Bộ giáo dục và ĐÀo tạo bộ y tế HỌc viện y dưỢc học cổ truyền việt nam


Tổng quan về tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt theo y học cổ truyền



tải về 2.89 Mb.
trang3/5
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích2.89 Mb.
1   2   3   4   5


1.2. Tổng quan về tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt theo y học cổ truyền

1.2.1. Quan niệm về tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt hiện nay theo y học cổ truyền


TSLTTTL là bệnh có tăng sinh lành tính mô tuyến, cơ trơn và mô liên kết của TTL, thường gặp ở nam giới cao tuổi mà đặc trưng chủ yếu là gây ra chèn ép làm tắc đường dẫn niệu dưới, trên lâm sàng thường có các chứng trạng đi tiểu khó, tiểu rắt, tiểu buốt, tiểu đêm, tiểu nhiều lần... có thể dẫn đến biến chứng nhiễm khuẩn tiết niệu, sỏi tiết niệu...nên được quy nạp vào các chứng “long bế”, “lâm chứng”, “di niệu” của YHCT [61], [62], [63].

Giai đoạn đầu là cơ năng, bệnh nhân đi tiểu khó, nước tiểu ra chậm, dòng tiểu nhỏ và yếu, ngắt quãng, đi tiểu xong còn nhỏ giọt, thời gian đi tiểu kéo dài. Các triệu chứng này ứng với chứng “long” trong “long bế” của YHCT. Giai đoạn có tổn thương thực thể, bàng quang giãn và có thể tích nước tiểu tồn dư >100ml, có thể có nhiễm trùng đường tiết niệu gây đái buốt, đái rắt, tương ứng với “lâm chứng” của YHCT. Giai đoạn cuối tổn thương thực thể nặng hơn, đã ảnh hưởng tới chức năng thận. Giai đoạn này thành bàng quang mỏng, mất trương lực, thể tích nước tiểu tồn dư tăng, các triệu chứng đái khó tăng, bệnh nhân phải đi tiểu nhiều lần, bí đái, có khi dẫn đến tình trạng đái rỉ liên tục, bệnh nhân có thể bị suy thận do tắc đường tiết niệu. Giai đoạn này tương ứng với “bế”, “di niệu” ở người cao tuổi [63].



1.2.1.1. Long bế (lung bế)

Long bế là tiểu tiện lượng ít, đái không thông hoặc bí đái. Đi tiểu không thông thoát, nước tiểu thường nhỏ giọt, nước tiểu ít, ngắn, bệnh diễn biến từ từ gọi là “long”. Còn buồn đi tiểu mà không đi được, nhỏ giọt, thể bệnh cấp, đến đột ngột gọi là “bế”. Tuy mức độ khác nhau song nếu đi tiểu khó ra đều gọi là bí tiểu (long bế). Nguyên nhân là do khí hóa ở bàng quang bị rối loạn.

Liên hệ với YHHĐ chứng long bế gặp trong các bệnh gây vô niệu hoặc rối loạn bài tiết nước tiểu (ứ trệ nước tiểu). Như vậy long bế có 2 loại: loại thứ nhất là do rối loạn quá trình hình thành nước tiểu mà bài tiết ra một lượng ít (vô niệu, thiểu niệu); loại thứ 2 là quá trình hình thành nước tiểu không bị trở ngại nhưng khi bài tiết ra thì bị tắc mà làm cho lượng nước tiểu đi ra ít hoặc không ra, nguyên nhân là do tắc nghẽn ở quá trình bài tiết nước tiểu, bệnh này chủ yếu liên quan đến thận, bàng quang [61], [63]. Ngày nay, từ góc độ lâm sàng và cơ chế bệnh sinh của YHHĐ thấy rằng TSLTTTL phù hợp với long bế theo trường hợp thứ 2, tức là quá trình sinh ra nước tiểu bình thường nhưng quá trình bài xuất nước tiểu bị cản trở.

1.2.1.2. Lâm chứng

Là thứ bệnh tiểu tiện đi luôn, nhiều lần, ngắn rít, nhỏ rắt từng giọt, đau buốt, muốn đái ra không hết, bụng dưới đau lan đến eo lưng. Lâm chứng thường chia làm 6 loại: khí lâm, thạch lâm, huyết lâm, nhiệt lâm, cao lâm và lao lâm. Trong mối liên hệ với YHHĐ thì các chứng nhiễm trùng đường tiết niệu, sỏi tiết niệu của YHHĐ tương ứng với chứng lâm của YHCT [61], [62].

TSLTTTL giai đoạn có tổn thương thực thể, bàng quang giãn và có nước tiểu tồn dư thì ngoài đái khó, có thể có dấu hiệu nhiễm trùng tiết niệu gây đái buốt, đái rắt, tương ứng với “chứng lâm” (nhiệt lâm) của YHCT. Nước tiểu ứ lại lâu ngày có thể sinh ra chứng “thạch lâm”, “huyết lâm”, là những biến chứng của TSLTTTL.

1.2.1.3. Di niệu

Di niệu là chỉ chứng trạng mà nước tiểu tự bài tiết không chịu sự khống chế của ý thức con người, nước tiểu tự rỉ ra, hay đái dầm. Đái dầm thường thấy ở trẻ em, chứng đi tiểu luôn không nín được phần nhiều gặp ở người cao tuổi. Bệnh có quan hệ trực tiếp với thận và bàng quang, nếu thận khí hư hoặc bàng quang không chế ước được sẽ gây nên bệnh [61], [62].

TSLTTTL giai đoạn tổn thương thực thể nặng, thành bàng quang mỏng, mất trương lực, thể tích NTTD tăng, đi tiểu nhiều lần, có khi dẫn đến đái rỉ liên tục do nước tiểu tràn đầy bàng quang giãn căng. Giai đoạn này tương ứng với “di niệu”. Qua nghiên cứu các khái niệm về “lâm chứng”, “long bế” và “di niệu” của YHCT, chúng ta thấy bệnh lý TSLTTTL liên quan đến cả 3 khái niệm trên [25], [26], [63].

1.2.2. Nguyên nhân và biện chứng luận trị của tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt theo y học cổ truyền


1.2.2.1. Nguyên nhân

Biểu hiện long bế trong TSLTTTL chủ yếu do rối loạn khí hoá thuỷ dịch và bài xuất nước tiểu, do vậy những nguyên nhân làm rối loạn chức năng của thận và bàng quang thì đều có thể là nguyên nhân gây bệnh. Ngoài vai trò của tạng thận trong việc khí hoá bàng quang thì còn vai trò của trở lực hữu hình là khối tăng sinh của TTL, điều này có liên quan đến đàm kết, khí huyết ứ trệ ở hạ tiêu. Nguyên nhân của chứng lâm thường do thấp nhiệt tích tụ tại hạ tiêu làm trở ngại chức năng khí hoá của bàng quang, còn di niệu thường là do thận khí hư không khí hoá được bàng quang gây nên. Như vậy, nguyên nhân của TSLTTTL gồm: tạng phủ hư nhược mà đặc biệt là thận khí hư, khí hoá bàng quang kém; đàm trọc huyết ứ và thấp nhiệt ứ trệ ở hạ tiêu [62].



1.2.2.2. Biện chứng luận trị

TSLTTTL tương ứng với “long bế”, “di niệu” của YHCT, trên lâm sàng thường có các chứng rối loạn tiểu tiện như: đi tiểu khó, tiểu rắt, tiểu đêm, tiểu nhiều lần... bệnh lâu ngày có thể dẫn đến các biến chứng nhiễm khuẩn, sỏi tiết niệu... với các chứng trạng như tiểu đau buốt, tiểu rắt, tiểu ra máu, bí đái... tương ứng với “chứng lâm”, chứng bế trong “long bế” của YHCT.



Nguyên nhân của long bế là do công năng khí hóa của thận khí và bàng quang suy giảm. Bình thường, thuỷ dịch thông qua sự thu nạp ở vị, vận hoá ở tỳ, thăng lên Phế, Phế túc giáng tới thận. Nhờ sự khí hoá của thận khí, thuỷ dịch được phân thành thanh và trọc: phần thanh lên phế, hoàn nguyên thành tân dịch để sử dụng phân bố toàn thân, phần trọc hạ trú xuống bàng quang rồi bài xuất ra ngoài thành nước tiểu. Bàng quang là nơi chứa niệu dịch, lại là phủ quản lý xuất nạp nước tiểu, sự bài xuất nước tiểu là nhờ vào sự khí hoá của bàng quang. Bàng quang và thận có quan hệ biểu lý. Sự phát sinh các chứng trạng của “long bế” trong TSLTTTL có liên quan trực tiếp đến sự suy giảm công năng khí hoá của thận và bàng quang. Như vậy, thận hư, khí hoá bàng quang kém là nguyên nhân hàng đầu được đề cập đến của chứng “long bế” trong TSLTTTL, khi điều trị cần phải bổ thận, tăng cường khí hoá bàng quang.

Trong TSLTTTL, ngoài vai trò của tạng thận trong việc khí hoá bàng quang thì còn vai trò của trở lực hữu hình là khối tăng sinh của TTL chèn ép, theo YHCT, điều này có liên quan đến đàm kết, khí huyết ứ trệ ở hạ tiêu làm cho mạch lạc ở hạ tiêu bị chèn ép, tắc trở, làm tiểu tiện không thông. Như vậy, theo quan niệm của YHCT, đàm kết, khí huyết ứ trệ ở hạ tiêu cũng là một nguyên nhân quan trọng gây ra chứng long bế trong TSLTTTL. Vì vậy trong pháp điều trị cũng cần có biện chứng rõ ràng, ngoài bổ thận cũng cần phải nhuyễn kiên, tán kết, tiêu trừ tích trệ thì mới có hiệu quả.

Bệnh lâu ngày thấy đi tiểu đau buốt, tiểu nóng (nhiệt lâm); tiểu ra cặn sỏi (thạch lâm); tiểu máu (huyết lâm); hoặc bí đái (niệu bí) thì thuộc về các biến chứng của bệnh… là dấu hiệu của nhiễm trùng đường tiết niệu. Giai đoạn này có thể thấy tương ứng với “chứng lâm” (nhiệt lâm) của YHCT. Nước tiểu ứ lại lâu ngày có thể sinh ra chứng “thạch lâm”, “huyết lâm”, là những biến chứng của TSLTTTL. Như vậy, một nguyên nhân nữa của TSLTTTL theo YHCT, đặc biệt khi có nhiễm trùng tiết niệu kèm theo là do thấp nhiệt uất kết ở hạ tiêu, điều trị cần thanh thấp nhiệt hạ tiêu [69], [71], [72], [73].

Trong TSLTTTL, thận khí hư, đàm trọc huyết ứ là cái gốc (bản) của bệnh. Còn các biểu hiện lâm sàng như đi tiểu khó, tiểu tiện không thông, nước tiểu ra nhỏ giọt… là biểu hiện ngọn (tiêu) của bệnh. Bệnh lâu ngày thấy đi tiểu đau buốt, tiểu nóng (nhiệt lâm); tiểu ra cặn sỏi (thạch lâm); tiểu máu (huyết lâm); hoặc bí đái (niệu bí) thì thuộc về các biến chứng của bệnh.

Như vậy, biện chứng của TSLTTTL căn cứ vào 3 luận điểm chính, đó là: Thận hư, đàm trọc, huyết ứ trệ là gốc của bệnh (bản); Tiểu tiện không thông là biểu hiện chứng trạng điển hình của bệnh (tiêu); Các biến chứng của bệnh như là nhiệt lâm, thạch lâm, huyết lâm và niệu bí.

1.2.3. Các thể lâm sàng của tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt và điều trị theo y học cổ truyền


Theo các giả Vũ Ngọc Quân (2012) chia bệnh này ra làm 6 thể [63]:

1.2.3.1. Thể bàng quang thấp nhiệt

Bao gồm các bệnh danh thấp nhiệt hạ chú, thấp nhiệt uẩn kết, thấp nhiệt tắc trở, thấp nhiệt ung trệ, thấp nhiệt nội thịnh, bàng quang thấp nhiệt, bàng quang thấp trở và bàng quang tích nhiệt...

- Triệu chứng: đái khó, đái nhiều lần, đái rắt, đái són, nước tiểu ít, đỏ và đục. Đái có cảm giác nóng niệu đạo, đại tiện táo, sợ lạnh, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi đỏ, mạch nhu sác hoặc trầm nhược sác.

- Pháp điều trị: thanh nhiệt lợi thấp kết hợp với nâng cao chính khí (cần phải công bổ kiêm trị).

- Phương dược: “Bát chính tán gia giảm”, nếu kèm theo tâm hỏa vượng như tâm phiền, môi lưỡi loét thì có thể kết hợp “Đạo xích tán”, “Hoàng liên ôn đởm thang”. Nếu kèm miệng đắng, mắt sưng đau thì có thể do can đởm thấp nhiệt nên dùng kết hợp thêm “Long đởm tả can thang”.

- Các vị thuốc thường dùng: Xa tiền thảo, Mộc thông, Biển xúc, Chi tử, Hoàng cầm, Hoàng bá, Bồ công anh, Thạch vỹ, Đào nhân, Đan bì, Sinh địa…



1.2.3.2. Thể can khí uất trệ

Bao gồm can khí uất kết, khí huyết uất kết, khí cơ uất trệ ...

- Triệu chứng: tiểu tiện khó kèm theo tinh thần uất ức, bực tức hoặc đa phiền, hay nổi cáu, miệng đắng, họng khô, tức ngực sườn, hay thở dài, bụng đầy trướng, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền.

- Pháp điều trị: sơ can giải uất, hành khí lợi thuỷ.



- Phương dược: hay dùng “Trầm hương tán”, nếu bụng đầy khí trệ rõ rệt kết hợp “Lục ma thang”, hoặc dùng “Sài hồ sơ can thang”.

- Các vị thuốc thường dùng: Sài hồ, Trư linh, Hạ khô thảo, Bạch thược, Chỉ xác, Tam thất, Hương phụ, Long đởm thảo, Xa tiền tử, Trạch lan, Ích mẫu, Đan sâm, Hoàng Cầm, Vương bất lưu hành, Phục linh…

- Châm cứu: hay dùng các huyệt: Can du, Thận du, Thái xung, Tam âm giao, Trung cực, Âm lăng tuyền…

1.2.3.3. Tắc niệu đạo (niệu lộ ứ trở)

Bao gồm khí huyết ứ trở, huyết ứ, ứ khối nội trở, ứ trọc trở tắc, ứ trở bàng quang, niệu đạo ứ trở, đàm ngưng ứ trở.

- Triệu chứng: tiểu tiện ra nhỏ giọt hoặc dòng nước tiểu như sợi chỉ nhỏ, hoặc đái đau kèm theo đầy chướng bụng dưới, đau chói không di chuyển, hôi miệng, lưỡi tím, có điểm ứ huyết, mạch sáp.

- Pháp điều trị: hành ứ tán kết thông lợi thuỷ đạo.

- Phương dược: dùng “Đại để dương hoàn” gia giảm, nếu kèm khí trệ dùng bài “Huyết phủ trục ứ thang”. Nếu tuyến tiền liệt co cứng gia thêm miết giáp, Tam lăng, Nga truật, nếu dương vật đau gia thêm Hoàng bá, Tri mẫu, Long đởm thảo, Sinh địa.

- Các vị thuốc thường dùng: Hoàng bá, Xuyên sơn giáp, Tam lăng, Nga truật, Hoàng kỳ, Trạch tả, Đan bì, Ngưu tất, Ích mẫu thảo, Đào nhân, Tri mẫu, Miết giáp, Long đởm thảo…



1.2.3.4. Thể tỳ khí hư

Bao gồm tỳ khí hư nhược, trung khí bất túc, tỳ thận khí hư, hình thịnh khí suy, trung khí hạ hãm.

- Triệu chứng: tiểu tiện tự tràn (dàn dụa) mà không có sức bài niệu, sắc mặt trắng bệch, tinh thần khiếp nhược, lưng gối mỏi, sợ lạnh, ưa ấm, chân tay lạnh hoặc phù nề, lưỡi nhạt, rêu trắng.

- Pháp điều trị: thăng thanh giáng trọc hành khí lợi thuỷ.

- Phương dược: dùng bài “Bổ trung ích khí” kết hợp với “Ngũ linh tán”.

- Các vị thuốc thường dùng: Hoàng kỳ, Bạch truật, Đảng sâm, Ngưu tất, Ích mẫu thảo, Hổ trượng, Vương bất lưu hành, Mộc hương, Xa tiền, Trạch tả, Xương bồ, Thăng ma, Sài hồ, Cam thảo, Cát cánh, Đương qui, Xuyên sơn giáp, Phục linh, Mộc thông, Hoài sơn, Sa nhân, Thần khúc…



1.2.3.5. Thận dương suy hư

Bao gồm mệnh môn hoả suy, dương hư, chân dương bất túc.

- Triệu chứng: tiểu tiện tự tràn (dàn dụa) mà không có sức bài niệu, sắc mặt trắng bệch, tinh thần khiếp nhược, lưng gối mỏi, sợ lạnh, ưa ấm, chân tay lạnh hoặc phù nề, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế hư nhược .

- Pháp điều trị: ôn dương khí bổ thận lợi niệu.

- Phương dược: hay dùng bài “Tế sinh hoàn” gia giảm, hay kết hợp với bài “Tứ thần hoàn”.

- Các vị thuốc thường dùng: Hoàng kỳ, Đảng sâm, Hoàng tinh, Tang bạch bì, Đại phúc bì, Nhục quế, Ngô thù du, Phá cố chỉ, Ba kích, Phụ tử, Lộc giác phiến, Tiên linh tỳ…



1.2.3.6. Thể thận âm hư

Bao gồm âm hư hoả vượng, can thận âm hư, âm hư dương cang, thận âm bất túc.

- Triệu chứng: mót tiểu mà đi tiểu không ra, kèm theo đầu váng, mắt hoa, họng khô, tâm phiền, nóng ở lòng bàn tay, chân, đại tiện táo kết, có khi đi tiểu đỏ, lưỡi đỏ, không có rêu, mạch trầm tế sác.

- Pháp điều trị: tư bổ thận âm thông đại tiểu tiện.

- Phương dược: hay dùng bài “Tri bá địa hoàng hoàn” gia giảm hoặc bài “Lục vị địa hoàng hoàn” kết hợp với bài “Trư linh thang”.

- Các vị thuốc thường dùng: Sa sâm, Mạch môn, Thiên môn, Câu kỷ tử, Nữ trinh tử, Thục địa, A giao, Sinh địa, Tri mẫu, Sơn tra, Kỷ tử…


1.3. Tổng quan các nghiên cứu điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt bằng thuốc y học cổ truyền


Các thuốc thảo mộc hiện nay được dùng rộng rãi do hiệu quả tốt trên bệnh nhân TSLTTTL vì có tác dụng chống viêm, lợi tiểu và hầu như không có tác dụng không mong muốn. Một số thuốc đã được nghiên cứu:

1.3.1. Các nghiên cứu ở trong nước


Từ năm 1995 đến 1998, Nguyễn Xuân Hướng đã bước đầu nghiên cứu lá trinh nữ hoàng cung điều trị 158 bệnh nhân u xơ TTL tại bệnh viện Hữu nghị Việt Xô, đã báo cáo nghiệm thu đề tài cấp bộ năm 2001. Kết quả khá và tốt chiếm 97% [79].

Năm 2004, Lê Anh Thư và cộng sự đã nghiên cứu viên nang chứa ancaloid toàn phần của lá trinh nữ hoàng cung trên 52 bệnh nhân TSLTTTL, tại khoa Nội Bệnh viện YHCT Trung Ương trong 60 ngày. Kết quả cho thấy loại khá và tốt đạt 96,1% [80].

Năm 2005, Trần Đức Thọ và cộng sự tiến hành điều trị bằng viên nang Crila chiết xuất từ lá trinh nữ hoàng cung trên 157 bệnh nhân TSLTTTL trong 2 tháng cho thấy có cải thiện tốt về lâm sàng: điểm IPSS giảm đáng kể từ 19,45 ± 5,22 điểm trước điều trị xuống 7,81 ± 3,71 điểm, thể tích TTL trên siêu âm giảm từ 38,97 ± 14,32 cm3 trước điều trị xuống còn 35,06 ± 15,01 cm3 sau điều trị, tuy nhiên chưa có ý nghĩa thống kê [81].

Năm 2003, Nguyễn Thị Tú Anh và cộng sự đã nghiên cứu điều trị 42 bệnh nhân TSLTTTL bằng bài thuốc “Thận khí hoàn gia giảm”. Kết quả sau 1 tháng điều trị, các triệu chứng lâm sàng được cải thiện, điểm IPSS giảm từ 21,0 xuống còn 11,75 điểm [82].

Nghiên cứu của Trần Lập Công năm 2011, dùng “Trà tan Thuỷ Long” Nghiên cứu trên 117 bệnh nhân trong 6 tuần. Kết quả cho thấy sau điều trị, điểm trung bình IPSS giảm từ 22,63 ± 5,12 xuống còn 9,52 ± 3,88 điểm; Điểm CLCS trung bình cải thiện từ 3,98 ± 0,98 xuống còn 2,08 ± 0,85 điểm; Thể tích TTL trung bình sau 6 tuần điều trị giảm từ 40,54 ± 7,01cm3 xuống còn 28,02 ± 6,44cm3 [85].

1.3.2. Các nghiên cứu ở nước ngoài


Nghiên cứu của Bành Thế Kiều, Chu Lập Tân, Trình Hoa (Trung Quốc) (2007) trên lâm sàng điều trị 100 bệnh nhân TSLTTTL điều trị bằng Quế chi phục linh hoàn trong 2 tháng cho thấy có cải thiện tốt các triệu chứng lâm sàng như đi tiểu khó, tiểu nhiều lần [91].

Vương Thành, Phạm Tiên (2009) cũng báo cáo 62 ca TSLTTTL được điều trị bằng Quế chi phục linh thang gia các vị Xuyên sơn giáp 10g, Lệ chi hạch 15g, Xa tiền tử 15g và Hải tảo 15g. Bệnh nhân dùng thuốc thang sau 2 tháng thấy cải thiện tốt các triệu chứng lâm sàng và làm nhỏ khối tuyến tiền liệt tăng sinh trên siêu âm [93].

Năm 2011, Giải Phẩm Khải, Yến Cát Xuân đã dùng Quế chi Phục linh hoàn phối hợp với Hoạt chất Xuyên khung điều trị 120 bệnh nhân TSLTTTL. Kết quả cho thấy có 46 bệnh nhân có hiệu quả tốt chiếm 38,3%; 61 bệnh nhân có hiệu quả chiếm 50,8%. Tổng suất hiệu quả là 89,2% [94].

Năm 2012, Lưu Thành, Lý Lỗi (Trung Quốc) nghiên cứu dùng Chân vũ thang hợp Quế chi phục linh hoàn điều trị TSLTTTL cho những bệnh nhân bị TSLTTTL thể tỳ thận dương hư [95].

Vương Dũng, Tôn Đại Lâm và cộng sự (2015) đã nghiên cứu điều trị TSLTTTL bằng thuốc Bổ thận đạo trọc (BD). Sau điều trị, nhóm NC có điểm IPSS giảm từ 18,15 ± 2,99 xuống còn 10,18 ± 3,29; lưu lượng dòng tiểu (Qmax) tăng đáng kể từ 8,25 ± 1,91 ml/s lên 16,38 ± 2,93 ml/s; lượng nước tiểu tồn dư giảm từ 46,81 ± 3,38ml xuống còn 30,51 ± 2,15ml; So với nhóm chứng, các chỉ số IPSS, QoL, Qmax, lượng NTTD đều cải thiện có ý nghĩa thống kê (p<0,05) [96].

1.4. Tổng quan viên nang linh phụ khang tuệ tĩnh

1.4.1. Nguồn gốc


Viên nang Linh phụ khang Tuệ Tĩnh do Viện nghiên cứu Tuệ Tĩnh – Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam cung cấp đạt tiêu chuẩn TCCS XNCB: 20.000/2014/ ATTP-XNCB.

1.4.2. Thành phần


Viên nang Linh phụ khang Tuệ Tĩnh thành phần bao gồm :

- Bột alcaloid toàn phần Náng hoa trắng 5,0 mg

- Bột cao cốt khí củ 100,0 mg

- Bột cao bạch hoa xà thiệt thảo 90,0mg

- Bột tam thất 150,0 mg

- Tá dược (avicel aerososil) vừa đủ 1 viên.


1.4.3. Náng hoa trắng [44]


Tên khoa học: Crinumasiaticum L.

Họ Náng hay họ Thủy tiên (Amaryllidaceae).

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Crinii asiatici). Thường dùng tươi.

Thành phần hóa học: Trong Náng hoa trắng có alkaloid gọi là lycorin C16H17NO4. Thân và bẹ lá chứa alkaloid: baconin, licorin, crinasiatin, hipadin; trái chứa ungeremin, criasbetain. Alkaloid được phân bố cả lá, hoa, dò, quả.

Tác dụng dược lý – công dụng: Nhân dân dùng lá cây Náng hơ nóng, đắp và bóp vào những nơi sai gân, bong gân, bầm tím, sưng tấy khi ngã. Còn dùng xoa bóp khi bị tê thấp, nhức mỏi. Không dùng để uống.

Nghiên cứu tác dụng dược lý:

- Năm 1963 giáo sư Đỗ Tất Lợi, Ngô Văn Thu và Phạm Xuân Cù đã tiến hành nghiên cứu về thành phần hóa học trong cây náng hoa trắng Việt Nam và đã phát hiện thành phần ancaloit trong lá, hoa và củ náng hoa trắng.

- Đề tài “Nghiên cứu cây náng hoa trắng (Crinum asiaticum L.) làm thuốc chữa u xơ tuyến tiền liệt” của Viện Dược Liệu đã kết luận:

+ Náng hoa trắng có tác dụng làm giảm phì đại lành tính trên tuyến tiền liệt lên tới 35,4 %.

+ Náng hoa trắng có tác dụng chống viêm mạn rất tốt, có khả năng làm giảm trọng lượng u hạt tới 25,4 %.

+ Khi sử dụng náng hoa trắng trong thời gian kéo dài cũng không gây tác dụng phụ hay độc tính.


  • Về hoạt chất sinh học có lợi cho sức khỏe, trong cây Náng hoa trắng có hàm lượng alkaloid khá cao, khoảng 0,97% - nhiều hơn Trinh nữ hoàng cung (0,49%) và Náng hoa đỏ (0,56%). Khoảng thời gian thu hái hiệu quả cao nhất vào khoảng tháng 6 trên cây chưa ra hoa. Náng hoa trắng làm giảm phì đại lành tính trên tuyến tiền liệt lên tới 35,4%. Ngoài ra, còn có tác dụng kháng viêm rất tốt. Náng hoa trắng khá lành tính, sử dụng trong thời gian dài không gây tác dụng phụ hay độc tính. 

1.4.4. Cốt khí củ [45]


Tên khoa học: Polygonicuspidatin Sieb et Zucc. Thuộc họ rau răm Polygonaceae.

Bộ phận dùng: Củ cốt khí (Radix polygoni cuspidan) là rễ phơi hay sấy khô của cây củ cốt khí.

Thành phần hóa học: Trong rễ cây này có antraglucozit chủ yếu là emodin hay rheum emodin C16H12O5' dưới dạng tự do và kết hợp. Ngoài ra còn có chất polygonin C12H20O10 và tanin.

Tác dụng dược lý hiện đại: Dịch chiết nước của cốt khí củ có tác dụng chống viêm ức chế sự tăng sinh của các khối u trong cơ thể, ức chế sự đột biến và khép AND bởi 1- nitropyren.

Tác dụng theo y học cổ truyền:

+ Tính vị quy kinh: Cốt khí củ có vị đắng, tính ấm. Quy kinh can, tâm bào.

+ Công dụng: Công năng hoạt huyết thông kinh, chỉ thống, trừ phong thấp, thanh thấp nhiệt, tiêu viêm, sát khuẩn.

+ Phạm vi sử dụng: Trong nhân dân Việt Nam củ cốt khí là một vị thuốc dùng chữa tê hấp, do bị ngã, bị thương mà tổn thương đau đớn, còn là một vị thuốc thu liễm cầm máu. Vị thuốc được ghi trong bộ Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân (Trung Quốc, thế kỷ 16).

1.4.5. Bạch hoa xà thiệt thảo [46]


Tên khoa học:  Oldenlandia diffusa (Willd) Roxb.

Họ Cà Phê (Rubiaceae).

Bộ phận dùng: Toàn cây.


Thành phần hóa học: Trong Bạch Hoa Xà Thiệt Thảo chủ yếu có: Hentriaconotane, Stigmastatrienol, Ursolic acid, Oleanolic acid, b-Sitosterol, p-Coumnic, b-Sitosterol-D-Glucoside (Trung Dược Học).

Tác dụng dược lý:


+ Tác dụng chống khối u: Thuốc sắc Bạch Hoa Xà Thiệt Thảo nồng độ cao in vitro thấy có tác dụng ức chế đối với tế bào trong bệnh bạch cầu viêm cấp, bạch cầu hạt tăng cấp (Trung Dược Học).

+ Tác dụng kháng ung thư: Thuốc ức chế sự phân chia sinh sản của hạch tế bào ung thư làm cho tế bào ung thư hoại tử khác biệt so với lô chứng (Trung Dược Học).

Tác dụng theo y học cổ truyền:

+ Tính vị: Vị ngọt nhạt, tính mát

+ Quy Kinh: Vào kinh Tâm, Can, Vị, Tiểu trường, Đại trường


+ Công dụng: thanh nhiệt, giải độc, lợi niệu, khử ứ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). Trị các loại sưng đau do ung thư, nhiễm trùng đường tiểu, viêm hạnh nhân, viêm họng (Quảng Tây Trung Dược Chí).

1.4.6. Tam thất [97]

Tên khoa học: Panax pseudo-ginseng, là loài thực vật có hoa thuộc chi Sâm.

Bộ phận dùng: Bộ phận dùng làm thuốc của cây Tam thất bắc là Củ. Ngoài ra hoa và nụ tam thất bắc cũng được dùng làm thuốc điều trị bệnh tim mạch và huyết áp

Thành phần hóa học: Phân tích thành phần trong tam thất bắc, các nhà khoa học phát hiện trong tam thất bắc có nhiều dưỡng chất, dược chất quý hiếm, phải kể như các acid amin, sterol, đường, các nguyên tố Fe, Ca và đặc biệt là 2 chất Saponin: Arasaponin A, Arasaponin B thường có trong Nhân Sâm.

Công dụng: Từ xưa đến nay tam thất luôn là vị thuốc nam quý hiếm được ví ngang hàng với nhân sâm, củ tam thất có tác dụng bồi bổ cơ thể, ngoài ra loại dược liệu quý hiếm này còn điều trị được rất nhiều chứng bệnh. Theo các tài liệu cổ Củ tam thất có vị ngọt, hơi đắng, tính ôn, vào 2 kinh can và vị. Ngoài ra tam thất còn là một vị thuốc có tác dụng bồi bổ sức khỏe.


CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



2.1. Chất liệu nghiên cứu

2.1.1. Thuốc nghiên cứu


* Thuốc dùng trong nghiên cứu lâm sàng

Hình 2.1 Viên nang Linh phụ khang Tuệ Tĩnh

- Viên nang Linh phụ khang Tuệ Tĩnh do Viện nghiên cứu Tuệ Tĩnh Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam cung cấp đạt tiêu chuẩn TCCS XNCB: 20.000/2014/ ATTP-XNCB.

- Viên nang Linh phụ khang Tuệ Tĩnh thành phần bao gồm : Bột alcaloid toàn phần Náng hoa trắng 5,0mg; bột cao cốt khí củ 100,0 mg, Bột cao bạch hoa xà thiệt thảo 90,0mg; bột tam thất 150,0 mg; tá dược (avicel aerososil).

Mỗi ngày bệnh nhân uống hai lần, mỗi lần 03 viên. Tổng liều uống 06 viên/ngày, uống sau ăn 20-30 phút, thời gian uống trong 8 tuần.

2.1.2. Phương tiện trang thiết bị nghiên cứu


- Kim đầu tù cho chuột uống, cốc chia vạch, bơm kim tiêm 1ml.

- Máy xét nghiệm huyết học Vet abcTM Animal Blood Counter.

- Máy xét nghiệm sinh hóa Screen - Master của hãng Hospitex Diagnostic, Italy.

- Máy siêu âm 4D Logiq S7 Expert GE Healthcare của hãng GE Healthcare, Mỹ.

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.2.1. Nghiên cứu trên thực nghiệm


- 40 chuột nhắt trắng khoẻ mạnh chủng Swiss, cả hai giống, trọng lượng 20 2g dùng để nghiên cứu độc tính cấp

- Chuột nhắt trắng trong nghiên cứu do Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương và Trung tâm chăn nuôi – Viện kiểm nghiệm – Bộ Y tế cung cấp.


2.2.2. Nghiên cứu trên lâm sàng


2.2.2.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

* Tiêu chuẩn chọn theo y học hiện đại

Bệnh nhân được chẩn đoán TSLTTTL giai đoạn chưa có biến chứng theo hướng dẫn của Hội Tiết niệu Thận học Việt Nam (VUNA) tại Hội nghị khoa học thường niên lần thứ XI (2017) [2], bao gồm:

- Điểm IPSS ≥ 8 và điểm CLCS ≥ 3.

- Siêu âm: Khối lượng TTL ≥ 25gam, TTL có mật độ âm đồng nhất, tròn đều, ranh giới rõ. Thể tích nước tiểu tồn dư < 100ml.

- Giai đoạn chưa có biến chứng với các triệu chứng: đi tiểu khó, với các biểu hiện như nước tiểu ra chậm, dòng nước tiểu nhỏ và yếu, ngắt quãng, đi tiểu xong còn nhỏ giọt, thời gian đi tiểu kéo dài. Đồng thời, do sự kích thích của cơ bàng quang phì đại, bệnh nhân có chứng đi tiểu vội, buồn đi tiểu là phải đi ngay, đi nhiều lần trong ngày và đêm, đặc biệt về gần sáng. Nước tiểu tồn dư sau tiểu tiện (PVR) khoảng 50ml.



* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo y học cổ truyền

Bệnh nhân TSLTTTL thuộc các thể thận dương hư, can khí uất trệ, tỳ khí hư nhược và thận âm hư [62].



    • Thể thận dương hư:

- Triệu chứng tại hệ tiết niệu: Tiểu đêm. Tiểu nhiều lần cả ban đêm lẫn ban ngày, nhất là về đêm, th­ường từ 2 lần trở lên làm bệnh nhân mất ngủ. Tiểu khó: phải rặn nhiều mới đi tiểu đư­ợc, tia nư­ớc tiểu yếu và phải đi làm nhiều giai đoạn, đứng lâu mới tiểu hết. Đi tiểu có tia nư­ớc tiểu yếu và nhỏ, có khi ra hai tia. Khi đi tiểu, luợng n­ước tiểu sau cùng tiểu rớt xuống không vọt ra xa. Có nư­ớc tiểu tồn đ­ọng: đi tiểu xong bệnh nhân vẫn còn cảm giác tiểu chư­a hết

- Triệu chứng toàn thân: Sắc mặt tối xạm, mệt mỏi. Lưng, gối mỏi, sợ lạnh. Lưỡi nhợt, rêu trắng. Mạch trầm tế hoặc hư nhược.



    • Can khí uất trệ:

- Triệu chứng tại hệ tiết niệu: Tiểu gấp: buồn đi tiểu một cách cấp thiết, không nhịn đ­ược quá vài phút hoặc nhịn rất khó. Tiểu nhiều lần cả ban đêm lẫn ban ngày, nhất là về đêm, th­ường từ 2 lần trở lên làm bệnh nhân mất ngủ. Tiểu khó: phải rặn nhiều mới đi tiểu đư­ợc, tia nư­ớc tiểu yếu và phải đi làm nhiều giai đoạn, đứng lâu mới tiểu hết. Đi tiểu có tia nư­ớc tiểu yếu và nhỏ, có khi ra hai tia. Khi đi tiểu, luợng n­ước tiểu sau cùng tiểu rớt xuống không vọt ra xa. Có nư­ớc tiểu tồn đ­ọng: đi tiểu xong bệnh nhân vẫn còn cảm giác tiểu chư­a hết

- Triệu chứng toàn thân: Tinh thần uất ức, hay cáu giận. Miệng đắng, họng khô, tức ngực sườn. Rêu lưỡi mỏng, chất lưỡi tím. Mạch huyền.



    • Thể tỳ khí hư nhược:

- Triệu chứng tại hệ tiết niệu: Tiểu gấp: buồn đi tiểu một cách cấp thiết, không nhịn đ­ược quá vài phút hoặc nhịn rất khó. Tiểu nhiều lần cả ban đêm lẫn ban ngày, nhất là về đêm, th­ường từ 2 lần trở lên làm bệnh nhân mất ngủ. Tiểu khó: phải rặn nhiều mới đi tiểu đư­ợc, tia nư­ớc tiểu yếu và phải đi làm nhiều giai đoạn, đứng lâu mới tiểu hết. Đi tiểu có tia nư­ớc tiểu yếu và nhỏ, có khi ra hai tia. Khi đi tiểu, luợng n­ước tiểu sau cùng tiểu rớt xuống không vọt ra xa. Có nư­ớc tiểu tồn đ­ọng: đi tiểu xong bệnh nhân vẫn còn cảm giác tiểu chư­a hết

- Triệu chứng toàn thân: Người gầy yếu, ăn kém, mệt mỏi. Lưỡi nhợt, rêu trắng. Mạch hoãn.



    • Thể thận âm hư:

- Triệu chứng tại hệ tiết niệu: Tiểu gấp: buồn đi tiểu một cách cấp thiết, không nhịn đ­ược quá vài phút hoặc nhịn rất khó. Tiểu nhiều lần cả ban đêm lẫn ban ngày, nhất là về đêm, th­ường từ 2 lần trở lên làm bệnh nhân mất ngủ. Tiểu khó: phải rặn nhiều mới đi tiểu đư­ợc, tia nư­ớc tiểu yếu và phải đi làm nhiều giai đoạn, đứng lâu mới tiểu hết. Đi tiểu có tia nư­ớc tiểu yếu và nhỏ, có khi ra hai tia. Khi đi tiểu, luợng n­ước tiểu sau cùng tiểu rớt xuống không vọt ra xa. Có nư­ớc tiểu tồn d­ọng: đi tiểu xong bệnh nhân vẫn còn cảm giác tiểu chư­a hết

- Triệu chứng toàn thân: Đại tiện táo, kết. Rêu lưỡi ít, chất lưỡi đỏ. Mạch trầm, tế, sác.


2.2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ

* Tiêu chuẩn loại trừ theo y học hiện đại


Toàn bộ bệnh nhân TSLTTTL có chỉ định phẫu thuật theo hướng dẫn của Hội Tiết niệu Thận học Việt Nam (VUNA) tại Hội nghị khoa học thường niên lần thứ XI (2017) [3], bao gồm: Bàng quang có sỏi, túi thừa, u. Thể tích n­ước tiểu tồn dư­ > 100ml. Bí đái hoàn toàn, hoặc th­ường xuyên phải thông đái. Những bệnh nhân nghi ngờ ung thư­ (làm PSA >10ng/ml, hoặc có bệnh lý khác của TLT). Nhiễm khuẩn niệu kéo dài, hay tái phát. Đái ra máu do TSLTTTL. Các biến chứng ảnh hưởng đến chức năng thận. Trong quá trình điều trị bệnh nhân không chấp hành đúng qui định của điều trị, hoặc điều trị không đủ thời gian, hoặc không làm đủ các xét nghiệm theo yêu cầu chúng tôi đều loại trong nghiên cứu.

* Tiêu chuẩn loại trừ theo y học cổ truyền

Bệnh nhân TSLTTTL thuộc các thể: niệu lộ ứ trở, bàng quang thấp nhiệt [62].



  • Thể tắc niệu đạo (niệu lộ ứ trở):

Triệu chứng gồm: Tiểu nhỏ giọt hoặc dòng tiểu nhỏ. Đái đau kèm theo chướng bụng dưới hoặc đau chói hạ vị, hậu môn. Lưỡi có nhiều điểm ứ huyết, chất lưỡi tím. Mạch sác.

  • Thấp nhiệt bàng quang:

Triệu chứng gồm:Tiểu nhiều, đái rắt, khó đái, nước tiểu ít, mỗi lần đái tiểu vàng, đỏ, đục. Cảm giác nóng niệu đạo. Bụng dưới tức, chướng, đầy. Đại tiện táo, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi hồng đỏ. Mạch hoạt sác.

2.2.2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu

- Đánh giá mức độ rối loạn tiểu tiện theo thang điểm IPSS.

- Thang điểm chất lượng cuộc sống.

- Thể tích nước tiểu tồn dư.

- Thể tích và khối lượng tuyến tiền liệt.

- Các chỉ số sinh lý: tần số mạch, huyết áp động mạch.

- Các chỉ số huyết học: số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng Hb.

- Các chỉ số hóa sinh máu: ATL, ALT, ure, creatinin.

- Các chỉ tiêu theo thể bệnh YHCT.

Các chỉ tiêu được xác định trước và sau 4 tuần, 8 tuần điều trị.


2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Nghiên cứu độc tính cấp


Độc tính cấp LD50 được xác định trên chuột nhắt trắng theo đường uống bằng phương pháp Litchfied- Wilcoxon [99]

- 40 chuột nhắt trắng khoẻ mạnh, trọng lượng 20 ± 2g, được chia thành 4lô. Trước khi tiến hành thí nghiệm, cho chuột nhịn ăn qua đêm. 4 lô chuột nhắt trắng, mỗi lô 10 con, được uống mẫu thuốc nghiên cứu theo liều tăng dần từ 15ml/kg thể trọng, 30ml/kg thể trọng, 45ml/kg thể trọng, 60ml/kg thể trọng. Tìm liều cao nhất không gây chết chuột (0%), liều thấp nhất gây chết chuột hoàn toàn (100%) và các liều trung gian. Theo dõi tình trạng chung của chuột và số lượng chuột chết ở mỗi lô trong 72 giờ. Từ đó xây dựng đồ thị tuyến tính để xác định LD50 của thuốc nghiên cứu. Tiếp tục theo dõi tình trạng chung của chuột đến hết ngày thứ 7 sau khi uống thuốc nghiên cứu.

- Thực nghiệm được tiến hành tại Viện nghiên cứu Tuệ Tĩnh, Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam.

2.3.2. Nghiên cứu trên lâm sàng


2.3.2.1. Thiết kế và chọn mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không đối chứng bằng phương pháp so sánh trước sau. Chọn cỡ mẫu theo phương pháp thuận tiện: chọn tất cả các bệnh nhân đạt đủ tiêu chuẩn vào nhóm nghiên cứu đến khi đủ 55 bệnh nhân.


2.3.3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu


2.3.3.1. Phương pháp đánh giá mức độ rối loạn tiểu tiện theo thang điểm IPSS (Inter national prostate symptom score)

Sử dụng thang điểm IPSS để tính mức điểm IPSS cho tuần thứ nhất và tuần thứ 8 của điều trị. Tổng số điểm là 35. Phân loại mức độ rối loạn tiểu tiện như sau [31]:

Giải thích rõ các triệu chứng và mức độ biểu hiện triệu chứng trong bảng câu hỏi để bệnh nhân xác định chính xác từng mục điểm. Việc đánh giá được tiến hành vào 3 thời điểm: 1- 2 ngày đầu khi mới vào viện, 4 tuần sau điều trị và 1- 2 ngày cuối của tuần thứ 8 điều trị.

Với 7 câu hỏi trên, tổng số điểm là 35 chia thành 3 mức độ đánh giá:

- Rối loạn nhẹ: 1- 7 điểm.

- Rối loạn trung bình: 8 - 19 điểm.

- Rối loạn nặng: 20 - 35 điểm.

2.3.3.2. Phương pháp tính thang điểm về chất lượng cuộc sống (quality of life)

Bảng 2.1. Điểm chất l­­ượng cuộc sống Quality of Life


Số điểm


Nếu phải sống mãi với triệu chứng tiết niệu như­­ hiện nay
ông nghĩ thế nào?

Rất tốt

Tốt

Được

Tạm được

Khó khăn

Khổ sở

Không chịu đ­­ược

0

1

2

3

4

5

6

Cách đánh giá: với 7 mức độ cảm nhận đ­ược cho điểm từ 0 - 6 điểm chất lượng cuộc sống đ­­ược chia ra thành ba mức độ sau:



+ Nhẹ: 1 - 2 điểm

+ Trung bình: 3 - 4 điểm

+ Nặng: 5 - 6 điểm

Điểm chất lượng cuộc sống cũng được tính vào 3 thời điểm: 1 2 ngày đầu khi mới vào viện, 4 tuần sau điều trị và 1 2 ngày cuối của tuần thứ 8 điều trị.



2.3.3.3. Phương pháp thăm khám trực tràng

Qua thăm trực tràng ghi nhận đ­ược:

- Bệnh nhân có đau hay không đau khi thăm khám

- Mật độ tuyến chắc, mềm hay cứng

- Rãnh giữa còn hay mất

- ­ ­Ước l­­ượng kích thư­­ớc TSLTTTL:

+ khoảng 25g, chiếm 1/4 đ­­ường kính lòng trực tràng

+ khoảng 50g, chiếm 1/2 đư­­ờng kính lòng trực tràng

+ khoảng 75g, chiếm 3/4 đ­­ường kính lòng trực tràng

+ khoảng 100g, chiếm hầu hết lòng trực tràng làm cho việc thăm khám đầy đủ TTL rất khó khăn.

Thăm khám trực tràng cũng được tính vào 3 thời điểm: 1 2 ngày đầu khi bệnh nhân vào viện (trước uống thuốc), 4 tuần sau điều trị và 1÷2 ngày cuối của tuần thứ 8 (sau uống thuốc).

2.3.3.4. Đo thể tích nước tiểu tồn dư: R (ml)

Thể tích nước tiểu tồn dư được xác định sau khi bệnh nhân vào viện 1- 2 ngày (trước uống thuốc), sau 4 tuần điều trị và 1- 2 ngày cuối của tuần thứ 8 (sau uống thuốc).

Thể tích nước tiểu tồn dư được xác định bằng phương pháp siêu âm: sau khi bệnh nhân đã đái hết, dùng siêu âm để xác định thể tích nước tiểu tồn dư trong bàng quang (tính bằng ml).

+ Thể tích nước tiểu tồn dư: < 30ml : coi như không có tắc nghẽn.

+ Thể tích nước tiểu tồn dư: 30ml – 50ml: coi như tắc nghẽn nhẹ.

+ Thể tích nước tiểu tồn dư: 50ml – 100ml : tắc nghẽn trung bình.

+ Thể tích nước tiểu tồn dư: > 100ml : tắc nghẽn nặng.



2.3.3.5. Phương pháp đo thể tích và khối lượng tuyến tiền liệt

Thể tích tuyến tiền liệt được xác định bằng máy siêu âm trong 1 2 ngày sau khi vào viện (trước uống thuốc), sau 4 tuần điều trị và 1 2 ngày cuối của tuần thứ 8 (sau khi uống thuốc).

Tính thể tích tuyến tiền liệt theo công thức của Valancien G:

V = H x L x E x 0,523

Trong đó:

- H: Chiều cao tuyến tiền liệt.

- L: Chiều rộng tuyến tiền liệt.

- E: Độ dầy tuyến tiền liệt.

- V: Thể tích tuyến tiền liệt.

- Tính khối lượng của tuyến tiền liệt: 1cm3 tổ chức tuyến tương đương với 1g.

Khối lượng tuyến tiền liệt sau khi siêu âm theo dõi đánh giá theo 4 mức của thể tích TTL khi siêu âm:

+ Mức thể tích TTL: < 25cm3..

+ Mức thể tích TTL: 25 - 3 5cm3

+ Mức thể tích TTL: 35 - 45cm3

+ Mức thể tích TTL: ≥ 45cm3

2.3.3.6. Phương pháp xác định tần số mạch, huyết áp động mạch

- Tần số mạch xác định bằng cách đếm mạch quay ở cổ tay trái trong 1 phút. Đơn vị tính là lần/phút. Trước khi đo bệnh nhân nghỉ ngơi 15 phút.



- Huyết áp động mạch được đo bằng huyết áp kế thủy ngân của Trung Quốc. Đo ở tư thế nằm hoặc ngồi yên tĩnh, trước đo bệnh không được dùng thuốc kích thích hoặc bia rượu, cà phê, bệnh nhân được nghỉ ngơi trước khi đo 15 phút. Đơn vị tính là mmHg.

Tần số mạch, huyết áp động mạch được xác định trước và sau điều trị.



2.3.3.7. Phương pháp xác định các chỉ số huyết học và hóa sinh máu

- Các chỉ số huyết học: Số lượng hồng cầu (G/l), số lượng bạch cầu (T/l) và hàm lượng hemoglobin toàn phần được xác định trên máy Hemacel 311 của hãng Hycel (Pháp). Được xác định trước và sau điều trị.

- Các chỉ số hóa sinh máu:

+ Hoạt độ AST, ALT được xác định theo phương pháp của Reitman- Frankel, đơn vị tính là U/lít (U/l) trên máy Reflotron của hãng Boehringer- Mannheim.

+ Hàm lượng ure, creatinin được xác định theo phương pháp Jaffer, đơn vị tính là mmol/l trên máy Reflotron của hãng Boehringer - Mannheim.

2.3.3.8. Đánh giá theo YHCT

- Đánh giá các triệu chứng tại hệ tiết niệu: đi tiểu ( dễ hay khó, tia nước tiểu yếu hay nhỏ, còn cảm giác tiểu khi vừa tiểu xong, số lần đi tiểu ban ngày và ban đêm), số lần đi tiểu, số lượng nước tiểu, màu nước tiểu ( vàng hay đỏ, trong hay đục), cảm giác khi đi tiểu ( tiểu khó, tiểu không liên tục, tia tiểu nhỏ, cảm giác nóng rát đi tiểu,…)

- Triệu chứng toàn thân: mệt mỏi, sắc mặt xạm, cảm giác sợ lạnh, rêu lưỡi (trắng hay vàng), đặc điểm của mạch.

- Đánh giá các triệu chứng trên trước và sau khi điều trị.


2.3.4. Đánh giá kết quả chung điều trị TSLTTTL theo YHHĐ


Dựa vào 3 tiêu chuẩn: Trong đó thang điểm IPSS và QoL, thể tích nước tiểu tồn dư, thể tích tuyến tiền liệt là những chỉ tiêu quan trọng nhất [73].

+ Thang điểm IPSS và điểm chất lượng cuộc sống (QoL)

+ Thể tích nước tiểu tồn dư

+ Thể tích tuyến tiền liệt

Căn cứ vào 3 tiêu chuẩn trên chúng tôi đánh giá theo 3 mức độ:

1. Mức độ tốt

- Thang điểm IPSS và CLCS (IPSS ≤ 7; QoL ≤ 2).

- Thể tích nước tiểu tồn dư giảm hơn 50% so với trước khi điều trị.

- Thể tích tuyến tiền liệt giảm > 10cm3 so với trước điều trị.



2. Mức độ khá

- Thang điểm IPSS và CLCS giảm một mức độ

- Thể tích nước tiểu tồn dư giảm ≥ 25% - 50% so với trước khi điều trị.

- Thể tích tuyến tiền liệt giảm 5 -10 cm3 so với trước điều trị.



3. Mức độ kém

- Thang điểm IPSS và CLCS biến đổi ít.

- Thể tích nước tiểu tồn dư không thay đổi

- Thể tích tuyến tiền liệt giảm rất ít hoặc không giảm so với trước điều trị.


2.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Nam học bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Thời gian nghiên cứu từ tháng 4/2017 đến 8/2017.

2.5. Phương pháp phân tích số liệu


  • Số liệu định lượng sau khi thu thập được làm sạch, nhập vào máy tính với phần mềm Epi Data 3.1 và được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0 cho các thông tin mô tả và phân tích thống kê .

  • Áp dụng các phương pháp phân tích mô tả: tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn.

  • Các kiểm định như: kiểm định khi bình phương, so sánh giá trị trung bình được sử dụng phù hợp để xem xét các yếu tố liên quan.

2.6. Đạo đức trong nghiên cứu


  • Nghiên cứu tiến hành sau khi có quyết định số 212/QĐ-HVYDHCTVN của Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam và quyết định số 212/QĐ-HV -QLKH của phòng Quản lý khoa học - Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam.

  • Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận tham gia của đối tượng nghiên cứu. Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín. Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác.

  • Nội dung nghiên cứu phù hợp, được Ban giám đốc bệnh viện đồng ý, nhân viên khoa bệnh viện quan tâm, ủng hộ. Khi kết thúc nghiên cứu, kết quả sẽ được phản hồi và báo cáo tới Ban giám đốc bệnh viện, các cán bộ quản khoa phòng cũng như nhân viên y tế tại các khoa tham gia nghiên cứu.



- Tính an toàn của “Linh phụ khang Tuệ Tĩnh” trên thực nghiệm.

- Đánh giá tác dụng điều trị lâm sàng tăng sản lành tính tuyến tiền liệt của “Linh phụ khang Tuệ Tĩnh”.

Sơ đồ 2.1. Mô hình nghiên cứu tổng quát

CHƯƠNG 3



KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả nghiên cứu trên thực nghiệm


Bảng 3.1. Kết quả xác định độc tính cấp của viên nang LPKTT

Lô chuột

Số chuột/lô

(con)

Thể tích uống

(ml/kg trọng lượng)

Liều uống

(gam dược liệu/kg trọng lượng)

Số chuột chết/lô

(%)

Dấu hiệu bất thường

Lô 1

10

30

10

0

không

Lô 2

10

45

15

0

không

Lô 3

10

60

20

0

không

Lô 4

10

75

25

0

không



Nhận xét:

Bảng 3.1 cho thấy sau khi uống thuốc thử LPKTT ở tất cả các lô dùng thuốc chuột nhắt trắng không có hiện tượng gì đặc biệt: ăn uống, vận động bình thường, chuột không bị khó thở, đi ngoài phân khô, không thấy xuất hiện chuột chết trong vòng 72 giờ sau khi được uống thuốc và trong suốt 7 ngày tiếp theo. Lô chuột đã uống đến liều 25g/kg trọng thể chuột tương đương 0,25ml/10g, 3 lần trong 24h dung dịch đậm đặc. Liều 25g/kg là liều tối đa có thể dùng được bằng đường uống để đánh giá độc tính cấp của thuốc thử LPKTT. Vì không có chuột chết nên không xác định được được LD50 của LPKTT trên chuột nhắt trắng qua đường uống theo phương pháp Litchfield- Wilcoxon.

3.2. Kết quả nghiên cứu trên lâm sàng

3.2.1. Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu


3.2.1.1. Phân bố theo nhóm tuổi

Biểu đồ 3.1 Phân bố về tuổi của bệnh nhân nghiên cứu



Nhận xét: Kết quả trên biểu đồ 3.1 cho thấy bệnh nhân TSLTTTL gặp nhiều ở độ tuổi 60 - 70 tuổi (56,36%) và ít nhất là lứa tuổi >70 tuổi (5,45%). Tuổi trung bình của các bệnh nhân TSLTTTL là 66,50  7,40 tuổi (thấp nhất là 42 tuổi và cao nhất là 75 tuổi).

3.2.1.2. Phân bố theo nghề nghiệp

Biểu đồ 3.2 Phân bố về nghề nghiệp của bệnh nhân nghiên cứu



Nhận xét: Qua các kết quả được trình bày trong biểu đồ 3.2 cho thấy số bệnh nhân là viên chức, hưu trí chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 69,09%), tiếp đến là số bệnh nhân có nghề nghiệp buôn bán tự do (chiếm 14,50%).

3.2.1.3. Phân bố theo đặc điểm hôn nhân và hoàn cảnh gia đình

Bảng 3.2. Đặc điểm hôn nhân và hoàn cảnh gia đình



TT

Đặc điểm

n

Tỷ lệ (%)

1

Hôn nhân

1.1

Độc thân

4

7,27

1.2

Có chồng (vợ)

48

87,27

1.3

Goá vợ

3

5,45

2

Hoàn cảnh gia đình

2.1

Sống cùng gia đình

42

76,40

2.2

Sống cùng con cháu

6

10,90

2.3

Sống cô đơn

7

12,70


Nhận xét:

Từ kết quả trình bày trong bảng 3.2 cho thấy: về hôn nhân tỷ lệ hôn nhân chiếm số đông (87,27%). Về hoàn cảnh gia đình: Tỷ lệ sống cùng gia đình chiếm đa số (76,40%).



3.2.1.4. Phân bố theo thời gian mắc bệnh

Biểu đồ 3.3 Phân bố về thời gian mắc bệnh của bệnh nhân nghiên cứu



Nhận xét: Các số liệu trên biểu đồ 3.3 cho thấy thời gian mắc bệnh là 1  3 năm (58,27%); 21,73% bệnh nhân xuất hiện triệu chứng trên 3 năm và 20% số bệnh nhân có xuất hiện triệu chứng dưới 1 năm.

3.2.1.5. Phân bố theo triệu chứng lâm sàng trước điều trị

Bảng 3.3 Triệu chứng lâm sàng của các bệnh nhân TSLTTTL (n= 55)



Lý do đi khám bệnh

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Đi tiểu chưa hết

47

85,45

Đi tiểu nhiều lần

55

100

Tiểu ngắt quãng

47

85,45

Đi tiểu đêm

34

61,80

Đi tiểu yếu

47

85,45

Đi tiểu gấp

32

58,20

Tiểu gắng sức

27

49,10

Nhận xét: Các kết quả trên bảng 3.3 cho thấy các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân TSLTTL chiếm tỷ lệ cao là đi tiểu nhiều lần (100,0%), đi tiểu chưa hết (85,45%), đi tiểu yếu (85,45%), đi tiểu ngắt quãng (85,45%).

3.2.1.6. Phân bố theo bệnh nhân theo thể y học cổ truyền

Biểu đồ 3.4. Phân bố bệnh nhân theo thể bệnh y học cổ truyền



Nhận xét: Các kết quả trên biểu đồ 3.4 cho thấy trong 55 bệnh nhân nghiên cứu số người thuộc thể bệnh thận dương hư, thể thận âm hư chiếm tỷ lệ cao nhất (30,91%), Tỳ khí hư nhược (21,81%), còn thể Can khí uất trệ chiếm tỷ lệ 16,36%.

3.2.1.7. Nồng độ PSA tự do và toàn phần trước điều trị

Bảng 3.4. Nồng độ PSA tự do và PSA toàn phần



Chỉ số thống kê

PSA tự do (ng/ml)

( SD)

PSA toàn phần (ng/ml) ( SD)

Chỉ số thực tế

0,71 0,15

2,3 0,77

Chỉ số bình thường

40 – 49 tuổi

≤  0,65 ng/mL

≤  2,5 ng/mL

50 – 59 tuổi

≤  0,85 ng/mL

≤  3,5 ng/mL

60 - 69 tuổi

≤  1,15 ng/mL

≤  4,5 ng/mL

70 -79 tuổi

≤  1,65 ng/mL

≤  6,5 ng/mL

Nhận xét: Bảng 3.4 cho thấy hàm lượng PSA tự do và toàn phần của các bệnh nhân TSLTTTL nằm trong giới hạn bình thường.

3.2.2. Kết quả điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt của viên nang Linh Phụ Khang Tuệ Tĩnh.


3.2.2.1. Kết quả thay đổi điểm IPSS và thang điểm QoL

Bảng 3.5 Mức độ rối loạn tiểu tiện theo thang điểm IPSS trước và sau 4 tuần, 8 tuần điều trị



Mức độ rối loạn tiểu tiện theo thang điểm IPSS

Trước điều trị (n=55) (1)

Sau 4 tuần điều trị (n= 55) (2)

Sau 8 tuần điều trị (n= 55) (3)

Số
lượng


Tỷ lệ

(%)

Số

lượng

Tỷ lệ

(%)

Số lượng

Tỷ lệ

(%)

Nhẹ

(1- 7 điểm)



3

5,51

11

20,00

14

25,45

Trung bình

(8 - 19 điểm)



13

23,63

27

49,09

29

52,72

Nặng

(20- 35 điểm)



39

70,86

17

30,91

12

21,83

Điểm trung bình IPSS

(  SD)

23,14 ± 3,35

15,23 ± 5,97

11,09 ± 2,67

Độ chênh

(1-2), (1-3)



7,91 ± 2,62

12,05 ± 0,68

P

P(1-2) <0,01

P(1-3) <0,01

Nhận xét: Qua kết quả trên bảng 3.5 sau 4 tuần điều trị điểm IPSS trung bình giảm 23,14 ± 3,35 điểm xuống còn 15,23 ± 5,97 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01. Sau 8 tuần điều trị điểm IPSS trung bình giảm 23,14 ± 3,35 điểm xuống còn 11,09 ± 2,67 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01.

Bảng 3.6. Mức độ cải thiện chất lượng cuộc sống theo thang điểm QoL



Mức độ rối loạn tiểu tiện theo điểm chất lượng cuộc sống (QoL)

Trước điều trị (n=55) (1)

Sau 4 tuần điều trị (n= 55) (2)

Sau 8 tuần điều trị

(n= 55) (3)

Số
lượng


Tỷ lệ

(%)

Số
lượng


Tỷ lệ

(%)

Số
lượng


Tỷ lệ

(%)

Nhẹ

(1- 2 điểm)



3

5,51

31

56,36

31

56,36

Trung bình (3- 4 điểm)

25

45,45

19

34,54

21

38,18

Nặng

(5- 6 điểm)



27

49,04

5

9,09

3

5,51

Điểm trung bình

(  SD)

4,67 ± 3,26

3,05 ± 1,42

2,37 ± 0,45

Độ chênh

(1-2), (1-3)



1,62 ± 1,84

2,30 ± 2,81

P

P(1-2) <0,01

P(1-3) <0,01


Nhận xét: Qua kết quả bảng 3.6 cho thấy các mức độ cải thiện chất lượng cuộc sống theo thang điểm QoL trước và sau 4 tuần điều trị khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Điểm QoL trung bình trước điều trị là 4,67 ± 3,26 điểm, sau 4 tuần điều trị là 3,05 ± 1,42 điểm với độ chênh là 1,62 ± 1,84. Sau 8 tuần điều trị là 2,37 ± 0,45 điểm với độ chênh là 2,30 ± 2,81 có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.

3.2.2.2. Kết quả thay đổi thể tích nước tiểu tồn dư

Bảng 3.7. Thể tích nước tiểu tồn dư của bệnh nhân TSLTTTL


trước và sau 4 tuần, 8 tuần điều trị


Thể tích nước tiểu tồn dư (ml)

Trước điều trị (n= 55) (1)

Sau 4 tuần điều trị (n= 55) (2)

Sau 8 tuần điều trị (n= 55) (3)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

0

0

0

16

29,09

19

34,54

<10ml

11

20,00

14

25,45

14

25,45

10- 40 ml

13

23,63

19

34,54

20

36,36

>40ml

31

56,36

6

10,90

2

3,63

Điểm trung bình nước tiểu tồn dư (  SD)

46,51 ± 10,62

25,34 ± 9,32

19,85 ± 9,06

Độ chênh

(1-2), (1-3)



21,17 ± 1,30

26,66 ± 0,26

P

P(1-2) < 0,01

P(1-3) < 0,01


Nhận xét: Qua kết quả trên bảng 3.7 cho thấy sau 4 tuần điều trị thể tích nước tiểu tồn dư của bệnh nhân TSLTTTL giảm từ 46,51 ± 10,62 ml xuống còn 25,34 ± 9,32 ml với độ chênh là 21,17 ± 1,30 sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01. Sau 8 tuần điều trị thể tích nước tiểu tồn dư của bệnh nhân TSLTTTL giảm từ 46,51 ± 10,62 ml xuống còn 19,85 ± 9,06 ml với độ chênh là 26,66 ± 0,26 sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01.

3.2.2.3. Kết quả thay đổi thể tích tuyến tiền liệt

Bảng 3.8. Thể tích tuyến tiền liệt của bệnh nhân TSLTTTL


trước và sau 4 tuần, 8 tuần điều trị


Thể tích tuyến tiền liệt (cm3)

Trước điều trị

(n= 55) (1)

Sau 4 tuần điều trị (n= 55) (2)

Sau 8 tuần điều trị (n= 55) (3)

Số lượng

Tỷ lệ

(%)

Số lượng

Tỷ lệ

(%)

Số lượng

Tỷ lệ

(%)

< 25 cm3

2

3,63

16

29,09

17

30,90

25 - < 35 cm3

21

38,18

22

40,00

28

50,90

35 - < 45 cm3

14

25,45

11

20,00

7

12,72

≥ 45 cm3

18

32,72

6

9,68

3

5,51

Điểm trung bình thể tích TTL (  SD)

43,69 ± 13,11

31,12 ± 9,80

24,45 ± 6,77

Độ chênh

(1-2), (1-3)



12,57 ± 3,31

19,24 ± 6,34

P

P(1-2) <0,01

P(1-3) <0,01


Nhận xét: Kết quả bảng 3.8 cho thấy qua 4 tuần điều trị, thể tích tuyến tiền liệt của bệnh nhân TSLTTTL giảm 43,69 ± 13,11 cm3 xuống còn 31,12 ± 9,80 cm3 sự thay đổi có ý nghĩa thống kê với < 0,01. Với tỉ lệ ≤ 25cm3 tăng từ 3,63 % lên đến 29,09 %, tỷ lệ nhóm > 45cm3 từ 32,72 % giảm còn 9,68 % sự thay đổi có ý nghĩ thống kê với p< 0,01. Qua 8 tuần điều trị, thể tích tuyến tiền liệt của bệnh nhân TSLTTTL giảm 43,69 ± 13,11cm3 xuống còn 24,45 ± 6,77cm3 sự thay đổi có ý nghĩa thống kê với < 0,01. Với tỉ lệ ≤ 25cm3 tăng từ 3,63 % lên đến 30,90 %, tỷ lệ nhóm > 45cm3 từ 32,72 % giảm còn 5,51 % sự thay đổi có ý nghĩ thống kê với p< 0,01.
3.2.2.4. Kết quả thay đổi mật độ TTL qua thăm khám trực tràng

Bảng 3.9. Mật độ tuyến tiền liệt của bệnh nhân TSLTTTL


trước và sau 4 tuần, 8 tuần điều trị


Mật độ

tuyến tiền liệt

Trước điều trị

(n= 55) (1)

Sau 4 tuần điều trị (n= 55) (2)

Sau 8 tuần điều trị (n= 55) (3)

Số lượng

Tỷ lệ

(%)

Số lượng

Tỷ lệ

(%)

Số lượng

Tỷ lệ

(%)

Mật độ


Chắc

27

49,09

16

29,09

13

23,63

Mềm

28

50,91

39

70,91

42

76,37

P

P(1-2) < 0,01, P(1-3) < 0,01

Rãnh giữa


Còn

32

58,18

29

52,72

28

50,90

Mất

23

41,82

26

47,28

27

9,10

P

P(1-2) > 0,05, P(1-3) < 0,01


Nhận xét: Kết quả bảng 3.9cho thấy qua 4 tuần điều trị, tỉ lệ mật độ chắc giảm từ 49,09% xuống còn 29,09%, mật độ mềm tăng 50,91% lên 70,91% sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01. Qua 8 tuần điều trị, tỉ lệ mật độ chắc giảm từ 49,09% xuống còn 23,63%, mật độ mềm tăng 50,91% lên 76,37% sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01. Sự biến đổi của triệu chứng mất rãnh giữa trước và sau 4 tuần điều trị không có ý nghĩa thống kê v ới p> 0,05. Sự biến đổi của triệu chứng mất rãnh giữa trước và sau 8 tuần điều trị có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.

3.2.2.5. Kết quả nghiên cứu tác dụng điều trị TSLTTTL của LPKTT

Dựa vào các chỉ tiêu: thang điểm IPSS, điểm chất l­ượng cuộc sống, thể tích n­ước tiểu tồn d­ư, thể tích tuyến tiền liệt chúng tôi phân loại kết quả điều trị được thể hiện qua biểu đồ 3.5.


Biểu đồ 3.5. Kết quả điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (n=55).



Nhận xét:

Kết quả biểu đồ 3.5 cho thấy có 47,27 % bệnh nhân đạt kết quả điều trị tốt, 45,45 % đạt kết quả khá, và 7,27 % bệnh nhân đạt kết quả kém.

3.2.3. Kết quả điều trị TSLTTL theo các thể y học cổ truyền


Bảng 3.10. Liên quan kết quả điều trị và thể bệnh YHCT ở bệnh nhân tăng sản lành tính tuyến tiền liệt


Thể bệnh theo Y học cổ truyền

Kết quả điều trị

Tốt

Khá

Kém

n

%

n

%

n

%

Thận dương hư

(n=17) (1)



9

52,94

8

47,06

0

0

Can khí uất trệ (n=9) (2)

4

44,40

4

44,40

1

11,20

Thận âm hư (n=17) (3)

5

29,41

9

47,06

3

17,65

Tỳ khí hư nhược (n=12) (4)

8

66,60

4

33,30

0

0

P

< 0,05

Nhận xét:

Kết quả bảng 3.10 cho thấy tỉ lệ tốt khá kém, của cả 4 nhóm thể bệnh phân loại theo YHCT khác nhau có ý nghĩa thống kê.

Bảng 3.11. Sự thay đổi các triệu chứng sau điều trị so với trước điều trị theo y học cổ truyền thể thận dương hư (n=17)




Triệu chứng tại hệ tiết niệu

Kết quả điều trị

p

Trước điều trị

Sau điều trị

n

%

n

%

Hình thái bệu, sắc xanh xạm

14

82,35

2

11,76

<0,05

Sợ lanh

10

58,82

1

5,88

Chân tay lạnh

9

52,94

0

0

Đau mỏi lưng

13

76,47

2

11,76

Đái vãi, tiểu nhiều lần

16

94,11

2

11,76

Mạch trầm nhược

12

70,58

1

5,88


Nhận xét:

Sau điều trị các triệu chứng của thể thận dương hư đều giảm rõ rệt so với trước điều trị. Sự khác biệt giữa trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Bảng 3.12. Sự thay đổi các triệu chứng sau điều trị so với trước điều trị theo y học cổ truyền thể thận âm hư (n=17)




Triệu chứng tại hệ tiết niệu

Kết quả điều trị

p

Trước điều trị

Sau điều trị

n

%

n

%

Rêu lưỡi vàng dày

13

76,47

2

11,76

<0,05

Đại tiện táo kết

13

76,47

0

0

Tiểu vàng

15

88,23

0

0

Đau mỏi lưng

12

70,58

3

17,64

Đái vãi, tiểu nhiều lần

15

88,23

1

5,88

Mạch tế, sác

14

82,35

1

5,88


Nhận xét:

Sau điều trị các triệu chứng của thể thận âm hư đều giảm rõ rệt so với trước điều trị. Sự khác biệt giữa trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê với p<0,05.



Bảng 3.13. Sự thay đổi các triệu chứng sau điều trị so với trước điều trị theo y học cổ truyền thể can khí uất trệ (n=9)


Triệu chứng tại hệ tiết niệu

Kết quả điều trị

p

Trước điều trị

Sau điều trị

n

%

n

%

Tinh thần uất ức

7

77,77

1

11,11

<0,05


Miệng đắng, họng khô

6

66,66

1

11,11

Rêu lưỡi mỏng, chất lưỡi tím

7

77,77

0

0

Mạch huyền

8

88,88

1

11,11

Đái vãi, tiểu nhiều lần

9

100

1

11,11


Nhận xét:

Sau điều trị các triệu chứng của thể can khí uất trệ đều giảm rõ rệt so với trước điều trị. Sự khác biệt giữa trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Bảng 3.14. Sự thay đổi các triệu chứng sau điều trị so với trước điều trị theo y học cổ truyền thể tỳ khí hư nhược (n=12)



Triệu chứng tại hệ tiết niệu

Kết quả điều trị

p

Trước điều trị

Sau điều trị

n

%

n

%

Người gầy yếu, mệt mỏi

8

66,66

2

16,66

<0,05

Lưỡi nhợt

10

83,33

2

16,66

Rêu trắng

11

91,66

1

8,33

Mạch hoãn

10

83,33

2

16,66

Đái vãi, tiểu nhiều lần

9

75,00

1

8,33


Nhận xét:

Sau điều trị các triệu chứng của thể tỳ khí hư nhược đều giảm rõ rệt so với trước điều trị. Sự khác biệt giữa trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê với p<0,05.


3.2.4. Mối liên quan kết quả điều trị với các yếu tố bệnh nhân TSLTTTL lúc vào viện


Bảng 3.15. Liên quan kết quả điều trị và tuổi.

Kết quả điều trị

Nhóm tuổi < 65

(n=30)

Nhóm tuổi ≥ 65

(n=25)

n

%

n

%

Tốt (1)

17

56,67

9

36,00

Khá (2)

12

40,00

13

52,00

Kém (3)

1

3,33

3

12,00


Nhận xét: Kết quả bảng 3.15 cho thấy trong nhóm <65 tuổi hiệu quả điều trị tốt chiếm tỷ lệ cao nhất (56,67%), nhóm ≥ 65 hiệu quả điều trị ở nhóm khá chiếm tỷ lệ cao nhất (52,00%).

Bảng 3.16. Liên quan kết quả điều trị và thời gian xuất hiện triệu chứng ở bệnh nhân tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (n=55).



Kết quả điều trị

Thời gian xuất hiện triệu chứng (năm)

Nhóm < 3 năm (n=43)

Nhóm ≥ 3 năm (n=12)

n

%

n

%

Tốt (1)

17

39,53

9

75,00

Khá (2)

22

51,16

3

25,00

Kém (3)

4

9,31

0

0

Nhận xét: Kết quả bảng 3.16 cho thấy trong nhóm <3 năm mắc bệnh hiệu quả điều trị khá chiếm tỷ lệ cao nhất (51,16%), nhóm ≥ 3 năm hiệu quả điều trị ở mức tốt chiếm tỷ lệ cao nhất (75,00%).

Bảng 3.17. Liên quan kết quả điều trị và điểm IPSS khi vào viện ở bệnh nhân tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (n=55).



Kết quả

điều trị

Mức độ rối loạn nước tiểu theo thang điểm IPSS

Nhẹ

(n=3)

Trung bình (n=13)

Nặng

(n=39)

n

%

n

%

n

%

Tốt (1)

3

100

10

76,92

13

33,30

Khá (2)




0

3

23,08

22

56,41

Kém (3)

0

0

0

0

4

10,29

Nhận xét: Kết quả bảng 3.17 cho thấy trong nhóm mức độ rối loạn tiểu tiện nhẹ hiệu quả điều trị tốt đạt 100%, mức độ rối loạn tiểu tiện trung bình hiệu quả điều trị tốt cao nhất (76,92%) và mức nặng hiệu quả điều trị khá chiếm tỷ lệ cao nhất (56,41%).

Bảng 3.18. Liên quan kết quả điều trị và thể tích nước tiểu tồn dư khi vào viện ở bệnh nhân phì đại lành tính tuyến tiền liệt (n=55).



Kết quả

điều trị

Thể tích nước tiểu tồn dư khi vào viện (ml)

<10 ml

(n=11)

10 - 40 ml

(n=13)

>40 ml

(n=31)

n

%

n

%

n

%

Tốt (1)

6

54,54

4

30,76

16

51,61

Khá (2)

5

45,46

5

38,48

15

48,39

Kém (3)

0

0

4

30,76

0

0


Nhận xét: Kết quả bảng 3.18 cho thấy trong nhóm thể tích nước tiểu tồn dư <10ml hiệu quả điều trị tốt chiếm tỷ lệ cao nhất 54,54%. Nhóm 10-40ml hiệu quả khá chiếm tỷ lệ cao nhất (38,48%) và nhóm >40 ml hiệu quả tốt chiếm tỷ lệ cao nhất 51,61%.

Bảng 3.19. Liên quan kết quả điều trị và thể tích TTL khi vào viện ở bệnh nhân tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (n=55).



Kết quả điều trị

Thể tích tuyến tiền liệt khi vào viện (cm3)

< 35 cm3

(n=23)

35 – 45 cm3

(n=14)

45 cm3

(n=18)

n

%

n

%

n

%

Tốt (1)

14

60,87

4

28,57

8

44,40

Khá (2)

6

26,09

10

71,43

9

50,00

Kém (3)

3

13,04

0

0

1

5,60


Nhận xét: Kết quả ở bảng 3.19 cho thấy trong nhóm <35 cm3 hiệu quả tốt chiếm tỷ lệ cao nhất 60,87% và nhóm 35 -45 cm3 hiệu quả khá chiếm tỷ lệ cao nhất 71,43%.

3.2.5. Biến đổi một số chỉ tiêu sinh học trước và sau điều trị


Bảng 3.20 Tần số mạch, huyết áp động mạch trước và sau điều trị

Chỉ số

Trước điều trị

( X SD) (n=55)

Sau điều trị

( X SD) (n=55)

p

Tần số mạch (nhịp/phút)

77,23 ± 2,51

78,21 ± 1,39

> 0,05

Huyết áp tâm thu (mmHg)

127,76 ± 5,79

127,15 ± 9,62

Huyết áp tâm trương (mmHg)

81,16 ± 7,78

82,34 ± 1,22


Nhận xét: Kết quả bảng 3.20 cho thấy qua 8 tuần điều trị số mạch, huyết áp động mạch của bệnh nhân TSLTTTL biến đổi không có ý nghĩa thống kê và nằm trong giới hạn sinh lý, p>0,05.

Bảng 3.21. Các chỉ số huyết học trước và sau điều trị



Chỉ số

Trước điều trị

( X SD) (n=55)

Sau điều trị

( X SD) (n=55)

p

Số lượng hồng cầu (T/l)

4,12 ± 0,11

4,31 ± 0,27

> 0,05

Hàm lượng Hb (g/l)

136,13 ± 6,44

137,89 ± 4,59

Hematocrit (l/l)

0,42 ± 0,01

0,42 ± 0,06

Số lượng bạch cầu (G/l)

6,51 ± 2,59

6,68 ± 1,21


Nhận xét: Kết quả bảng 3.21 cho thấy qua 8 tuần điều trị bằng LPKTT các chỉ số lượng hồng cầu, hàm lượng Hb, hematocit, số lượng bạch cầu biến đổi không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Bảng 3.22 Các chỉ số hóa sinh máu trước và sau điều trị



Chỉ số

Trước điều trị

( X SD) (n=55)

Sau điều trị

(XSD) (n=55)

p

Hoạt độ AST (U/l)

27,56 ± 10,1

27,79 ± 8,13

> 0,05

Hoạt độ ALT (U/l)

28,12 ± 11,37

28,96 ± 13,47

Hàm lượng Ure (mmol/l)

5,23 ± 1,33

5,26 ± 1,78

Hàm lượng creatinin (µmol/l)

88,93 ± 3,68

89,12 ± 2,55


Nhận xét: Kết quả bảng 3.22 cho thấy qua 8 tuần điều trị bằng thuốc LPKTT các chỉ số sinh hóa máu biến đổi không có ý nghĩa thống kê và trong giới hạn sinh lý bình thường.

3.2.6. Các tác dụng không mong muốn của Linh phụ khang Tuệ Tĩnh


3.2.6.1. Tác dụng phụ trên hệ thống tiêu hóa

Qua theo dõi 8 tuần điều trị, không thấy có trường hợp bệnh nhân nào có các triệu chứng về tiêu hóa: buồn nôn hoặc nôn, các triệu chứng như đau bụng, rối loạn tiêu hóa.



3.2.6.2. Tác dụng phụ trên hệ thống thần kinh

Qua quá trình uống LPKTT không thấy xuất hiện các triệu chứng như đau đầu, hoa mắt chóng mặt, ù tai, mất ngủ..



3.2.6.3. Tác dụng đối với toàn thân và các dấu hiệu khác

- Trong quá trình dùng thuốc LPKTT đa phần các bệnh đều giảm các triệu chứng rối loạn về tiểu tiện, sinh hoạt hàng ngày được cải thiện hơn, cải thiện về mặt chất lượng cuộc sống. Không có bệnh nhân phàn nàn về LPKTT có ảnh hưởng đến hoạt động tình dục


CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN
Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt là căn bệnh phổ biến ở nam giới và đặc biệt là người cao tuổi. Giai đoạn đầu của bệnh thường chỉ có những rối loạn tiểu tiện và chưa có những biến chứng phức tạp, nên điều trị nội khoa (Y học cổ truyền hoặc Y học hiện đại) vẫn là chủ yếu [57].

Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt theo Y học cổ truyền là do tuổi cao, công năng tạng phủ thất điều, khí huyết âm dương hư tổn ảnh hưởng tới công năng khí hóa của bàng quang và tam tiêu mà sinh ra bệnh. Các yếu tố thuận lợi làm phát bệnh cấp tính phải kể đến là các nguyên nhân nhiễm lạnh, lao động mệt mỏi, ăn uống... Các y văn từ xưa đến nay của YHCT đều quy nạp TSLTTTL trong phạm trù “lâm chứng”, “lung bế môn” [62]. Điều trị nội khoa TSLTTTL theo biện chứng luận trị YHCT gồm 3 nguyên tắc chính [62][61]:

- Ích thận tiêu ứ, nhuyễn kiên tán kết: thận khí hư nhược là đặc trưng cơ bản trong cơ chế bệnh sinh của TSLTTTL. Trên lâm sàng, những trường hợp chỉ thấy thận khí bất túc mà phân hàn nhiệt không rõ ràng thường luận trị theo thận khí hư. Trong trường hợp có triệu chứng âm hư nội nhiệt thì chủ yếu là ích thận tư âm, dương hư nội hàn thì chủ yếu là ích khí ôn dương [61].

- Thanh tam tiêu, khí hoá châu phủ: thận hư đàm ứ giao tắc trở là thực chất của cơ chế bệnh trong TSLTTTL, nhưng tiểu tiện không thông thì thường sinh ra nhiều đoạn trong cơ thể. Ở thượng tiêu phế nhiệt úng thịnh, khí cơ bị bí kết, hoặc chuyển dịch nhiệt xuống dưới, phải thanh phế tiết nhiệt, thông suốt khí cơ, làm cho thuỷ được thông điều xuống dưới (thông điều thủy đạo). Ở trung tiêu, thấp nhiệt ứ kết chức năng phân thanh tiết trọc của tỳ bị mất đi thì phải điều tri chuyển hoá trung tiêu, thanh nhiệt, lợi thấp. Ở hạ tiêu, sự khí hoá của thận và bàng quang không đủ sức việc đóng mở lỗ niệu không thuận lợi thì đồng thời với nguyên tắc điều trị như ích thận hoá ứ, nhuyễn kiên tán kết, còn phải ôn kinh thông khiếu, để giúp cho việc khí hoá, để thông lợi nước tiểu [61].

- Thanh lợi hoá chuyển, chữa theo chứng: Tùy theo chứng trạng nhiệt lâm, thạch lâm, huyết lâm, niệu bí mà điều trị khác nhau. Đối với nhiệt lâm phải thanh nhiệt thông lâm; đối với thạch lâm thì phải điều trị hoá thạch (làm tan sỏi) thông lâm; đối với huyết lâm thì phải lương huyết, chỉ huyết, thông lâm [62].

Đã từ lâu nhiều vị thuốc và bài thuốc đã được ứng dụng điều trị các chứng này nhằm nhuyễn kiên tán kết, lợi niệu thông lâm. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng viên nang Linh phụ khang Tuệ Tĩnh với thành phần chính là các vị thuốc thảo dược có tác dụng nhuyễn kiên tán kết, lợi niệu thông lâm theo quan điểm y học cổ truyền. Đề tài nghiên cứu được thực hiện với hai mục tiêu:



  1. Đánh giá độc tính cấp của viên nang Linh phụ khang Tuệ Tĩnh.

  2. Đánh giá tác dụng của viên nang Linh phụ khang Tuệ Tĩnh trên bệnh nhân tăng sản lành tính tuyến tiền liệt.

Ở chương này chúng tôi tập trung bàn luận các kết quả đạt được trên cơ sở hiểu biết về lý luận YHHĐ và YHCT.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương