Bộ giao thông vận tảI Đề án nghiên cứu CỤc hàng hải việt nam



tải về 1.77 Mb.
trang4/17
Chuyển đổi dữ liệu10.01.2019
Kích1.77 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17

1.2. CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ KHÁC VIỆT NAM CÓ THAM GIA


Bên cạnh Công ước Quốc tế Marpol 73/78, Việt Nam còn tham gia một số công ước, hiệp định, nghị định có liên quan đến công tác bảo vệ môi trường biển như sau:

Bảng a.1 Một số Công ước Quốc tế Việt Nam có tham gia 

TT

Tên Công ước

Thời điểm có hiệu lực của Công ước

Ngày ký hoặc gửi văn kiện gia nhập hoặc phê chuẩn lên IMO

Thời điểm có hiệu lực đối với Việt Nam

1

Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển, 1982

1982




23/6/1994

2

Công ước về Tổ chức Hàng hải Quốc tế, 1948 (Sửa đổi năm 1991, 1993)

17/3/1948




1984

3

Nghị định thư năm 1992 của Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với tổn thất ô nhiễm dầu

30/5/1996

17/6/2003

17/6/2004

4

Quy tắc quốc tế về phòng ngừa va chạm trên biển, 1972

15/7/1977

18/12/1990

18/12/1990

5

Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu, 1973 (sửa đổi 1978, Phụ lục I và II)

02/10/1983

29/5/1991

29/8/1991

6

Công ước quốc tế về tìm kiếm và cứu nạn hàng hải, 1979

22/6/1985

16/3/2007

15/04/2007

7

Công ước về ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng hải, 1988

01/3/1992

12/7/2000

10/10/2002

8

Nghị định thư ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng hải đối với các giàn khoan cố định ở thềm lục địa, 1988

01/3/1992

12/7/2002

10/10/2002

9

Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm từ dầu nhiên liệu, 2001

21/11/2008

18/6/2010

18/9/2010

1.3. TÌNH HÌNH GIA NHẬP VÀ THỰC THI CÔNG ƯỚC MARPOL CỦA VIỆT NAM


Việc tham gia và thực thi các điều ước quốc tế liên quan đến BVMTB, an toàn an ninh biển là một trong những giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm biển hiện nay, đồng thời là nhiệm vụ quan trọng của hợp tác quốc tế về BVMTB của Việt Nam.

Các công ước quốc tế ở lĩnh vực này mà Việt Nam đã tham gia như đã nêu ở mục 1.2.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng và đã đạt được những kết quả nhất định trong việc thực hiện các công ước quốc tế về BVMTB nhưng trong lĩnh vực này Việt Nam vẫn còn có những hạn chế nhất định, như công tác tuyên truyền thực hiện một số Công ước còn chậm, hiệu quả thấp. Ví dụ, sau 12 năm gia nhập Công ước MARPOL 73/78, đến cuối năm 2012 Việt Nam mới có một văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực thi một số quy định của Công ước; số lượng cảng biển trang bị hệ thống tiếp nhận nước thải lẫn dầu, cặn dầu từ các tàu như quy định của Công ước còn rất ít. Một số điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam ký kết với các nước trong khu vực chưa thực sự quan tâm đến vấn đề phòng chống ô nhiễm môi trường biển.

Các quy phạm pháp luật về phòng ngừa, xử lý và khắc phục ô nhiễm biển chưa được nâng tầm thành một đạo luật mà chủ yếu là được ban hành dưới dạng các văn bản dưới luật (các thông tư, quy chế do các bộ, ngành ban hành).


1.3.1. Các văn bản, quy phạm pháp luật liên quan đến công ước MARPOL


Luật Bảo vệ môi trường

Luật BVMT 2014 gồm 20 chương và 170 điều, các quy định liên quan đến quản lý chất thải phát sinh cụ thể:



  • Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển và hải đảo (Điều 50)

  • Phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường trên biển và hải đảo (Điều 51)

  • Công tác quản lý chất thải phải được quản lý trong toàn bộ quá trình phát sinh, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy (Điều 85)

  • Đối với việc quản lý chất thải nguy hại bao gồm: lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép chất thải nguy hại và phân loại thu gom, lưu trữ và vận chuyển chất thải nguy hại phải được thực hiện theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ môi trường (Điều 91).

  • Quản lý chất thải rắn thông thường (Điều 95, 96, 97)

  • Việc quản lý nước thải được quy định cụ thể trong Luật BVMT năm 2014 bao gồm quản lý nước thải, thu gom, xử lý nước thải (Điều 99, 100)

Luật Hàng hải Việt Nam

Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005, có một phần quy định về bảo vệ môi trường từ hoạt động của tàu biển.

Cụ thể như:


  • Chương II – Mục 5: An toàn hàng hải, an ninh hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường.

  • Chương IV – Điều 65: An toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường tại cảng biển.

  • Chương XIII – Một số điều liên quan

Một số Luật, Pháp lệnh có liên quan

Ngoài ra, một số đạo luật, pháp lệnh còn quy định cụ thể việc xử lý vi phạm pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Trong số đó, phải kể đến Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Hình sự năm 1999, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002…

Một số đạo luật, pháp lệnh có những nội dung quan trọng liên quan đến vấn đề tài chính trong bảo vệ môi trường cũng có thể kể đến là: Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003; Luật Ngân sách nhà nước năm 2002; Pháp lệnh Thuế tài nguyên, Pháp lệnh Phí và lệ phí…

Các văn bản khác có liên quan

Để thực hiện các Luật, Pháp lệnh kể trên, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành hữu quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn có nội dung quy định về bảo vệ môi trường. Các văn bản này tập trung vào giải quyết các nội dung chính sau: quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Việt Nam; quy định quy trình đánh giá tác động môi trường; quy định về giấy phép môi trường; quy định về thanh tra môi trường; quy định về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; quy định về các thiết chế bảo vệ môi trường (tổ chức, bộ máy, phân công nhiệm vụ giữa các cơ quan bảo vệ môi trường)…



  • Nghị định số 21/2012/NĐ-CP ngày 21/3/2012 về Quản lý cảng biển và luồng hàng hải;

  • Nghị định số 93/2013NĐ-CP ngày 21/6/2011 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải có quy định rõ các vi phạm về bảo vệ môi trường do tàu thuyền gây ra, cụ thể:

    • Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với mỗi hành vi vi phạm sau đây:

      • Không gi nhật ký bơm nước la canh…

      • Không trang bị các thùng chứa, phân loại rác theo quy định…

    • Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với mỗi hành vi vi phạm sau đây:

      • Bơm, xả các loại rác hoặc nước dằn tàu, nước có cặn bẩn từ tàu xuống cầu cảng hoặc vùng nước cảng biển;

      • Cọ rửa hầm hàng hoặc mặt boong gây ô nhiễm môi trường;

      • Tiến hành bơm chuyển nhiên liệu giữa tàu thuyền và phương tiện khác khi chưa được phép của Cảng vụ hàng hải;

      • Không có đủ các trang thiết bị phân ly dầu nước theo quy định hoặc có trang thiết bị nhưng không sử dụng được;

      • Để xảy ra rò rỉ nước thải có lẫn dầu từ trên tàu xuống cầu cảng hoặc vùng nước cảng biển;

      • Không chấp hành một trong những quy trình, quy tắc an toàn kỹ thuật khi tiếp nhận nhiên liệu;

      • Cho tàu thuyền khác cập mạn khi đang trong quá trình tiếp nhận nhiên liệu giữa hai tàu…

  • Thông tư số 50/2012/TT-BGTVT ngày 19/12/2012 quy định về quản lý tiếp nhận và xử lý chất thải lỏng có dầu từ tàu biển tại cảng biển Việt Nam đã được Bộ GTVT phối hợp với Bộ TN&MT; Bộ Tài chính, Bộ Công an và các cơ quan có liên quan xây dựng và được Bộ trưởng Bộ GTVT ban hành. Thông tư gồm 4 Chương, 11 Điều quy định rõ phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng trong hoạt động quản lý tiếp nhận và xử lý chất thải lỏng có dầu từ tàu biển tại cảng biển Việt Nam; các yêu cầu đối với cảng biển; tàu biển; tổ chức, cá nhân trong hoạt động quản lý tiếp nhận và xử lý chất thải lỏng có dầu từ tàu biển; trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong hoạt động quản lý tiếp nhận và xử lý chất thải lỏng có dầu từ tàu biển.

  • Thông tư số 23/2010/TT-BGTVT ngày 25/8/2010 Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia “Quy phạm các hệ thống ngăn ngừa ô nhiễm biển của tàu”;

  • Quyết định số 02/2013/QĐ-TTg Ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu.

1.3.2. Đánh giá tình hình gia nhập, thực thi công ước MARPOL và nghĩa vụ phải trang bị phương tiện tiếp nhận, xử lý chất thải từ tàu.

1.3.2.1. Đánh giá tình hình gia nhập, thực thi công ước MARPOL


Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra, 1973, được sửa đổi bởi Nghị định thư 1978 (MARPOL 73/78) là một trong những công ước chính của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO), bao gồm các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển do tàu gây ra. Hiện Việt Nam đã gia nhập các Phụ lục I, II của Marpol 73/78 từ năm 1991. Kể từ khi gia nhập Phụ lục I, II Công ước MARPOL, Việt Nam đã nâng cao việc khắc phục tình trạng ô nhiễm biển thông qua việc tăng cường công tác kiểm tra nhà nước cảng biển (Port State Control - PSC), xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật (Thông tư số 23/2010/TT-BGTVT ngày 25/8/2010, Thông tư số 50/2012/TT-BGTVT ngày 19/12/2012 của Bộ Giao thông vận tải, Quyết định số 02/2013/QĐ-TTg ngày 14/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ…), xây dựng hệ thống tiếp nhận nước thải lẫn dầu tại các cảng biển, dần tiến tới xây dựng các trung tâm thu gom, xử lý chất thải lỏng lẫn dầu từ tàu biển (theo Quyết định số 855/2011/QĐ-TTg ngày 06/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ).

Theo quy định tại Điều 5 (4) của Công ước MARPOL, không có sự đối xử ưu đãi đối với các tàu treo cờ của quốc gia không phải là thành viên của Công ước khi đến cảng của các quốc gia khác. Chính vì quy định nêu trên, khi các tàu biển Việt Nam đến cảng của các quốc gia đã phê chuẩn các Phụ lục III, IV, V và VI của Công ước Marpol vẫn phải tuân thủ quy định của các Phụ lục này.

Ngoài ra, do Việt Nam chưa gia nhập các Phụ lục III, IV, V và VI nên các Cảng vụ hàng hải của Việt Nam chưa có đủ cơ sở pháp lý để kiểm tra tàu biển nước ngoài khi đến, hoạt động tại các cảng biển Việt Nam theo nội dung quy định tại các Phụ lục này nhằm để đảm bảo các tàu biển nước ngoài không gây ô nhiễm trong lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh đó, với tốc độ phát triển ngày càng nhanh của nền kinh tế, số lượng tàu biển nước ngoài vào, ra các cảng biển Việt Nam ngày một tăng từ đó dẫn tới nguy cơ cao về ô nhiễm môi trường tại vùng biển và vùng nước cảng biển của Việt Nam.

Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề phòng chống ô nhiễm môi trường đã được Đảng, Nhà nước thông qua các nghị quyết của Đảng, quyết định của Thủ tướng chính phủ thể hiện sự cấp bách, thể hiện chiến lược cụ thể trong trước mắt và lâu dài nhằm mục đích phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.

Để đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu của các Phụ lục, Công ước MARPOL thì Việt Nam cần tiến hành các giải pháp sau đây:

- Việt Nam cần có biện pháp đảm bảo thực thi đầy đủ các cam kết theo quy định của các Phụ lục của Công ước MARPOL;

- Việt Nam có trách nhiệm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho việc đánh giá, kiểm tra, kiểm soát đối với các tàu biển phù hợp với các quy định của Công ước MARPOL;

- Đảm bảo cung cấp đầy đủ nguồn lực để thực hiện công tác kiểm tra và chứng nhận tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam, thực hiện điều tra tai nạn, xử lý đầy đủ và kịp thời các trường hợp vi phạm, bao gồm cả việc đào tạo các thanh tra viên thực hiện các công tác kiểm tra nhà nước cảng biển (PSC) và các biện pháp đánh giá, kiểm tra, kiểm soát hệ thống kỹ thuật của tàu;

- Đưa ra và thực thi các biện pháp cần thiết để đảm bảo sự tuân thủ của tàu treo cờ Việt Nam và các tổ chức/pháp nhân hoặc cá nhân Việt Nam liên quan đối với quy định của các Phụ lục;

- Thiết lập và thực hiện qui trình kiểm soát và theo dõi hoạt động của tàu thích hợp để hỗ trợ công tác điều tra tai nạn hàng hải liên quan đến sự cố ô nhiễm một cách nhanh chóng, chính xác;

- Cung cấp các thiết bị tiếp nhận tại các cảng biển và các bến cảng đối với rác thải, thiết bị tiếp nhận các chất làm suy giảm tầng ôzôn tại các cảng/nhà máy sửa chữa tàu, thiết bị tiếp nhận các cặn của hệ thống lọc khí xả đáp ứng nhu cầu sử dụng mà không gây ngừng trệ tàu.

1.3.2.2. Nghĩa vụ phải trang bị phương tiện tiếp nhận


Các Phụ lục của Công ước MARPOL có quy định yêu cầu quốc gia tham gia Công ước MARPOL phải trang bị Phương tiện tiếp nhận, đó là Quy định 38 của Phụ lục I, Quy định 18 của Phụ lục II, Quy định 12 Phụ lục IV, Quy định 7 của Phụ lục V và Quy định 17 của Phụ lục VI, trong đó có quy định “Mỗi thành viên phải cam kết đảm bảo trang bị các thiết bị đủ để thỏa mãn…”. Do đó quốc gia có cảng phải có các biện pháp đảm bảo rằng các quốc gia là thành viên của công ước phải đáp ứng được các quy định của công ước MARPOL, ngoài ra quốc gia có cảng phải chịu trách nhiệm đối với việc đảm bảo rằng phương tiện tisp nhận thích hợp sẵn có cho tàu ra vào thuộc quyền tài phán của mình.

Tuy nhiên, chi phí để trang bị phương tiện tiếp nhận rất cao và sau khi tiếp nhận, quốc gia có cảng tiếp tục phải xử lý chất thải đó. Trong một số trường hợp, nhất là khi chất thải là dầu, phương tiện có thể thu hồi được chi phí bởi có dầu tái sinh. Đối với việc xử lý cặn hóa chất đòi hỏi công nghệ cao hơn, nhiều quốc gia chưa đáp ứng thực hiện đối với Phụ lục II, III của Công ước MARPOL.

Thực thế cho thấy giá thành đầu tư của một số phương tiện tiếp nhận và cơ sở xử lý cho chất thải lỏng rất tốn kém, do vậy nhà nước cần phải tính đến vạch chiến lược đầu tư ở các cấp độ khác nhau: toàn quốc, mỗi vùng, và từng khu vực cảng biển để đầu tư trang bị phương tiện tiếp nhận và cơ sở xử lý.

- Với chất thải có dầu: Tất cả các tàu khi tới cảng nói chung là có nhu cầu đổ dầu cặn và hỗn hợp nước/dầu. Phương tiện di động xem ra thích hợp nhất.

- Với chất thải lỏng độc hại: Yêu cầu sẽ rất giới hạn, được yêu cầu đối với các chất loại A và chỉ đối với chất loại B và C có độ kết dính cao hoặc đông kết (nói chung là khi nhiệt độ vận chuyển không được duy trì). Yêu cầu thường nảy sinh tại các cảng dỡ hàng và xe bồn thường là thích hợp nhất đối với lượng tương đối nhỏ nước hầm hàng phát sinh bởi yêu cầu của Phụ lục II, Công ước MARPOL.

- Với nước cống thải: Đối với nhiều nước trên thế giới, sử dụng xe bồn là biện pháp thích hợp và hiệu quả nhất.

- Với rác thải: Phương tiện sử dụng là ô tô tải thu gom di động hoặc container di động, thông qua loại hình dịch vụ

- Với khí thải: Thông qua loại hình dịch vụ đối với các tàu có nhu cầu sửa chữa các trang thiết bị liên quan đến các trang thiết bị làm lạnh.

Đối với nhiều quốc gia trên thế giới, các quốc gia trang bị đã ủy thác cho công ty tư nhân hoặc bởi cơ sở dịch vụ công cộng. Để đạt được sự phù hợp của các phương tiện, các cảng phải xem xét tới nhu cầu tiếp nhận của các tàu thường ra vào cảng, trong đó các phương tiện do cảng trang bị phải:

- Đáp ứng nhu cầu các tàu thường xuyên ra vào; và

- Được đưa đi xử lý trên bờ đáp ứng được mặt môi trường.

Thực tế hiện nay ở Việt Nam, chưa có hệ thống văn bản pháp luật hoàn chỉnh để hướng dẫn việc thực hiện tiếp nhận và xử lý chất thải từ tàu đáp ứng công ước quốc tế Marpol, và cũng chưa có các chính sách hỗ trợ trang bị phương tiện, thiết bị, công trình để tiếp nhận và xử lý chất thải này. Từ đó dẫn đến sự manh mún trong công tác tiếp nhận và xử lý chất thải từ tàu tại các cảng, gây không ít khó khăn cho việc quản lý và kiểm soát công tác này.




1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương