cái

Máy điều hoà

Nhật

Điều hoà phòng

2 cái

Máy hút ẩm

Nhật

Lọc không khí phòng

2 cái

Rây các cỡ




Rây bột

3 cái

Rổ nhựa

Các loại

Rửa dược liệu, đựng thuốc

3 cái

Tủ sấy

TQ, VN

Sấy dược liệu

2 cái


3. Sơ đồ các giai đoạn sản xuất


Dược liệu

Kiểm soát


Chế biến


Nấu cao

Nấu 3 lần nước

Bã dược liệu



Tập trung dịch chiết

Lắng, lọc

Căn dược liệu

Dịch chiết

Cô đặc


Sấy khô 500C - 600C

Trộn lactose, xay mịn

Cao đặc

Cao khô

Bột cao


Dùng cồn 950 xát hạt, làm khô

Kiểm nghiệm thành phẩm

Đóng nang


Nhập kho



PHỤ LỤC 4

MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA



Trước điều trị (33,7 gam)

Sau điều trị (21,4 gam)



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương