Bộ giao thông vận tảI Đề án nghiên cứu CỤc hàng hải việt nam



tải về 1.77 Mb.
trang7/17
Chuyển đổi dữ liệu10.01.2019
Kích1.77 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   17

2.3. DỰ BÁO KHỐI LƯỢNG CHẤT THẢI PHÁT SINH TỪ TÀU


Chất thải từ tàu đến cảng chủ yếu bao gồm chất thải nguy hại, nước thải sinh hoạt và rác thải. Riêng khí thải chủ yếu tập trung ở các khu công nghiệp đóng tàu.

Hiện nay, do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, số liệu thống kê chất thải từ tàu cần được xử lý tại các cảng chưa đầy đủ, nên trong phạm vi báo cáo số liệu này được ước tính trên cơ sở lượt tàu đến cảng và giá trị trung bình khối lượng chất thải cho mỗi lượt tàu. Giá trị trung bình khối lượng chất thải sẽ được ước tính theo từng nhóm tàu (tàu ngoại, tàu nội địa, tàu hàng hay tàu khách).


2.3.1. Chất thải nguy hại


Đối với chất thải từ tàu, chất thải nguy hại được quan tâm chủ yếu ở dạng lỏng như dầu, nước lẫn dầu, hóa chất độc hại, và ở dạng rắn như các loại bao bì, thùng chứa dầu hoặc hóa chất độc hại. Trong báo cáo này, đặc biệt quan tâm đến các loại nước thải lẫn dầu như nước dằn tàu, nước vệ sinh tàu, … và lượng chất thải rắn bị nhiễm dầu như giẻ lau, bao bì, … Nhóm chất thải này thay đổi tùy thuộc vào loại tàu, và hành trình của tàu, ...

2.3.1.1. Nhóm tàu hàng ngoại


Từ chu kỳ sử dụng và xả nước thải lẫn dầu của các loại tàu cho thấy chỉ những tàu xuất ngoại mới có nhu cầu xả nước thải lẫn dầu tại các cảng biển.

Qua thống kê lượng tàu ra vào khu vực cảng biển Hải Phòng, Quảng Ninh, lượng tàu xuất ngoại khoảng 400 lượt tàu/tháng với tổng lượng hàng hoá khoảng 350 000 tấn/tháng.


Bảng a.1 Thống kê lượng nước thải năm 2004 – 2008 cảu Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng

Năm

Lượt chiếc*

Lượng hàng hóa* (tấn)

Lượng nước thải tương ứng* (tấn)

Trung bình/lượt tàu (Tấn)

Trung bình/tấn hàng (Tấn)

Nước rửa két

Nước dằn bẩn

Dầu cặn

Dầu lẫn nước

Tổng cộng

2004

180




150.7

70.0

95.2

542.3

858.2

4.77




2005

197




135.6

65.4

120.8

612.2

934

4.72




2006

289




396.5

134.7

148.4

819.7

1.499.3

5.19




2007

345




425.2

165.3

162.2

955.8

1.708.5

4.95




2008

394

350.000

355

506

256.1

1.156

2.273.1

5.77

0.0065

Nguồn: Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng

Như vậy, căn cứ vào số liệu thống kê có được từ Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng, lượng nước dằn cần thanh thải tại khu vực cảng trung bình dao động trong khoảng 5,0 – 6,0 tấn/lượt tàu, hoặc 0,0065 tấn/tấn hàng hóa.

Trong điều kiện không có đủ số liệu thống kê, các giá trị trên được làm cơ sở để tính toán lượng nước thải lẫn dầu từ tàu mà các cảng cần tiếp nhận.

2.3.1.2. Nhóm tàu hàng nội địa


Với nhóm tàu nội địa, nước thải lẫn dầu chủ yếu là do vệ sinh boong tàu, súc rửa khoang nhiên liệu. Ước tính khối lượng nước thải lẫn dầu này vào khoảng 1,0 - 1,5 tấn/lượt tàu, căn cứ vào thực tế tiếp nhận của một số bến thủy nội địa và tính cho cỡ tàu trung bình.

2.3.1.3. Nhóm tàu khách


Theo tài liệu Cruise Control, The Ocean Conservancy, Dr. Michael Herz, lượng nước thải lẫn dầu phát sinh từ các tàu khách dao động từ 1300 đến 37000 galon/tàu/ngày tùy thuộc vào cỡ tàu và số năm đã sử dụng của tàu. Tuy nhiên, hơn một nữa số lượng này đã được xử lý trên tàu và thanh thải ngoài biển, chỉ còn khoảng 1/3 lượng nước thải cần xả thải tại cảng.

Như vậy, với tàu khách cỡ nhỏ đến vừa, trung bình ước tính khối lượng nước thải lẫn dầu khoảng 3,0 - 3,5 tấn/lượt.


2.3.2. Nước thải sinh hoạt


Nước thải của con người có thể mang vi khuẩn đường ruột, tác nhân gây bệnh, bệnh, virus, trứng ký sinh trùng đường ruột, … có thể ảnh hưởng đến sức khỏe cho con người và sinh vật khi tiếp xúc.

Theo số liệu thống kê, mỗi người trên tàu hàng ngày có thể thải ra tối đa khoảng 30-40 lít nước thải sinh hoạt (Nguồn: Cruise Control, The Ocean Conservancy, Dr. Michael Herz).


2.3.2.1. Nhóm tàu ngoại


Trung bình mỗi chuyến hành hải từ cảng này đến cảng liền tiếp kéo dài khoảng 7 ngày, với đoàn thủy thủ 20 người, lượng nước thải sinh hoạt phát sinh có thể ước tính lên đến 5,6 tấn/lượt tàu. Toàn bộ lượng nước thải sinh hoạt này đều cần xả thải tại cảng.

2.3.2.2. Nhóm tàu nội địa


Theo lý thuyết, với các chuyến tàu nội địa với lượng thủy thủ khoảng 5-10 người, hành hải trong khoảng 7 ngày, lượng nước thải sinh hoạt phát sinh ước tính khoảng 1,0 – 2,0 tấn/lượt tàu. Tuy nhiên, thực tế hiện nay đa phần tàu nội địa chưa có bộ phận trữ lượng nước thải này trên tàu, cho nên phần lớn đều xả dọc theo tuyến hành hải.

2.3.2.3. Tàu khách


Với tàu khách, lượng nước thải sinh hoạt mỗi khách vào khoảng 30-40 lít/khách/ngày. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê từ tài liệu Cruise Control, The Ocean Conservancy, Dr. Michael Herz, chỉ khoảng 25% lượng nước thải sinh hoạt cần xử lý tại cảng, tương đương khoảng 8-10 lít/khách/ngày.

2.3.3. Rác thải sinh hoạt

2.3.3.1. Nhóm tàu hàng ngoại


Chất thải rắn từ tàu chủ yếu là rác thải sinh hoạt của thủy thủ đoàn. Thành phần chính của loại rác thải này là giấy bao gói, nylon, vỏ đồ hộp và nước uống bằng nhựa, kim loại, thủy tinh…

Theo báo cáo của PEMSA (The Professional Emergency Services Association), đối với tàu hàng lượng chất thải rắn khoảng 1,2 - 2kg/người/ngày. Trong đó, chủ yếu bao gồm: rác thủy tinh và vỏ đồ hộp khoảng 0,7 - 1,0kg/người/ngày; rác khô: 0,3 - 0,5kg/người/ngày; rác từ đồ uống: 0,2 - 0,5kg/người/ngày.

Tập quán chung của thủy thủ và người đi biển là quẳng chất thải xuống sông, biển. Bởi vì trong suy nghĩ của họ cho rằng môi trường sông - biển là mênh mông, chúng có thể chứa đựng và nuốt chửng mọi thứ. Suy nghĩ này chính là cản trở lớn nhất cho công tác quản lý chất thải từ tàu thuyền. Ngày nay, thông lệ quốc tế quy định rằng chất thải rắn sinh hoạt của tàu phải được quản lý. Cụ thể: rác thải phải được phân loại sơ bộ; tàu phải được lắp đặt, vận hành lò đốt rác để thiêu hủy một phần rác thải sinh hoạt và các loại rác thải nguy hại phát sinh từ hoạt động của tàu (giẻ lau máy, bùn cặn dầu, …). Khoảng 50% lượng rác thải sinh hoạt được xử lý trên tàu.

Trung bình mỗi chuyến hành hải từ cảng này đến cảng liền tiếp kéo dài khoảng 7 ngày, với đoàn thủy thủ 20 người, lượng chất thải rắn phát sinh cần xử lý tại cảng có thể ước tính đến 120kg/lượt tàu.


2.3.3.2. Nhóm tàu hàng nội địa


Với tàu hàng nội địa, hầu như không lắp đặt hệ thống xử lý rác thải, nên lượng rác thải sinh hoạt cần được xử lý tại cảng khá nhiều, sẽ gây ô nhiễm đáng kể khu vực cảng nếu không được tiếp nhận xử lý.

Lượng rác thải sinh hoạt của tàu nội địa với lượng thủy thủ khoảng 5-10 người, chuyến hành hải kéo dài 7 ngày, ước tính vào khoảng 70 - 140kg/lượt tàu.


2.3.3.3. Nhóm tàu khách


Theo số liệu thống kê từ tài liệu Cruise Control, The Ocean Conservancy, Dr. Michael Herz, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh vào khoảng 2,5kg/người/ngày. Tuy nhiên, cũng theo tài liệu này, đối với tàu biển có trang bị hệ thống xử lý rác thải, thì có đến 75-85% lượng rác thải này có thể được xử lý trên tàu.

Như vậy, ước tính lượng rác thải sinh hoạt cần xử lý tại cảng sau chuyến hành hải 7-10 ngày là 3,5-5,0 kg/khách.


2.3.4. Khí thải


Khí thải từ các phương tiện thủy là sản phẩm cháy của nhiên liệu trong động cơ tàu với thành phần chủ yếu gồm CO2. CO. chất hữu cơ bay hơi (VOCs). SO2, các Oxit nitơ (NOx), bồ hóng (muội than).…

Theo đánh giá của Tổ chức Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP), phương tiện thủy đang xả khí gây ô nhiễm bằng lượng khí thải của một nửa số ô tô đang lưu thông trên toàn cầu. Còn theo Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO), ngành Hàng hải đang thải vào khí quyển lượng khí dioxide carbon (CO2) cao gấp đôi so với ngành Hàng không dân dụng (khoảng 1.2 tỷ tấn/năm).

Hiện chưa có biện pháp xử lý triệt để các chất thải động cơ mà chỉ mới có một số biện pháp giảm thiểu được áp dụng như kiểm soát quá trình cháy của động cơ, sử dụng động cơ tốt (đúng tiêu chuẩn chế tạo), lắp tấm xúc tác khử khí độc trước cửa xả khí thải (nhằm tăng cường quá trình cháy triệt để: CO, VOCs thành CO2; khử NOx thành N2), sử dụng nhiên liệu thân thiện hơn đối với môi trường (Biofuel. nhiên liệu hàm lượng lưu huỳnh thấp).



1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   17


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương