Bộ giao thông vận tảI Đề án nghiên cứu CỤc hàng hải việt nam



tải về 1.77 Mb.
trang3/17
Chuyển đổi dữ liệu10.01.2019
Kích1.77 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17

0.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU


  • Đánh giá khả năng đáp ứng của các công trình tiếp nhận và xử lý chất thải từ tàu gắn liền với hiện trạng và quy hoạch phát triển cảng biển.

  • Đề xuất các giải pháp để tiếp nhận và xử lý chất thải từ tàu (hiện trạng và quy hoạch đến năm 2020, định hướng đến năm 2030).

  • Đề xuất các giải pháp quản lý thực hiện việc tiếp nhận và xử lý chất thải từ tàu nhằm hỗ trợ, nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác cảng tại Việt Nam.

0.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU


Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập các Phụ lục I, II của Công ước MARPOL từ năm 1991. Tuy nhiên chúng ta chưa phải là quốc gia thành viên của các Phụ lục III, IV, V và VI. Theo quy định của Điều 5 (4) của Marpol 73/78, không có sự đối xử ưu đãi đối với các tàu treo cờ của quốc gia không phải là thành viên của Công ước khi đến cảng của các quốc gia khác. Chính vì quy định nêu trên, tàu biển Việt Nam hoạt động tại nước ngoài vẫn phải tuân thủ các luật quốc tế và các luật quốc gia nơi tàu thuyền tới. Hay nói cách khác, khi neo cập ở các cảng của quốc gia đã tham gia các Phụ lục III, IV, V, VI, thì tàu Việt Nam vẫn phải chịu sự chi phối của các Phụ lục này. Ngược lại, vì Việt Nam chưa tham gia các Phụ lục III, IV, V, VI nên các Cảng vụ Hàng hải Việt Nam lại chưa có đủ cơ sở pháp lý để kiểm tra các tàu nước ngoài đến các cảng Việt Nam tuân thủ theo quy định của các phụ lục này.

Bên cạnh đó, với tốc độ phát triển ngày càng cao của nền kinh tế, số lượng tàu thuyền, bao gồm cả tàu Việt Nam và nước ngoài ra, vào các cảng biển Việt Nam ngày một tăng nên từ đó dẫn tới nguy cơ cao về ô nhiễm môi trường tại vùng biển và vùng nước cảng biển của Việt Nam. Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tại các cảng biển. Tuy nhiên, để thực hiện được công tác này đối với tàu nước ngoài, Việt Nam cần có đầy đủ cơ sở pháp lý, phù hợp với các điều ước quốc tế. Khi gia nhập các Phụ lục III, IV, V, VI của Công ước MARPOL, Việt Nam đương nhiên đáp ứng được đòi hỏi trên, đồng thời bên cạnh đấy phải có trách nhiệm thiết lập các phương tiện tiếp nhận nước thải, rác thải và các chất làm suy giảm tầng ôzôn từ tàu.

Việc tham gia và thực hiện các Điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện khung chính sách, pháp luật nhằm bảo vệ hiệu quả môi trường biển, góp phần thúc đẩy và xây dựng ý thức pháp luật về bảo vệ môi trường biển. Mặt khác, việc tham gia và thực hiện nghiêm túc các điều ước này sẽ khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đây cũng là thế mạnh của Việt Nam để thu hút đầu tư, mở rộng hợp tác quốc tế nhằm phát triển đời sống, kinh tế - xã hội trong nước, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra.

Công tác nghiên cứu, đánh giá hiện trạng, đề xuất quy hoạch và triển khai xây dựng các công trình tiếp nhận và xử lý chất thải từ tàu đáp ứng yêu cầu của Công ước MARPOL và các quy định của pháp luật liên quan được thực hiện với phạm vi nghiên cứu như sau:



  • Về không gian: nghiên cứu cho toàn bộ hệ thống cảng biển Việt Nam (bao gồm 06 nhóm cảng biển), và các doanh nghiệp đóng mới - sửa chữa tàu.

  • Về thời gian: Đề án nghiên cứu quy hoạch đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

0.5. TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN


Đề án được thực hiện từ tháng 6/2014, báo cáo đầu kỳ vào tháng 8/2014, báo cáo giữa kỳ vào tháng 10/2014, báo cáo cuối kỳ vào tháng 12/2014, sau đó hoàn tất và trình Bộ Giao thông vận tải vào tháng 12/2014.

CHƯƠNG 1:GIỚI THIỆU CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ NGĂN NGỪA Ô NHIỄM DẦU TỪ TÀU MARPOL, VÀ CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN

1.1. CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ MARPOL

1.1.1. Sự ra đời của công ước quốc tế MARPOL


Ngành công nghiệp hàng hải gây ra nhiều mối đe dọa ô nhiễm khác nhau đối với môi trường biển. Mối đe dọa đầu tiên được giới hàng hải quốc tế quan tâm đến là ô nhiễm do dầu gây ra.

Năm 1921, tại Anh, đại diện các chủ tàu, ngành công nghiệp dầu mỏ và các cảng vụ đã tổ chức hội nghị đầu tiên về vấn đề ô nhiễm do dầu gây ra và c/ác biện pháp phòng ngừa.

Năm 1926, tại Washington đã tổ chức một hội nghị quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do dầu. Trong hội nghị này đã đưa ra quy định về các vùng biển và bờ biển mà tàu thủy không được phép xả dầu; đồng thời yêu cầu việc trang bị các thiết bị phân ly - lọc nước lẫn dầu buồng máy trên tàu. Tuy nhiên các quy định này không được các đại diện tham gia hội nghị chấp nhận.

Năm 1954, đại diện của 33 quốc gia có tồng dung tích đội tàu trên 100.000 và 10 quan sát viên đã nhóm họp hội nghị về ngăn ngừa ô nhiễm do dầu gây ra và công ước OILPOL 54 đã được thông qua. Công ước bắt đầu có hiệu lực từ ngày 26/07/1958. Các yêu cầu quan trọng nhất của OILPOL 54 là:



  • Quy định các vùng ven biển không được xả dầu, phải cách bờ tối thiểu là 50 hải lý.

  • Quy định trên tàu phải có nhật ký ghi nhận các công việc liên quan đến dầu (nhận dầu hàng, dầu nhiên liệu, trả dầu hàng, thải dầu cặn, nước lẫn dầu....).

Từ khi chính thức được thành lập năm 1959, tổ chức hàng hải quốc tế IMO, nhiệm vụ cập nhật và bổ sung sửa đồi OILPOL 54 đã được giao cho IMO.

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên IMO thực hiện là tiến hành điều tra trên phạm vi toàn thế giới nghiên cứu các biện pháp chống lại ô nhiễm dầu. Từ kết quả của đợt điều tra này, OILPOL 54 đã được sửa đổi nhằm mục đích tăng cường phạm vi áp dụng của Công ước đối với các tàu nhỏ hơn và mở rộng các vùng cấp thải dầu.

Công ước OILPOL 54 cấm tất cả các tàu biển, trừ tàu chở dầu có dung tích nhỏ hơn 150GT và tàu hàng có tổng dung tích nhỏ hơn 400GT, cố ý thải dầu hoặc hỗn hợp lẫn dầu ra các khu vực đặc biệt gọi là “vùng cấm thải”. Nói chung, tất cả các vùng cấm thải là các vùng nằm cách bờ trong phạm vi 50 hải lý. Có một số vùng cấm thải được quy định cách bờ 100 hải lý hoặc hơn nữa như Địa Trung Hài, Vùng Vịnh, Biển Đỏ, bờ biển Australia, Madagasca và một số vùng khác. Công ước yêu cầu các quốc gia tham gia ký kết phải trang bị các phương tiện tiếp nhận dầu cặn hoặc hỗn hợp dầu từ các tàu.

Tháng 11/1969, một lần nữa công ước OILPOL 54 được bổ sung sửa đổi trên quy mô lớn, nội dung chính của các bổ sung sửa đổi này là:



  • Tàu chỉ được phép thải dầu khi đang chạy.

  • Cường độ thải dầu tức thời không được quá 60 lít/hải lý.

  • Hàm lượng dầu trong nước thải ra từ buồng máy không được vượt quá 100mg/lít và phải thải càng xa bờ càng tốt.

  • Giới hạn lượng dầu được phép thải của tàu chở dầu trên chuyến đi chạy dằn là không quá 1/15.000 tổng lượng dầu hàng mà tàu vận chuyển.

  • Cấm thải bất kỳ dầu hay hỗn hợp dầu nào từ khu vực chứa hàng của tàu dầu trong vùng 50 hải lý tính từ bờ gần nhất.

Trong năm 1971, IMO đã phê chuẩn hai bổ sung sửa đổi tiếp theo của công ước. Bổ sung thứ nhất đưa ra yêu cầu về giới hạn bảo vệ đối với vùng Great Barrier Reef do tầm quan trọng khoa học của vùng này. Bổ sung sửa đổi thứ hai quy định giới hạn kích thước của các khoang hàng trên siêu tàu dầu nhằm mục đích giới hạn lượng dầu tràn trong trường hợp xảy ra đâm va hay mắc cạn. Giới hạn lượng dầu tràn thay đổi tùy thuộc vào một số thông số khác nhau như kích thước tàu, việc bố trí các két hàng, tàu có hay không có đáy đôi, bố trí các két nước dằn sạch, v.v...

Năm 1972 thông qua Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển, đến năm 1973 Công ước này đi vào hiệu lực, từ đó có tên MARPOL (Marine Pollution Prevention) 73. Tiếp đó bổ sung một số vấn đề bằng nghị định thư 1978 và đến nay Công ước được gọi là MARPOL.


1.1.2. Nội dung tóm tắt của công ước quốc tế MARPOL


Công ước Marpol là sự kết hợp của hai hiệp định quốc tế là Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra được thông qua năm 1973 và Nghị định thư của Công ước được thông qua năm 1978, hiện nay đã gộp chung thành một văn kiện duy nhất.

Công ước MARPOL bao gồm:



  1. Nghị định thư:

  • Nghị định về việc báo cáo các sự việc liên quan đến thải các chất độc hại do tai nạn, thải các chất các chất độc hại ở dạng bao gói hoặc thải các chất độc hại vượt quá mức độ cho phép.

  • Nghị định về thủ tục trọng tài trong trường hợp xảy ra tranh chấp có liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng công ước (hay còn gọi là nghị định thư trọng tài).

  1. 6 phụ lục (bao gồm các yêu cầu kỹ thuật về ngăn ngừa ô nhiễm do các nguyên nhân khác nhau).
Bảng a.1 Nội dung các phụ lục của Công ước Quốc tế Marpol

Các Phụ lục

Tên gọi

Ngày có hiệu lực

Phụ lục I

Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do dầu

02/10/1983

Phụ lục II

Các quy định về kiểm soát ô nhiễm do chất lỏng độc chở xô

06/04/1987

Phụ lục III

Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do các chất độc hại được chở trong bao hoặc gói

01/07/1992

Phụ lục IV

Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do nước thải của tàu

27/09/2003

Phụ lục V

Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do rác thải của tàu

31/12/1988

Phụ lục VI

Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm không khí do tàu gây ra

19/05/2005

Trong 6 phụ lục trên, 2 phụ lục I và II là bắt buộc đối với tất cả các nước tham gia công ước, còn các phụ lục còn lại là tự nguyện lựa chọn.

Từ ngày ra đời đến nay các phụ lục thường xuyên được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cũng như sự phát triển của đội tàu.



Các bổ sung sửa đổi của Công ước MARPOL:

Từ khi ra đời đến nay, Công ước MARPOL đã có những thay đổi như sau:


Bảng a.2 Những thay đổi của Công ước Quốc tế Marpol

TT

Tên bổ sung sửa đổi

Ngày thông qua

Ngày có hiệu lực

Nội dung chủ yếu

1

Nghị định thư 1978

17/02/1978

02/10/1983




2

Bổ sung sửa đổi 1984

07/09/1984

07/01/1986

Sửa đổi Phụ lục I: Các bổ sung sửa đổi nhằm thực thi có hiệu quả Phụ lục I.

3

Bổ sung sửa đổi 1985 (Phụ lục II)

05/12/1985

06/04/1987

Sửa đổi Phụ lục II: Giảm bớt các yêu cầu đối với phương tiện tiếp nhận chất thải hóa chất và tăng cường hiệu quả của hệ thống vét hàng.

4

Bổ sung sửa đổi 1985 (Nghị định I)

05/12/1985

06/04/1987

Sửa đổi Nghị định I của Công ước: Quy trình báo cáo khi xảy ra việc các chất độc hại ở dạng bao gói.

5

Bổ sung sửa đổi 1987 (Phụ lục I)

01/12/1987

01/04/1989

Sửa đổi Phụ lục I: Vịnh Aden được quy định là vùng đặc biệt.

6

Bổ sung sửa đổi 1989 (Phụ lục II)

17/03/1989

13/10/1990

Sử đổi Phụ lục II: bổ sung sửa đổi danh mục các hóa chất.

7

Bổ sung sửa đổi 1989 (Phụ lục V)

17/10/1989

18/12/1991

Sửa đổi Phụ lục V: biển Bắc được quy định là vùng đặc biệt

8

Bổ sung sửa 1990 (HSSC)

16/03/1990

03/02/2000

Áp dụng hệ thống hài hòa kiểm tra và cấp giấy chứng nhận theo Phụ lục I và II.

9

Bổ sung sửa đổi 1990 (Bộ luật IBC và BCH)

17/03/1990

03/02/2000

Áp dụng hệ thống hài hòa kiểm tra và cấp giấy chứng nhận theo Bộ luật IBC và BCH.

10

Bổ sung sửa đổi 1990 (Phụ lục I và V)

04/07/1991

17/03/1992

Sửa đổi Phụ lục I và V: Biển Nam cực được quy định là vùng đặc biệt.

11

Bổ sung sửa đổi 1991 (Phụ lục I và V)

06/03/1992

04/04/1993

Sửa đổi Phụ lục I: Thêm quy định 26 về SOPEP.

Sửa đổi phụ lục V: vùng Caribe mở rộng được quy định là vùng đặc biệt.



12

Bổ sung sửa đổi 1992 (phụ lục I)

04/07/1991

06/07/1993

Sửa đổi Phụ lục I:

+ Bổ sung sửa đổi liên quan đến việc thải và kiểm soát thải dầu.

+ Yêu cầu kết cấu hai vỏ đối với tàu dầu mới. Loại trừ từng bước tàu dầu vỏ đơn.


13

Bổ sung sửa đổi 1992 (Phụ lục II)

30/10/1992

01/07/1994

Sửa đổi phụ lục II:

+ Bổ sung sửa đổi danh mục các hóa chất.

+ Biển Nam cực quy định là vùng đặc biệt.


14

Bổ sung sửa đổi 1992 (Phụ lục III)

30/10/1992

28/02/1994

Sửa đổi Phụ lục II: bổ sung sửa đổi Bộ luật IMDG.

15

Bổ sung sửa đổi 1994 (Phụ lục I, II, III, IV)

31/11/1994




Sửa đổi Phụ lục II: bổ sung sửa đổi Bộ luật IMDG.

16

Bổ sung sửa đổi 1994 (Phụ lục V)

14/09/1995

03/03/1996

Sửa đổi phụ lục I, II, III và IV: yêu cầu đối với hoạt động kiểm soát của Chính quyền cảng.

17

Bổ sung sửa đổi 1996 (Nghị định I)

10/07/1996




Sửa đổi Phụ lục 5: các hướng dẫn bổ sung đối với kế hoạch quản lý rác.

18

Bổ sung sửa đổi 1997 (Phụ lục I)

25/07/1997

01/02/1999

Sửa đổi Phụ lục I:

+ Vùng biển Tây Bắc châu Âu được quy định là vùng đặc biệt.

+ Yêu cầu bổ sung đối với ổn định tai nạn của tàu dầu hai vỏ.


19

Bổ sung sửa đổi 1997 (Phụ lục I)

25/09/1999

01/02/1999

Sửa đổi phụ lục I:

Sửa đổi quy định 10 (thêm vùng đặc biệt) và thêm quy định 25A về các tiêu chuẩn ổn định nguyên vẹn.



20

Nghị định thư 1997 (Phụ lục VI)

26/09/1997

Chưa có hiệu lực

Đưa Phụ lục VI có liên quan đến ngăn ngừa ô nhiễm do khí thải của tàu vào Công ước.

21

Bổ sung sửa đổi 1999 (Phụ lục I và II)

01/07/1999

01/01/2001

Sửa đổi Phụ lục I:

Sửa đổi quy định 13G, quy định 26, sửa đổi Phụ lục III: thêm quy định 16 về kế hoạch ứng phó ô nhiễm biển do chất lỏng độc chở xô.



22

Bổ sung sửa đổi 2000 (Phụ lục III)

13/03/2000

01/01/2002

Sửa đổi cho Phụ lục III.

23

Bổ sung sửa đổi 2001

27/04/2001

01/09/2002

Phân loại tàu dầu làm 3 hạng, đến 2015 không còn tàu dầu vỏ đơn.

24

Bổ sung sửa đổi 2003 (Phụ lục I)

04/12/2003

04/2005

Sửa lại quy tắc 13G phụ lục I.

25

Sửa đổi 2004 (tháng 4)

01/04/2004

01/08/2005

Sửa lại phụ lục IV, V.

26

Sửa đổi 2004 (tháng 10)

15/10/2004

01/01/2007

Sửa lại phụ lục I, quy tắc 13G, 13H, biển Oman là vùng đặc biệt, Sửa lại Phụ lục II.

1.1.3. Tóm tắt nội dung các Phụ lục


Nội dung phụ lục I

Phụ lục I bao gồm các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do dầu có hiệu lực từ ngày 02/10/1983 (Phụ lục I sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/01/2007).

Phụ lục I bao gồm 07 chương với 39 quy định và 05 phụ chương. Nội dung cơ bản của Phụ lục I bao gồm:


  • Việc xả dầu ra biển bị cấm ở một số khu vực và bị hạn chế ở các khu vực khác.

  • Tàu phải thỏa mãn một số yêu cầu nhất định về kết cấu và trang thiết bị, trên tàu phải có nhật ký dầu.

  • Tàu phải được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận thỏa mãn yêu cầu của Phụ lục I.

  • Các cảng phải có các phương tiện tiếp nhận hỗn hợp dầu hoặc cặn dầu.

Nội dung phụ lục II

Phụ lục II áp dụng cho các tàu chở xô các chất lỏng độc hại.

Chất lỏng độc có nguy cơ làm tổn hại đến môi trường biển được chia làm 4 loại: A, B, C, và D được nêu trong phụ chương II của Phụ lục II.

Phụ lục II cấm xả xuống biển dòng thải có lẫn các chất này, trừ khi tuân thủ các quy định đặc thù cho việc thải mỗi loại chất thải.

Phụ lục II cũng đưa ra các yêu cầu về mặt kết cấu và trang thiết bị đảm bảo kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm do chất lỏng độc chở xô.

Sửa đổi phụ lục II có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 2007 quy định các loại chất lỏng độc chở xô là: X là chất độc hại và cấm thải; Y là chất độc hại và thải hạn chế; Z chất ít độc hại, việc thải ít hạn chế hơn; và các chất khác không gây độc hại thì không thuộc phạm vi áp dụng của phụ lục II.



Nội dung Phụ lục III

Phụ lục III áp dụng cho các tàu chở các chất độc hại dưới dạng bao gói.

Chất độc hại là các chất gây ô nhiễm biển nêu trong Bộ luật quốc tế về chuyên chở hàng nguy hiểm bằng đường biển (Bộ luật IMDG). "Dạng bao gói" tức là bất kỳ phương tiện, thiết bị nào dùng để chứa hàng bao gồm cả các container, các thùng chứa, két di động, các két đặt trên các ô tô, toa xe lửa chở trên tàu.

Phụ lục III cấm vận chuyển các chất độc hại trừ khi tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu đưa ra trong Phụ lục. Các yêu cầu này liên quan đến việc đóng gói, dán nhãn, các hồ sơ cần thiết về hàng, sắp xếp hàng, các hạn chế về lượng hàng và các quy định ngoại lệ liên quan đến an toàn tàu và an toàn sinh mạng trên biển.

Phụ lục III cấm việc thải xuống biển các loại hàng độc hại ở dạng bao gói, trừ khi đó là biện pháp cần thiết để đảm bảo an toàn cho tàu và người trên tàu. Trong trường hợp đó phải thực hiện việc khai báo theo Điều II, Nghị định I của Công ước MARPOL 73/78.

Theo Quy định 2 của Phụ lục III thì bao gói được quy định ở Phụ lục này phải phù hợp với tính chất của hàng chứa trong chúng để đảm bảo hạn chế tới mức thấp nhất nguy hiểm cho môi trường biển.

Bao gói chứa chất độc hại phải được ghi chính xác tên kỹ thuật, khó phai mờ, không được chỉ dùng tên thương mại và phải được đóng mác hoặc dán nhãn chắc chắn để chỉ ra rằng đó là chất gây ô nhiễm biển, hoặc có thể sử dụng cách khác bổ sung cho ký hiệu nêu trên. Phương pháp đóng mác tên kỹ thuật và dán nhãn trên bao gói chứa chất độc hại phải sao cho đảm bảo rằng vẫn có thể nhận biết được thông tin này, cho dù bao gói có thể bị trôi nổi trên biển ít nhất ba tháng. Khi xem xét việc đóng mác hoặc dán nhãn phải lưu ý tới độ bền của vật liệu sử dụng và bề mặt của bao gói.

Trong Phụ lục này, các bao gói hiện tại trống, nhưng trước đó được dùng để vận chuyển chất độc hại, nếu không áp dụng các biện pháp phòng ngừa thích hợp để đảm bảo không sót lại cặn thừa gây nguy hiểm cho môi trường biển thì cũng được coi như là chất độc hại.

Yêu cầu của Phụ lục này không áp dụng đối với kho và thiết bị của tàu.

Nội dung Phụ lục IV

Phụ lục IV nói về Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do nước thải của tàu.

Những quy định của Phụ lục này áp dụng đối với các tàu hoạt động tuyến quốc tế:


  • Tàu mới có tổng dung tích từ 400 GT trở lên;

  • Tàu mới có tổng dung tích nhỏ hơn 400 GT được phép chở trên 15 người;

  • Tàu hiện có có tổng dung tích từ 400 GT trở lên, sau 5 năm kể từ ngày Phụ lục này có hiệu lực; và tàu hiện có có tổng dung tích nhỏ hơn 400 GT, được phép chở trên 15 người, sau 5 năm kể từ ngày Phụ lục này có hiệu lực.

Chính quyền hàng hải phải đảm bảo rằng các tàu hiện có, theo các tiểu mục 1.3 và 1.4 của qui định này, có sống chính được đặt hoặc ở giai đoạn đóng mới tương tự trước ngày 2 tháng 10 năm 1983 phải trang bị, đến mức có thể thực hiện được thiết bị nước thải theo các yêu cầu của qui định 11 của Phụ lục này.

Qui định 11 của Phụ lục này không áp dụng đối với:



  • Thải nước thải từ tàu là cần thiết cho mục đích đảm bảo an toàn cho tàu, người trên tàu hoặc trên biển; hoặc

  • Thải nước thải do hư hỏng tàu hoặc thiết bị trên tàu nếu đã áp dụng tất cả các biện pháp có thể được trước và sau khi xảy ra hư hỏng nhằm thực hiện ngăn ngừa giảm thiểu thải.

Nội dung Phụ lục V

Phụ lục V là Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do rác thải của tàu.

Phụ lục V áp dụng cho tất cả các tàu, gồm cả thuyển buồm, tàu cá và các công trình ngoài khơi. Việc thải rác ra biển bị cấm hoặc bị hạn chế như sau:


  • Cầm thải bất kỳ các loại chất dẻo ra biển, gồm cả lưới đánh cá, dây thừng bằng vật liệu tổng hợp và túi đựng rác bằng nhựa.

  • Các vật liệu kê, chèn lót, và bao gói nổi chỉ được phép thải khi tàu cách bờ trên 25 hải lý. Các thức ăn và các loại rác khác (gồm giấy, thủy tinh, kim loại, giẻ vải, chai lọ, đồ sứ v.v…) không được phép thải cách bờ dưới 12 hải lý trừ khi chúng được mài hoặc nghiền để có thể lọt qua lớp lưới có kích thước mắc lưới không lớn hơn 25mm.

Nội dung Phụ lục VI

Phụ lục VI nêu các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm không khí do tàu gây ra.

Các điều khoản của Phụ lục này áp dụng đối với tất cả các tàu, trừ các trường hợp đặc biệt như nêu trong các qui định 3, 5, 6, 13, 15, 16, 18, 19, 20, 21, 22 và 23 của Phụ lục này.

Phạm vi áp dụng của Phụ lục VI như sau:



  • Tất cả các tàu không phụ thuộc vào năm đóng, vùng hoạt động và kích cỡ tàu;

  • Tất cả các tàu biển có tổng dung tích từ 400 trở lên được đóng vào hoặc sau ngày 19/5/2005 phải được kiểm tra và chứng nhận theo các yêu cầu của Phụ lục VI.

  • Đối với các tàu biển có tổng dung tích từ 400 trở lên được đóng trước ngày 19/5/2009 phải được kiểm tra và chứng nhận không muộn hơn đợt kiểm tra đầu tiên sau ngày 19/5/2005, nhưng trong mọi trường hợp không được muộn hơn 19/5/2008.

  • Đối với các động cơ diesel có công suất lớn hơn 130 kW được lắp trên tàu được đóng vào hoặc sau 01/01/2000 phải được đo kiểm tra lượng phát thải NOX và phải có Giấy chứng nhận quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm không khí của động cơ (EIPP) và theo yêu cầu của Bộ luật tiêu chuẩn kỹ thuật về khí NOX (NOX Technical Code).

Các qui định của Phụ lục này không áp dụng đối với:

  • Bất kỳ phát thải nào cần thiết cho mục đích đảm bảo an toàn cho tàu hoặc sinh mạng con người trên biển; hoặc

  • Bất kỳ phát thải nào là hậu quả do hư hỏng của tàu hoặc thiết bị của tàu:

  • với điều kiện là sau khi xảy ra hư hỏng hoặc phát hiện phát thải, đã thực hiện tất cả các biện pháp ngăn ngừa thích đáng nhằm ngăn ngừa hoặc giảm thiểu phát thải; và

  • trừ khi chủ tàu hoặc thuyền trưởng hành động chủ ý gây ra hư hỏng, hoặc thiếu thận trọng và biết rằng hư hỏng chắc chắn xảy ra.

Hiện nay, Việt Nam đã ban hành Tiêu chuẩn về phát thải động cơ diesel với các mức yêu cầu nghiêm ngặt về độ khói trên các phương tiện (% HSU) ở mức 1 là 85 và mức 2 là 72 (TCVN 6438-98).

Một vấn đề rất rõ là mặc dù có một số quốc gia chưa ký phụ lục VI (Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do không khí của tàu gây ra) nhưng tàu thuyền của họ vẫn chịu chi phối của Phụ lục này khi phương tiện của họ tới các cảng của quốc gia đã phê chuẩn và tham gia Phụ lục VI (ví dụ như Singapore chẳng hạn). Mục đích của Phụ lục VI là kiểm soát phát thải các chất làm suy giảm tầng ô zôn, oxit ni tơ (NOX), ô xít lưu huỳnh (SOX), các chất hữu cơ dễ bay hơi và việc đốt chất thải trên tàu biển. Việc kiểm soát tuân thủ các yêu cầu của Phụ lục VI được tiến hành bởi các chính quyền cảng (Port State Control - PSC) của các nước tham gia đó đối với tàu biển tới cảng của họ.




1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương