Bộ giao thông vận tảI Đề án nghiên cứu CỤc hàng hải việt nam



tải về 1.77 Mb.
trang6/17
Chuyển đổi dữ liệu10.01.2019
Kích1.77 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17

2.2. TỔNG QUAN CÁC CHẤT THẢI PHÁT SINH TỪ TÀU


Ô nhiễm tại các đại dương trên thế giới gây ra một mối đe dọa đáng kể và được công nhận là một trong những vấn đề môi trường nghiêm trọng hiện nay. Các đại dương được sử dụng như n hững tuyến giao thương, du lịch, giao thông vận tải, và quân sự trên thế giới. Với quá trình phát triển của đội tàu hiện nay, một lượng lớn chất thải đang được tạo ra trên biển. Vấn đề quan trọng và cấp bách hiện nay đối với các nước trên thế giới và các cảng là cung cấp những cơ sở tiếp nhận và xử lý chất thải đầy đủ cho tất cả các loại tàu thường xuyên ra vào cảng.

Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu biển (Công ước Marpol), với sự tham gia của các nước trên thế giới đã điều chỉnh những loại chất thải có thể thải xuống biển và nơi nó có thể được thải ra. Công ước Quốc tế Marpol đã định nghĩa và phân loại chất thải cũng như đặt ra những yêu cầu riêng biệt cho quá trình xử lý mỗi loại. Trong số này, rác thải và chất thải nhiễm dầu là phổ biến nhất và chiếm phần lớn tỷ trọng chất thải.

Chất thải từ tàu bao gồm tất cả các loại chất thải, nước thải, rác thải, chất thải nguy hại, khí thải. Chất thải còn bao gồm các chất thải có chứa dầu và dầu thải từ buồng máy, thùng chứa hàng hóa và chất thải được tạo ra trong quá trình hoạt động của tàu và thuộc phạm vi quy định trong công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu.

2.2.1. Chất thải nguy hại


Theo định nghĩa, các chất thải được phân loại là chất thải nguy hại khi có ít nhất một trong các tính chất sau:

  • Dễ nổ: Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng mà bản thân chúng có thể nổ do kết quả của phản ứng hoá học (tiếp xúc với ngọn lửa, bị va đập hoặc ma sát), tạo ra các loại khí ở nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trường xung quanh.

  • Dễ cháy: Bao gồm:

+ Chất thải lỏng dễ cháy: là các chất lỏng, hỗn hợp chất lỏng hoặc chất lỏng chứa chất rắn hoà tan hoặc lơ lửng có nhiệt độ chớp cháy không quá 550C.

+ Chất thải rắn dễ cháy: là các chất rắn có khả năng sẵn sàng bốc cháy hoặc phát lửa do bị ma sát trong các điều kiện vận chuyển.

+ Chất thải có khả năng tự bốc cháy: là chất rắn hoặc lỏng có thể tự nóng lên trong điều kiện vận chuyển bình thường, hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không khí và có khả năng bắt lửa.


  • Ăn mòn: Các chất thải, thông qua phản ứng hoá học, sẽ gây tổn thương nghiêm trọng các mô sống khi tiếp xúc, hoặc trong trường hợp rò rỉ sẽ phá huỷ các loại vật liệu, hàng hoá và phương tiện vận chuyển. Thông thường đó là các chất hoặc hỗn hợp các chất có tính axit mạnh (pH nhỏ hơn hoặc bằng 2), hoặc kiềm mạnh (pH lớn hơn hoặc bằng 12,5).

  • Oxi hoá: Các chất thải có khả năng nhanh chóng thực hiện phản ứng oxy hoá toả nhiệt mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra hoặc góp phần đốt cháy các chất đó.

  • Gây nhiễm trùng: Các chất thải chứa các vi sinh vật hoặc độc tố được cho là gây bệnh cho con người và động vật.

  • Có độc tính: Bao gồm:

+ Độc tính cấp: Các chất thải có thể gây tử vong, tổn thương nghiêm trọng hoặc có hại cho sức khoẻ qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da.

+ Độc tính từ từ hoặc mãn tính: Các chất thải có thể gây ra các ảnh hưởng từ từ hoặc mãn tính, kể cả gây ung thư, do ăn phải, hít thở phải hoặc ngấm qua da.



  • Có độc tính sinh thái: Các chất thải có thể gây ra các tác hại ngay lập tức hoặc từ từ đối với môi trường, thông qua tích luỹ sinh học và/ hoặc tác hại đến các hệ sinh vật.

Đối với chất thải từ tàu, chất thải nguy hại được quan tâm chủ yếu ở dạng lỏng như dầu, hóa chất độc hại, và ở dạng rắn như các loại bao bì, thùng chứa dầu hoặc hóa chất độc hại, được đề cập chi tiết trong các Phụ lục I, II, III của Marpol.

2.2.2. Nước thải sinh hoạt


Nước thải sinh hoạt là loại nước thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của thuyền viên như tắm giặt, vệ sinh cá nhân hoặc các sinh hoạt khác… Thành phần chính của nước thải sinh hoạt bao gồm 02 loại, đó là nước thải nhiễm bẩn do chất bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh, các khu vệ sinh công cộng… hoặc nước thải nhiễm bẩn do các chất thải sinh hoạt như các cặn bã từ nhà bếp, các chất rửa trôi, các chất thải chất bẩn thải ra từ quá trình sinh hoạt của thuyền viên.

Lượng nước thải này theo quy định là không được thải ra sông khi tàu nằm tại cảng, nhưng do hệ thống thu gom nước thải trên tuyến chưa hoàn thiện cũng như biện pháp kiểm soát việc thải chưa chặt chẽ nên không đảm bảo là chúng không bị thải ra ngoài.

Nước thải sinh hoạt được đề cập chi tiết trong Phụ lục IV của Marpol.

2.2.3. Chất thải rắn sinh hoạt


Chất thải rắn từ tàu chủ yếu là rác thải sinh hoạt của thủy thủ đoàn. Thành phần chính của loại rác thải này là giấy bao gói, nylon, vỏ đồ hộp và nước uống bằng nhựa, kim loại, thủy tinh…

Theo báo cáo của PEMSA (The Professional Emergency Services Association): đối với tàu khách lượng rác thải sinh hoạt khoảng 2,5 kg/người/ngày; còn đối với tàu hàng khoảng 1 – 2kg/người/ngày. Trong đó, chủ yếu bao gồm: rác thủy tinh và vỏ đồ hộp khoảng 0,7 - 1,5kg/người/ngày; rác khô: 0,3 - 0,5kg/người/ngày; rác từ đồ uống: 0,2 - 0,5kg/người/ngày.

Tập quán chung của thủy thủ và người đi biển là quẳng chất thải xuống sông, biển. Bởi vì trong suy nghĩ của họ cho rằng môi trường sông - biển là mênh mông, chúng có thể chứa đựng và nuốt chửng mọi thứ. Suy nghĩ này chính là cản trở lớn nhất cho công tác quản lý chất thải từ tàu thuyền.

Chất thải rắn sinh hoạt (hay còn gọi là rác thải sinh hoạt) được đề cập chi tiết trong Phụ lục V của Marpol.


2.2.4. Khí thải


Khí thải từ các phương tiện thủy là sản phẩm cháy của nhiên liệu trong động cơ tàu với thành phần chủ yếu gồm CO2, CO, chất hữu cơ bay hơi (VOCs), SO2, các Oxit nitơ (NOx), bồ hóng (muội than).…

Theo đánh giá của Tổ chức Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP), phương tiện thủy đang xả khí gây ô nhiễm bằng lượng khí thải của một nửa số ô tô đang lưu thông trên toàn cầu. Còn theo Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO), ngành Hàng hải đang thải vào khí quyển lượng khí dioxide carbon (CO2) cao gấp đôi so với ngành Hàng không dân dụng (khoảng 1.2 tỷ tấn/năm).

Hiện chưa có biện pháp xử lý triệt để các chất thải động cơ mà chỉ mới có một số biện pháp giảm thiểu được áp dụng như kiểm soát quá trình cháy của động cơ, sử dụng động cơ tốt (đúng tiêu chuẩn chế tạo), lắp tấm xúc tác khử khí độc trước cửa xả khí thải (nhằm tăng cường quá trình cháy triệt để: CO, VOCs thành CO2, khử NOx thành N2), sử dụng nhiên liệu thân thiện hơn đối với môi trường (Biofuel, nhiên liệu hàm lượng lưu huỳnh thấp).

Vấn đề về khí thải được đề cập chi tiết trong Phụ lục VI của Marpol




1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương