ÑAÏI ÑAÏo tam kyø phoå ÑOÄ



tải về 0.96 Mb.
trang1/7
Chuyển đổi dữ liệu26.06.2018
Kích0.96 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7



CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO

TRỔI TIẾNG

CHUÔNG VÀNG





CHUÔNG

ĐỔ

TIẾNG

VANG

GỌI

KHÁCH

TRẦN

AI

MAU

GIÁC

NGỘ

VÀNG

LÒA

ÁNH

TỎ

PHỤC

LINH

THƯỢNG

ĐỨC

PHẢN

HƯỜN

NGUYÊN




Đàn ra Kinh:

Thanh Tịnh Đàn, Tam Thanh Bửu Điện, Nguyệt Thanh Cung, Chiếu Thanh Quang, Thanh Phong và Thanh Liên

Đàn

Lư Bồng Đạo Đức




NGỌC HOÀNG TÂM ẤN KINH

(Thích Nôm)

Thuốc cao tột, Tinh Thần hóa Khí,

Chuyển pháp luân phục thỉ huyền hào;

Gìn không: giữ chặt trí cao,

Hạng trong giây phút, hiện hào quang ra.

Gió thổi ngọn điều hòa Chơn Tức,

Công trăm ngày chầu chực Thiên Tôn;

Mười hai năm đặng xuất hồn,

Thần thông quảng đại Thiên môn ra vào.

Người trí thức đạo cao dễ ngộ,

Kẻ tối mê xiêu đổ khó thành;

Muốn về Thượng Cảnh trời xanh,

Dưỡng nuôi hơi thở lưu thanh khỏe Thần.

Ra vào phải cân phân Rún Mũi,

Sống như không quên buổi, quên giờ;

Cũng như tượng gỗ trơ trơ,

Ngày qua tháng lại, không ngơ, không tình.

Thân thể vẫn: Ngươn Tinh làm chủ,

Hiệp Ngươn Thần Khí tựu nên Tiên;

Chẳng nên: Nói rõ diệu huyền,

Gượng lời nói rõ, thâu “Diên” là Thần.

Thần qua đá, chẳng dừng không đụng,

Thần hay bay thấu phủng Chín trời;

Xuống nước phải rẽ tách khơi,

Vào lửa không nóng, chói ngời Thần quang.

Thần là Rặp Thần hoàn in Rặp,

Tinh nương theo Khí hấp vò tròn;

Chẳng tiêu, chẳng tán, chẳng mòn,

Như Tòng Bá lạnh, cũng còn tươi xanh.

Ba phẩm thuốc nói rành một lẽ,

Nghe chẳng rồi, đâu tẻ ra nhiều;

Tựu thời ắt có, tán tiêu,

Mở thông Bảy Lỗ, thảy đều sáng trưng.

Tợ Nhựt Nguyệt hai vầng phổ chiếu,

Hiệp qui căn một khiếu trường sanh;

Từ chưa trời đất kết thành,

Chuyển luân biến hóa Ngũ Hành, Lục Căn.

Biết thấu rõ mới rằng linh nghiệm,

Chẳng thấu thời ráng kiếm đừng hôn;

Kim Đơn tàng ẩn nơi lòng,

Không xanh, không trắng khó đong, khó lường.

Tụng muôn biến, mới tường nghĩa vụ,

Lý huyền thâm, diệu hữu chớ nghi;

Tụng rồi lòng khá xét suy,

Tâm Kinh Ngọc Đế, trẻ ghi cho thường.

---o0o---



REVISION DES PRÉCIS

de Morale, Psychologie, Logique et

Métaphysique – Supérieure

(Gom có Luân Lý, Tâm Lý, Lý Luận

và Siêu Hình Thượng Học)

---o0o---



LỜI TỰA

THI:

Nhàn trung kiểm điểm bình sanh sự,

Tịnh lý tư lương nhựt sở vi;

Thường bả nhứt tâm hành chánh đạo,

Tự nhiên: Thiên Địa bất tương khuy!

THI BÀI:

…………………………………..

Chuông Vàng: thức lý chúng sanh,

Trổi Tiếng giục thúc, lập thành Ngũ Luân.

Dọn lòng sạch: huân chưng đôi lý,

Phân biệt rành: chánh kỷ hóa nhân;

Sắp theo: huyền bí thiên luân,

Lớp lang rõ rệt, diệt trần khổ tâm.

Định Chơn Thần: gắng tâm vô hữu,

Dụng không không: định chủ Nội Tâm;

Vong Ngã: đâu có lạc lầm,

Nhơn Hình tương đối, Thiên Tâm vô hình.

Truyền đời: rõ thấu Tâm Kinh,

Cao Đài Thượng Học: Siêu hình, chứng Tiên.

Đạo là: Phước đức hữu duyên.

Cao Đài Đại Đạo, Tiên Thiên Hư Vô

Chứng Minh

Chưởng Pháp Vô Vi

Linh Châu Tử

Kỉnh đề, ngày 1 tháng 5 năm 1950



TRỔI TIẾNG CHUÔNG VÀNG

(Chơn Kinh)

---o0o---



THANH TỊNH ĐÀN

Ngày 19 tháng 12 năm 1947

THI:

BẠCH đạo cơ quan buổi nạn tai,

HẠC vâng thánh chỉ, giáng phân bài;

ĐỒNG nghinh Thái Cực, ân từ huệ,

TỬ chí thông truyền, đắc hỷ tai!

Vậy Anh mừng các em chung đàn. Ôi! Thời kỳ rất nên khổ, nhơn dân còn lắm sự đảo huyền, kinh khủng, sớm Tần, chiều Sở, làm cho lỡ cỡ bại thất; nơi ô dã, nhượng địa cùng khâu, lại có lắm màn thay đổi, vạn vật tang thương đó các em. Các em ráng vững lòng cội đức, tịnh tánh tu tâm, thâu cho đặng chơn khí thuần lương vào trong huyền quan khiếu, mới mong qua cơn bão bùng đạn lửa; sẽ có sắp diễn tràn lan đầy khắp chốn thôn quê, thị tứ đó. Ôi! Cảnh tàn điêu khóc sợ vậy! Chỉ còn có một phương tu niệm mà thôi. Và cầu Ơn Trên từ huệ điểm nhuận điển lành ban bố, là hạnh phước đó a các em! Cứ một lòng an tịnh, chớ nên bê trễ mối Đạo Kỳ Ba, nghe!



THI BÀI:

Thời kỳ ân xá phân qua,

Cơ Trời xây chuyển đó mà các em.

Các em hãy dòm xem sau trước,

Theo Đạo Trời vững bước tu hành;

Kẻo mà đoanh lợi mộng danh,

Lợi danh níu kéo hùng anh khó à!

Khuyên các em thấy xa bóng xế,

Sợ gập ghình bỏ phế vị ngôi;

Sao em chẳng nhớ trước hồi?

Trước hồi sơ khởi, mau rồi các em.

Khá nghiêm chỉnh đàn tiền, cung nghinh Thánh Hoàng giá ngự, Anh xin tại ngoại hầu cơ.



Tiếp điển:

THI:

NGỌC lành Cao giá, ráng công tầm,

HOÀNG lập Đài ban lý diệu thâm;

THƯỢNG đạt trời, gìn thượng trí,

ĐẾ ân Tân pháp, để huyền thâm.

Thầy mừng các con yêu quí. Thầy nay giáng điển để tả ra một quyển nhãn đề là: “Trổi Tiếng Chuông Vàng”, lưu lai chỉ rõ cách hườn Ngũ Đức, Tam Thanh qui Nhứt Chơn, được dìu dẫn nguyên nhân Cửu Thập Nhị Ức, mau phản về cựu vị, hầu hưởng thú lạc nhàn, vì các con biết có Trời Đất và Tam Quang cùng là Tinh Đẩu chiếu sáng cõi hư không, đất thì chở che vạn vật; đồng cả an hòa tứ chúng, được chút ái nhơn, đang bị trong vòng khổ cảnh, nên chi Thầy thương trẻ côi cúc nơi miền trần khổ, Thầy mới đến cùng các con, mà ra quyển kinh này, hộ độ các con.



THI BÀI:

Tả Chuông Vàng trổi lên kêu gọi,

Cho nhơn sanh học hỏi lánh thân;

Tịnh an thâu khí hườn thần,

Đặng mà điều hộ, nguyên nhân lánh nàn.

Có con lại chẳng an tâm trí,

Đang muốn tu lại nghĩ cuồng ngông;

Vởn vơ mộng ảo trong lòng,

Tu hoài chẳng thấy, ân hồng bản(g) son.

Do nơi đó Thầy còn chạnh dạ,

Tại con mê Thầy quá lụy tuôn;

Tả kinh Khải ngộ Tiếng Chuông,

Chuông Vàng thức tỉnh, một luồng điển quang.

Vì sanh chúng, mơ màng giấc điệp,

Thầy nhọc lòng, mà hiệp Chư Thần;

Đặng mà Thầy độ nguyên nhân,

Chuông Vàng tỉnh giấc, chúng dân con nhờ.

Thầy ban ơn lành, Thầy thăng.



Tiếp điển:

THI:

Hoằng khai đạo, Việt Nam nhà,

Khuyên thế THÁI gìn một cõi ta;

Dạy rõ BẠCH minh người ở thế,

Vững lòng GIÁNG dạy, chớ lòng Ma.

HỰU:

Lòng Ma khó thoát lưới mây mù,

Dạy chỉ kiếp trần, ráng vững tu;

Giải thoát cơn giông luồng hắc ám,

Mới mong thoát kiếp, đám lờ lu.

BÀI:

Trổi giọng đờn, keo sơn gắn chặt,

Tiếng vang rân, chớ mắc lời thề;

Chuông ngân thức tỉnh mọi bề,

Vàng kêu sanh chúng, mau về Thiên bang.

Cơ Đại Đạo, tràn lan khắp chốn,

Khuyên người đời, chỉnh đốn lo tu;

Ráng mà tập luyện công phu,

Đẹp lòng ác cảm, võng dù đời ôi!

Định thần thoát hóa cựu ngôi trở về.

Vậy nay Lão giáng để đôi lời, về chuyện tả Kinh “Trổi Tiếng Chuông Vàng”, đặng kêu người thức tỉnh một giấc mơ màng, trong cơn hắc hãm, của cảnh đời báo ứng vần xây.

THI:

Lai đáo Tịnh Thanh tả quyển Vàng,

Vui thay, Kinh “Trổi Tiếng Chuông Vàng”;

Lão khuyên người thế đừng lòng chạnh,

Hữu chí cánh thành, vạn sự an.

BÀI:

Phận trò học tập siêng năng,

Định tâm ráng luyện cần phăng cội nguồn.

Ngày đêm vững dạ chớ buồn,

Đến trường Thầy dạy, cội nguồn lễ nghi.

Trò ôi! Chớ khá thầm thì,

Thầy nay kiềm chỉ, trò thì ráng nghe.

Chớ lòng, thối bước e dè,

Thầy khuyên trò ráng mà nghe chơn truyền.

Khuyên chung cả, bình yên tâm dạ,

Tả kinh vàng, chớ khá vội ngờ;

Tiếng Chuông trổi giọng kịp giờ,

Khuyên trong các trẻ, chớ ngơ mơ màng.

THI:

Mơ màng Lão chạnh luống lòng đau,

Chỉ dạy nhơn sanh, hiệp một màu;

Thượng đạt cơ Trời, đừng thối bước,

Mới mong giải thoát chớ lao xao.

HỰU:

Lao xao cơ Đạo khó chung nhà,

Khuyên thế bền lòng, vững bước a;

Dạy rõ người đời, tìm Chánh Đạo,

Chỉ truyền chư đệ, chớ lo xa.

THI BÀI:

Chớ lo xa dần dà làm Quỷ,

Khuyên người đời, cạn nghĩ xét lần;

Gắng mà nương Đạo lần chân,

Lần chân bước ngọc, dò lần người ôi!

Ráng tâm chí phục hồi ngôi vị,

Xét cho cùng ý chí ớ hiền;

Thấy vầy Lão động lòng phiền,

Lão khuyên người thế ráng yên thân nhàn.

Quyển Kinh vàng tràn lan khắp cả,

Cho chúng sanh một lá điển quang;

Gắng theo cơ Đạo Trời ban,

Truyền gieo chơn pháp, cơ quan đó mà!

Chừng nhìn lại cọp đà nhảy rộ,

Ôi! Thôi thôi mèo khó biết bao;

Nhơn sanh hụp lội lao nhao,

Lao nhao lố nhố, ai nào chẳng kinh?

Vậy Lão để đôi câu tâm huyết dạy trong Kinh: “Trổi Tiếng Chuông Vàng”, ngõ hầu kêu gọi nhơn sanh lánh nơi đạn lửa cá ao oán hờn. Nhưng nhìn cơ Đạo đã giáo dụ, gần 20 năm dư lẻ, mà giống dòng Hồng Lạc, chưa có kẻ được tỉnh giấc Nam Kha?

Than ôi! Mảng đeo đai rày đây mai đó, chẳng được hiệp nhứt chung đàng, sẽ phải bị chít nhạn lẻ tẻ kêu sương mà ân hận vậy! Do hai nẻo chia phân chẳng đặng an nhàn thân thế. Lắm kẻ đời còn ham mê muội phần xác thịt, mà bỏ luống tinh thần, chẳng chịu học rõ Duy Tâm tinh thần, xuất quang hầu trở về ngôi vị. Ôi! Cái mối nợ Tứ Ân chưa rồi trọn trả, lại còn gây mãi thêm, thêm ham danh, để luân trầm xây chuyển, nhồi nhào hồn linh. Ớ người đời ôi! Ráng mà tỉnh giấc say mê, hầu bước lần về chỗ hóa cơ, có Ta ra chào đời, là nay Ta đã đặng lớn khôn mà lại có được điểm linh của Trời ban phú, thứ tha trong buổi Đạo mở kỳ ba.

Vậy các trò nghe được “Tiếng Chuông Vàng” trổi tiếng vang rân giục thúc người chí thiện quày đầu, trong buổi loạn ly, đó mới là người tri lý thâm huyền, hãy vững tâm tu luyện, chớ để lòng thối bước, e gặp lối hiểm trở, khó mà thoát qua cơn giông tố, bão bùng rồi phải lặn hụp, chôn vùi dưới đáy cá bộng lau, rồi oan hồn tiếc thầm trong cơn gió đùa hiu hắc vậy vay!



THI BÀI:

Hồng trần hụp lặn chơi vơi,

Sao bằng Tiên cảnh, chứng thời Đại La.

Hồng trần nhiều nỗi ta bà,

Sao bằng Thượng Uyển huỳnh hoa chưng bày.

Hồng trần chẳng tỉnh giấc say,

Sao bằng Đông Phủ ngày ngày vui chơi.

Hồng trần hụp lặn chơi vơi,

Sao bằng Cung Điện chiều mơi ánh lòa.

Hồng trần nhiều nỗi thiết tha,

Sao bằng Khứu Lãnh, âu ca thái bình.

Hồng trần nhiều nỗi linh đinh,

Sao bằng tu luyện, hóa hình thảnh thơi.

Hồng trần quến dặn mấy lời,

Sao bằng Ngọc Khuyết, đời đời thiên nhiên.

Hồng trần mê đắm bạc tiền,

Sao bằng Tiên cảnh ở miền Thiên Cung.

Hồng trần đủ chuyện kiết hung,

Trần ai lắm khổ, vẫy vùng luyện tu.

Đắc thành hưởng thú ngàn thu,

Năm hồ, bốn biển, nhàn du Ngươn Thần.

Ai ôi! Rõ thấu mực cân,

Trở về cựu vị lãnh phần chơn tu.

Người đời phải ráng công phu,

Làm Tiên, chứng Phật, ngàn thu danh hiền.

Thôi thôi! Lẳng lặng tịnh yên,

Tiếp nghinh Lão Mẫu, cung Tiên Lão hồi.

Tiếp điển:

THI:

TÂY đạo khuyên người cảnh thế gian,

VƯƠNG gia xuất nhập hiệp chung đàn;

MẪU Nghi giáng dạy, dìu sanh chúng,

LAI động đàn nay, trổi tiếng vàng.

Mẹ mừng các con! Các con khá bình tâm, tọa thoàn nghe Mẹ dạy đây:



THI BÀI:

Chuông trổi tiếng giác mê người tỉnh,

Gắng hòa nhau đãi lịnh Thiên ân;

Than ôi! Lắm lúc phân vân,

Kẻ còn người mất, muôn phần ai bi.

Tu tin tưởng từ bi giải khổ,

Ở cảnh trần là chỗ trược ô;

Thầm thương Mẹ rưới cam lồ,

Cam lồ Mẹ rưới, con côi phục hồi.

Hạ Ngươn thấy, than ôi! Hình bóng,

Nguyệt xế tàn, lồng lộng băn khoăn;

Than ôi! Chung đảnh lăng nhăng,

Mà con vẫn cứ, theo lằn trược nhơ!

Các con ôi! Đạo đã hoằng khai quá mấy thu dư thừa đó. Xuân kia tàn, đã ló bạch huỳnh, hai nước tuôn nhau, lắm phải đành cả hài thi tan rã đó, các con tự ỷ mình tài, mới bỏ phế đường tu, nên nỗi nay đành cam vào trong hang lửa! Than ôi! Con khờ!



THI BÀI:

Mẹ ngự bút chứng phê kinh báu,

Truyền về sau luyện tháo chỉ troàn;

Các con khá hiệp nhứt đoàn,

Nhứt đoàn con ở, bửu quang Mẹ hồi. Thăng

THANH TỊNH ĐÀN

Tý thời, ngày 21 tháng 12 năm 1947

THI:

Tiếng Chuông QUAN cảnh, đến hôm nay,

Trổi giọng THÁNH Quân, tỏ sự bày;

Thức tỉnh ĐẾ lai, Thanh Tịnh cảnh,

Kêu người QUÂN tử, bỏ mê say.

BÀI:

Thấy quân tử, Chuông Vàng kêu gọi,

Hiếu mẹ cha, học hỏi người tu;

Tập nên chữ Hiếu công phu,

Hiếu cùng phụ mẫu, ngàn thu trọn bề.

Hiếu quân tử, chớ xê nghĩa trọng,

Hiếu hữu Sư, chớ lỏng đừng lơi;

Hiếu là tánh đức của Trời,

Hiếu nhơn Thuấn Đế, tiếng đời còn khen.

Nghĩa tử trọng, thờ ơn cha mẹ,

Nghĩa đừng phai, cấu xé đệ huynh;

Nghĩa là tính tịnh chơn tình,

Nghĩa là thương tưởng tiếng linh Chuông Vàng.

Trung là phải ôn hàn trọn kính,

Trung dẹp tà, thức tỉnh người mê;

Trung thần chánh trực lời thề,

Trung không đổi chí, Thiên Đê quyết về.

Tín là thật, không chê chẳng phụ,

Tín có Trời là trụ chở che;

Tín là tin cả bạn bè,

Tín là đức tín, vị quê bươn về.

Lễ là kính ông bà cô bác,

Lễ khiêm cung, âm nhạc du dương;

Lễ để tuân luật miếu đường,

Lễ là trật tự, kính nhường cung, thưa.

Tử nghĩa vụ, sớm trưa thăm viếng,

Tử đừng lòng thất tiếng nghiêng chinh;

Tử lo báo đức sân trình,

Tử nghe trổi tiếng, tinh linh song đàng.

Phụ kiểu mẫu, làm đàng mực thước,

Phụ ráng công níu bước Đạo Trời;

Phụ hòa, con chẳng rã rời,

Phụ mau thức tỉnh, giúp đời sanh linh.

Phụ ráng gắng trọn mình chớ nại,

Phụ lập nên chuyện phải Đạo nhà;

Mẫu Nghi sanh đẻ con ra,

Mẫu truyền dạy dỗ, nào là mỗi con.

Mẫu chẳng có hao mòn tấc dạ,

Mẫu dạy con chẳng khá tâm lơi;

Mẫu đừng buông vọng nhũng đời,

Mẫu thương con trẻ, dạy lời phải nên.

Trông con lớn, dẫn lên trường học,

Trông cho con đúng vóc nam nhi;

Trông cho con trẻ đứng, đi,

Biết đi, biết nói, lễ nghi vững vàng.

Đến khôn lớn, mẹ càng mừng rỡ,

Chỉ cho con, sách vỡ ôn nhuần;

Gặp cơn chẳng biết ngó chừng,

Ngó chừng con trẻ, bâng khuâng lòng này.

Con đứa lớn, đi Tây đi Bắc,

Mẹ ở nhà, hằng nhắc trông chừng;

Trông chờ con trẻ, bâng khuâng,

Bâng khuâng lòng Mẹ, tưởng chưng con về.

Con học đặng, danh bia tạc để,

Mẹ lại mừng, chẳng kể thân này;

Dạy con học hỏi đó đây,

Trông cho con lớn, trở xây nên người.

Làm con phải biết hổ ngươi,

Học sao khỏi dốt, khỏi cười đó con!

Con đứa lớn, thì còn non vóc,

Đứa nhỏ đây, lại học nên thành;

Nên thành mà chẳng nên danh,

Đi Nam, đi Bắc em anh rã rời.

Mẹ lại nhớ mấy lời con nói,

Con nói lên, chưa gọi, lại cười;

Mẹ nay thấy trẻ tốt tươi,

Lại thêm xinh đẹp, lại cười van rân.

Mừng con trẻ, dời lần đi đặng,

Thương con nay lòng chẳng tật chi;

Sợ con học thói vô nghì,

Vái cho con trọn, đàng đi vào Thầy.

Chuông Trổi Tiếng Đông Tây khá nhớ,

Hầu cứu người, vội trở về Tiên.

THI:

Hiếu nghĩa ráng tâm, đến buổi này,

Hiếu vầy mới hiếu, trẻ thơ ngây;

Hiếu sao phụ tử đừng chia lợt,

Hiếu thiệt con nhà, hiếu tử đây.

HỰU:

Tử nhớ tử ôi! Ráng hiếu đi,

Tử sao cho biết phép khuôn nghì;

Tử con chớ có tuồng tham lạm,

Tử nọ con cha biết kính vì.

HỰU:

Phụ Cha còn nhớ, đó nghe con,

Phụ chạy cho con, lòng héo von;

Phụ triếu quản chi là khổ cực,

Phụ vì thương trẻ, đó là con.

Vậy Lão giáng dạy đôi câu: “Trổi Tiếng Chuông Vàng”, thức tỉnh, kêu gọi sanh linh an tịnh, hầu có lánh nơi bể khổ. Thăng



THANH TỊNH ĐÀN

Ngày 23 tháng 12 năm 1947

THI:

Tiếp lịnh BẠCH truyền mới đạo cao,

Cơ quan HẠC chiếu, khổ lao xao;

Tịnh Thanh ĐỒNG lịnh, vưng Thiên Mạng,

Cơ chuyển TỬ an, gắng luyện trau.

Tiểu Thánh mừng các em, khá nghiêm chỉnh, cung nghinh Thánh Giá, Anh xin xuất cơ, ứng hầu ngoại đàn. Thăng



Tiếp điển:

THI:

NGỌC chuyển kêu con phấn chí hùng,

HOÀNG thiên dĩ định đạo huỳnh trung;

THƯỢNG ân trông trẻ nơi Thanh Tịnh,

ĐẾ khuyết lộ minh tại Nguyệt Cung.

GIÁNG dạy luyện phanh, trò phục tánh,

THANH quang chiếu diệu, trẻ ung dung,

TỊNH tâm lặng lẽ trăng soi hiện,

ĐÀN chiếu khắp nơi, nhứt hiệp tùng.

Khả Văn:

Kinh trổi tiếng, dịu âm độ trẻ,

Vàng reo rân, Thầy hé con về.

THI:

Trổi giọng thanh cao mới thiệt là,

Tiếng reo khắp chốn cõi gần xa;

Chuông ngân thức tỉnh bầy sanh chúng,

Vàng rạng bốn phương thoát ái hà.

Các con mau nghinh giá, có Như Lai lâm trần chứng Kinh. Thầy ban ơn lành cho các con. Thầy thăng



Tiếp điển:

THÁN:

Để gót mây xanh ngũ sắc, Đảnh thượng chiếu hào quang,

Nước xưng vô sắc, hiệu Đông phang;

Đồng tịnh thoàn, niệm chú các hàng,

Thương xót cả trần hoàn, chạnh lòng than!

Rảy nhành dương liễu, bao nhiêu tánh tục, cả thảy tiêu tan!

Mùi hương xung thấu gặp điển quang, giáng chứng Kinh Vàng.

Đức Di Lặc Thế Tôn tuyên quang Long Hoa Đại Hội bửu quang.

Bấy lâu vắng giáng đàn, nay lâm trần chứng Kinh Trổi Tiếng Chuông Vàng, của Đại Đức Ngọc Hoàng ân ban.

Thiên hạ thảy hết lầm than, cứu độ nguyên nhân an nhàn.

Vui thay cho đời hạnh phúc, giúp người tu cả thế gian.

Đẹp huy hoàng! Ngọc chiếu Sắc Huỳnh Quang!



THI:

Trổi gót sen vàng, đến Tịnh Thanh,

Như Lai Bồ Tát, nhuận ân lành;

Chuông Vàng Trổi Tiếng, minh chơn lý,

Ngũ Đức, Ngũ Ngươn, Ngũ Khí rành.

HỰU:

Ngũ Thường: Tu sao nhơn nghĩa đặng vuông tròn,

Tu giữ lễ cung đạo đức còn;

Tu vẹn tín trung đừng phản phúc,

Tu hòa trí thức đỏ dường son.



HỰU:

Ngũ Đức: Tánh bổn thiện tâm ái vạn loài,

Tánh minh chơn lý có Cao Đài;

Tánh an dứt rối thăng Tiên cảnh,

Tánh hóa dân sanh thoát nạn tai.



HỰU:

Ngũ Ngươn: Luyện thành tam bửu xuất thành quang,

Luyện hóa minh châu Khôn phản Càn;

Luyện đặng pháp thân xưng hiếu tử,

Luyện hồn chế phách sắc Cao ban.



HỰU:

Ngũ Trược: Mạng lý nơi ta, biết phép thâm,

Mạng căn máy nhiệm chuyển do tâm;

Mạng đừng để trược sao nên Đạo,

Mạng nộ, sân, si, hỉ, khí âm.



HỰU:

Ngũ Khí: Khí âm còn bợn khó nên Tiên,

Khí hỏa làm cho mất tánh hiền,

Khí trược vô minh nan nhập Thánh,

Khí hòa thiện đức tọa Hồng Liên.



Khả Văn:

Bất khả mê tâm, nan thoát tục,

Tùy ân ngộ tánh, vị chơn tâm.

KỆ:

Lời khuyên chung với các trò,

Bần hồi Nam Hải, ráng lo tịnh hành.

Luyện thành bửu ngọc lưu danh,

Trò an thâu liễm khí thanh mới tròn.

Ngàn năm chánh tín là con,

Cao Đài lưu sử, bảng son tên đề.

Khuyên trò tự giác, bất mê,

Vi thiên tối lạc, nào hề có sai.

Chuông Vàng Trổi Tiếng ngân dài,

Du dương khách Đạo, tưởng hoài âm thinh.

Chung đàn nam nữ Đạo Huỳnh,

Bản danh Thầy chấm “Tịnh Thanh” ban truyền.

Thăng


TAM THANH BỬU ĐIỆN

Cao Minh Quang

Ngày 3 tháng 3 Canh Dần (1950)

Tiếp Đàn Khai Kinh

THI:

HUỲNH đình khuya sớm độ đời an,

ĐỨC tánh điển linh, chỉnh báo đàn;

ĐẾ xạ đẩu tinh, phò quấc tuấn,

QUÂN an thời cuộc, đức song toàn.

Ông mừng các cháu! Giờ nay, Ông đắc lịnh giáng đàn, để giao phận sự. Sự sắp đặt theo Tiên Đàn, về phần Sanh lãnh lấy phận sự, mà sắp theo thứ tự. Các Hiền, Thánh Sắc lưỡng phái đồng vọng cầu và đại định hầu cơ nghinh lễ Đức Chưởng Giáo ban truyền kinh báu, tiếp điển nơi Tiên Đàn (Thanh Tịnh Đàn), Trổi Tiếng Chuông Vàng của Thọ lãnh phận sự buổi trước, vì sự đời xô xát mà làm ngưng, nay Thiên ý định sắp ban hành diễn tiếp.

Còn phận sự Hiệp Thiên Đài, Tuế Tinh ráng lo an dưỡng mà hành phận sự, tuy Tam Thanh là gò cô mạc trấp, nay kém vẻ Thanh Tịnh. Những sự lập Đàn Kinh chẳng tiện, về lối rạc rào khua động, khó tiếp điển tiên thiên. Vậy phận sự Tuế Tinh an dưỡng cho lắm nghe! Hầu có chấp bút trọn văn khỏi bề trở ngại, về sự thiết lập đàn cơ nghe.

Thôi! Các cháu khá thành tâm, tiếp các vị Thiêng Liêng giáng tiếp Kinh, có Ông hộ cơ. Thăng



Tiếp điển:

Than ôi! Vận nước đảo điên con người xô xát, Trời Nam cám cảnh loài vật điêu tàn. Bởi thế, nên lắm lúc nhuộm rưới hạt mưa chang, đà lắm vặp lửa than vùi tắt, cùng ban võ lộ triêm ân ôn [ổn] thỏa. Ôi! Vì thương lòng mà người lại phụ lòng, rất thương thay! Nhơn loại lăn xăn, nên nhỏ giọt sương trong gội ân hồng người đạo hạnh, cứu vãn vạn loài trong vòng thảm đượm. Ôi! Cuộc thế cứ mãi tai ương. Hồn vẫn mộng hồn, mê hơn vãn kiếp, nên nay vương lấy bởi tai ương.

Bởi tai ương,

Khai giảng đường;

Cứu tai ương.

Cứu tai ương, dặm trường ráng bước,

Nghe Tiếng Chuông, con được thoát qua;

Thoát qua cho khỏi ái hà,



Chuông Vàng Trổi Tiếng, ái tha gọi hồn.

Hồn hỡi hồn,

Thu hạ dồn;

Khá bảo tồn.

Khá bảo tồn, nhu ôn chánh đạo,

Nghe Chuông Vàng, chớ tạo thêm nguy;

Sớm khuya ráng tịnh tu trì,

Định tâm ẩn nhẫn, vô vi được nhờ.

Duy được nhờ,

Phăng mối tơ;

Rõ Thiên cơ.

Rõ Thiên cơ, làm ngơ sự thế,

Thấu cuộc cờ, diêm mễ đều tiêu;

Thấy dân ruột thắt chín chìu,



Chuông Vàng Trổi Tiếng, Thái chiêu Bạch huỳnh.

Lão nay thừa sắc tiếp Kinh,



Trổi Tiếng Chuông Vàng, thức tỉnh chúng sanh.

Thần Tiên vùa giúp mới thành,

Đồng vưng sắc chỉ Tam Thanh tiếp truyền.

Các trò tâm định khẩn nguyền,

Cầu cho Kinh sáng, ký biên ơn Trời. Thăng



  1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương